tin & thư | chuyên đề | tác phẩm mới | tác phẩm của tháng | đối thoại | tác giả | gửi bài | góp ý |
sinh hoạt
đối thoại
xyz
Hai bài thơ Rimbaud dịch ra tiếng Việt  [đối thoại]

 

Vừa qua người đọc “online” có dịp đọc hai bài thơ “Voyelles”“Le Bateau Ivre” của Arthur Rimbaud (1854-1891) được ông Huỳnh Phan Anh dịch ra tiếng Việt trên damau.org (http://damau.org/archives/18433). Rất tiếc là bản dịch tiếng Việt này không giúp độc giả thấy được tại sao hai bài thơ đó lại nổi tiếng là tuyệt tác cũng như tại sao tác giả của nó lại được ca ngợi là thiên tài thi ca (không chỉ của Pháp mà của cả thế giới).

Dịch giả đã cố công gò cho phần lớn số câu thành những khổ bốn câu tám chữ (để “gợi lại” các khổ bốn câu, có vần của nguyên tác chăng?), song lại bỏ qua nhiều từ không dịch (hoặc có dịch cũng không tôn trọng nghĩa), và quan trọng hơn cả là rốt cuộc cũng không bảo toàn được vẻ đẹp tân kỳ và mạnh mẽ của cả ngôn ngữ lẫn ý tưởng của tác giả.

Đọc một bản dịch như vậy, người ta khó mà lưu ý, nói chi đến yêu mến thơ Rimbaud? Người đọc có thể còn nhớ báo VĂN (Saigon) số 1 tháng 7/1974 đã từng đăng bản dịch ra tiếng Việt cũng từ hai bài thơ đó, người dịch là Lê Huy Oanh. Đành rằng dịch giả Lê Huy Oanh đã chấp nhận hy sinh hẳn hình thức (“cước vận” lẫn “số chữ / trọng âm trong câu”), để chuyển nguyên tác thành hai bài thơ “xuôi”, song ông đã tôn trọng, không “dám” bỏ đi “chữ” nào trong nguyên tác, đồng thời cũng dụng công để ngôn ngữ bản tiếng Việt thật sang trọng và gợi cảm, nhờ đó, người đọc vẫn có thể cảm nhận được phần nào vẻ đẹp và sức mạnh của chữ dùng cùng ý nghĩa chúng trong thơ Rimbaud.

Hai bài dịch của Lê Huy Oanh tôi đã cố tìm trên Net, nhưng rất tiếc không có kết quả, ước mong sao Tienve.org với công cụ và biện pháp “tối tân” hơn có thể giúp đươc chăng, thì thật là may mắn cho tôi lắm!?

 

Nguyên tác hai bài thơ của Rimbaud:
 
VOYELLES
 
A noir, E blanc, I rouge, U vert, O bleu: voyelles,
Je dirai quelque jour vos naissances latentes:
A, noir corset velu des mouches éclatantes
Qui bombinent autour des puanteurs cruelles,
 
Golfes d'ombre; E, candeurs des vapeurs et des tentes,
Lances des glaciers fiers, rois blancs, frissons d'ombelles;
I, pourpres, sang craché, rire des lèvres belles
Dans la colère ou les ivresses pénitentes;
 
U, cycles, vibrement divins des mers virides,
Paix des pâtis semés d'animaux, paix des rides
Que l'alchimie imprime aux grands fronts studieux;
 
O, suprême Clairon plein des strideurs étranges,
Silences traversés des Mondes et des Anges:
- O l'Oméga, rayon violet de Ses Yeux!
 
 
LE BATEAU IVRE
 
Comme je descendais des Fleuves impassibles,
Je ne me sentis plus guidé par les haleurs:
Des Peaux-Rouges criards les avaient pris pour cibles,
Les ayant cloués nus aux poteaux de couleurs.
 
J'étais insoucieux de tous les équipages,
Porteur de blés flamands ou de cotons anglais.
Quand avec mes haleurs ont fini ces tapages,
Les Fleuves m'ont laissé descendre où je voulais.
 
Dans les clapotements furieux des marées,
Moi, l'autre hiver, plus sourd que les cerveaux d'enfants,
Je courus! Et les Péninsules démarrées
N'ont pas subi tohu-bohus plus triomphants.
 
La tempête a béni mes éveils maritimes.
Plus léger qu'un bouchon j'ai dansé sur les flots
Qu'on appelle rouleurs éternels de victimes,
Dix nuits, sans regretter l'oeil niais des falots!
 
Plus douce qu'aux enfants la chair des pommes sûres,
L'eau verte pénétra ma coque de sapin
Et des taches de vins bleus et des vomissures
Me lava, dispersant gouvernail et grappin.
 
Et dès lors, je me suis baigné dans le Poème
De la Mer, infusé d'astres, et lactescent,
Dévorant les azurs verts; où, flottaison blême
Et ravie, un noyé pensif parfois descend;
 
Où, teignant tout à coup les bleuités, délires
Et rhythmes lents sous les rutilements du jour,
Plus fortes que l'alcool, plus vastes que nos lyres,
Fermentent les rousseurs amères de l'amour!
 
Je sais les cieux crevant en éclairs, et les trombes
Et les ressacs et les courants: je sais le soir,
L'Aube exaltée ainsi qu'un peuple de colombes,
Et j'ai vu quelquefois ce que l'homme a cru voir!
 
J'ai vu le soleil bas, taché d'horreurs mystiques,
Illuminant de longs figements violets,
Pareils à des acteurs de drames très antiques
Les flots roulant au loin leurs frissons de volets!
 
J'ai rêvé la nuit verte aux neiges éblouies,
Baiser montant aux yeux des mers avec lenteurs,
La circulation des sèves inouïes,
Et l'éveil jaune et bleu des phosphores chanteurs!
 
J'ai suivi, des mois pleins, pareille aux vacheries
Hystériques, la houle à l'assaut des récifs,
Sans songer que les pieds lumineux des Maries
Pussent forcer le mufle aux Océans poussifs!
 
J'ai heurté, savez-vous, d'incroyables Florides
Mêlant aux fleurs des yeux de panthères à peaux
D'hommes! Des arcs-en-ciel tendus comme des brides
Sous l'horizon des mers, à de glauques troupeaux!
 
J'ai vu fermenter les marais énormes, nasses
Où pourrit dans les joncs tout un Léviathan!
Des écroulements d'eaux au milieu des bonaces,
Et les lointains vers les gouffres cataractant!
 
Glaciers, soleils d'argent, flots nacreux, cieux de braises!
Échouages hideux au fond des golfes bruns
Où les serpents géants dévorés des punaises
Choient, des arbres tordus, avec de noirs parfums!
 
J'aurais voulu montrer aux enfants ces dorades
Du flot bleu, ces poissons d'or, ces poissons chantants.
- Des écumes de fleurs ont bercé mes dérades
Et d'ineffables vents m'ont ailé par instants.
 
Parfois, martyr lassé des pôles et des zones,
La mer dont le sanglot faisait mon roulis doux
Montait vers moi ses fleurs d'ombre aux ventouses jaunes
Et je restais, ainsi qu'une femme à genoux...
 
Presque île, ballottant sur mes bords les querelles
Et les fientes d'oiseaux clabaudeurs aux yeux blonds.
Et je voguais, lorsqu'à travers mes liens frêles
Des noyés descendaient dormir, à reculons!
Or moi, bateau perdu sous les cheveux des anses,
Jeté par l'ouragan dans l'éther sans oiseau,
Moi dont les Monitors et les voiliers des Hanses
N'auraient pas repêché la carcasse ivre d'eau;
 
Libre, fumant, monté de brumes violettes,
Moi qui trouais le ciel rougeoyant comme un mur
Qui porte, confiture exquise aux bons poètes,
Des lichens de soleil et des morves d'azur;
 
Qui courais, taché de lunules électriques,
Planche folle, escorté des hippocampes noirs,
Quand les juillets faisaient crouler à coups de triques
Les cieux ultramarins aux ardents entonnoirs;
 
Moi qui tremblais, sentant geindre à cinquante lieues
Le rut des Béhémots et les Maelstroms épais,
Fileur éternel des immobilités bleues,
Je regrette l'Europe aux anciens parapets!
 
J'ai vu des archipels sidéraux! et des îles
Dont les cieux délirants sont ouverts au vogueur:
- Est-ce en ces nuits sans fonds que tu dors et t'exiles,
Million d'oiseaux d'or, ô future Vigueur?
 
Mais, vrai, j'ai trop pleuré! Les Aubes sont navrantes.
Toute lune est atroce et tout soleil amer:
L'âcre amour m'a gonflé de torpeurs enivrantes.
Ô que ma quille éclate! Ô que j'aille à la mer!
 
Si je désire une eau d'Europe, c'est la flache
Noire et froide où vers le crépuscule embaumé
Un enfant accroupi plein de tristesse, lâche
Un bateau frêle comme un papillon de mai.
 
Je ne puis plus, baigné de vos langueurs, ô lames,
Enlever leur sillage aux porteurs de cotons,
Ni traverser l'orgueil des drapeaux et des flammes,
Ni nager sous les yeux horribles des pontons.
 
 
Bản dịch của Huỳnh Phan Anh:
 
NGUYÊN ÂM
 
A đen, E trắng, I đỏ, U lục
O xanh: nguyên âm, nảy sinh tiềm tàng
A, bụng lông đen loài ruồi sặc sỡ
Vo ve quanh mùi hôi thúi hung hăng
 
E, vẻ trong trắng của lều và hơi.
Mũi băng chĩa, vua trắng, dù run rẩy,
I, màu đỏ tía, máu phun, môi cười
Trong giận dữ hoặc ngất ngây sám hối,
 
U, chu kỳ, chấn động của biển xanh,
Niềm yên ả bãi chăn thú, sóng gợn,
Thuật luyện đan in lên vầng trán chăm
 
O, hồi kèn cuối cùng vang điệu lạ,
Niềm im lặng của thế giới, thiên thần.
Hỡi Omega, tia Mắt Nàng tím ngát!
 
1872
 
 
CON TÀU SAY
 
Tôi bước xuống những dòng sông bình lặng,
Không còn những người kéo thuyền hướng dẫn:
Bọn da đỏ đã dùng họ làm bia
Khi đã đóng họ vào cột tô màu.
 
Tôi vô tư với mọi đoàn thủy thủ
Vác gạo xứ Flandre hoặc bông gòn Anh
Hết đám kéo thuyền hết cơn huyên náo,
Những dòng sông cứ để tôi mặc tình.
 
Trong tiếng thủy triều bập bềnh giận dữ,
Mùa đông nào, điếc hơn óc trẻ nhỏ,
Tôi chạy miết! Những bán đảo bứt đi
Trong hỗn độn với niềm vui tràn bờ.
 
Tôi thức giấc có giông tố chúc lành,
Tôi nhảy múa nhẹ tênh trên sóng nước
Như bước lang thang muôn thuở tròng trành,
Mắt đèn lồng mười đêm liền chẳng tiếc.
 
Ngọt hơn cơm táo ngập răng trẻ nhỏ,
Làn nước xanh tràn ngập cả vỏ tàu,
Rửa sạch trơn vết rượu và nôn mửa,
Nào bánh lái, nào neo móc vất bừa.
 
Tôi đã tắm trong bài thơ biển cả,
Trắng màu sữa và lấp lánh thiên thể,
Đang ngấu nghiến màu trời xanh, và nơi
Đường mớn nước đôi lúc một xác người;
 
Nơi bất chợt nhuốm xanh, những mê cuồng
Và nhịp chậm dưới ánh sáng đỏ lựng,
Mạnh hơn rượu, bát ngát hơn cung đàn,
Sục sôi màu đỏ tình yêu cay đắng!
 
Bầu trời vỡ vụn và những cầu vồng,
Sóng dồi và hải lưu: tôi biết tới
Chiều, rồi bình minh trắng xóa mênh mông,
Và đã thấy điều tưởng đâu đã thấy!
 
Mặt trời thấp trong kinh hoàng thần bí,
Ánh lên những tia máu tím ngát, và
Những làn sóng run rẩy cuốn đi xa
Trông chẳng khác diễn viên kịch cổ đại!
 
Tôi đã mơ đêm xanh tuyết sáng choang,
Chầm chậm nụ hôn dâng lên mắt biển,
Sự lan truyền những dòng nhựa lạ thường
Và rực vàng, xanh, lân tinh ca hát!
 
Tôi mãi dõi theo những đợt sóng lừng
Trên đá ngầm như đàn bò điên loạn,
Không biết các vùng Marie lấp lánh
Có thể đẩy mõm đất tới đại dương!
 
Đụng phải những vùng Floride khủng khiếp,
Lẫn với hoa là mắt báo da người!
Và lẫn với những đàn thú màu lục,
Lớp lớp cầu vồng sát dưới chân trời!
 
Chợt náo động những đầm lầy mênh mông
Trong đấm bấc rã mục xác Léviathan!
Nước xối xả giữa những nơi lặng gió
Và xa xa phía vực sâu thác đổ!
 
Sông băng, mặt trời bạc, sóng xà cừ,
Bầu trời than hồng, vũng cạn gớm ghiếc
Nơi rắn khổng lồ làm mồi cho rệp,
Cây cối gãy đổ, mùi hắc mù trời!
 
Muốn chỉ đàn em nhỏ loài cá tráp
Trong làn sóng xanh, cá vàng, cá hát,
Rời vũng tàu, bọt hoa ru bước tôi,
Và từng chập gió chấp cánh tôi bay.
 
Bước lãng du đôi khi phải mệt lả,
Trôi tròng trành trong tiếng khóc biển cả
Dâng lên tôi những bông hoa âm u,
Tôi ở lại, như một người nữ đang quỳ.
 
Như hòn đảo đu đưa lời tranh cãi
Và phân loài chim lắm chuyện mắt vàng,
Và tôi lướt đi, mắt mơ hồ thấy
Người chết đuối bước lùi xuống, ngủ yên.
 
Tôi, con tàu dưới lớp tảo chằng chịt,
Bị bão ném vào không trung lặng ngắt,
Và các tàu buồm và tàu tuần tra
Chẳng buồn vớt bộ khung say xỉn nước;
 
Trên mù tím nhả khói lướt băng băng,
Tôi xuyên thủng bức tường bầu trời đỏ
Mang mũi dãi trời, địa y vầng dương:
Mứt kẹo ngon cho các nhà thơ lớn!
 
Tôi chạy, tia điện lỗ chỗ người tôi,
Tấm ván điên đàn ngư mã hộ tống,
Những tháng bảy quất gậy cho đổ sụp
Bầu trời hải ngoại mớ phễu sục sôi.
 
Tôi run rẩy, cách năm mươi hải lý,
Ngựa biển động đực, những cơn xoáy dày,
Những bất động xanh tháo cuộn dài dài,
Tiếc châu Âu với lan can cũ kỹ!
 
Tôi đã thấy những quần đảo sao trời
Và những đảo với bầu trời điên loạn
- Triệu cánh chim vàng, sức mạnh tương lai
Vẫn lưu đày trong đêm dài vô tận?
 
Tôi đã khóc nhiều! Bình minh chán ngán,
Chị Hằng khốc liệt, vầng dương đắng cay:
Tình yêu làm tôi đờ đẫn ngất ngây.
Xương cốt vỡ vụn, thà vùi trong biển!
 
Một làn nước châu Âu tôi khát vọng,
Đó là vũng nước đen ngòm, lạnh cóng
Buổi chiều ngát hương một chú bé buồn
Thả con tàu như cánh bướm tháng năm.
 
Mệt rồi, sóng biển, thôi ta không thể
Cứ bám theo tàu chở bông ngược xuôi,
Đi qua niềm kiêu hãnh những lá cờ,
Lội dưới những con mắt tàu khủng khiếp.
 
Tháng chín 1871

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2014