tin & thư | chuyên đề | tác phẩm mới | tác phẩm của tháng | đối thoại | tác giả | gửi bài | góp ý |
sinh hoạt
đối thoại
Những mẩu chuyện về đời gian lận của đứa thất phu  [đối thoại]

 

Lời ngỏ:
 
Ta đây vốn là người họ Trần Dân, nhờ ăn ở phước đức và biết tu nên sau khi chết được thành tiên, ngày ngày uống trà, đánh cờ và gặm đào tiên, thật thảnh thơi, nhàn hạ.
 
Nay vì có đứa thất phu mạo danh viết sách ca ngợi bổn thân nó, làm nhục cả tộc Trần Dân. Thoạt đầu ta cho đây là chuyện nhỏ, thôi bỏ qua.
Nhưng khổ là hắn không chịu yên, nay ngo ngoe làm tiên ông tại trần gian bằng nào là bia đá, nào đài tưởng niệm, nào tượng tri ân v.v...
 
Việc này khiến dân tình oán thán, lay động cả non tiên.
Ta không thể ngồi yên!
Ta không thể thảnh thơi uống trà và đánh cờ nữa!
Ta phải giáng trần vạch mặt nó!
Ta chẳng làm gì nhiều.
Hoặc ta sao lục những ghi chép trung thực về hắn.
Hoặc ta chỉ ra những chỗ mâu thuẫn và vô lý trong sách báo mà đám bồi bút của hắn ca ngợi hắn.
 
Ta muốn nhờ trang web Tiền Vệ đăng thành nhiều tập chuyện ta sưu tầm.
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
Ta muốn đưa chuyện của ta thành tấm “bia miệng” vạch mặt đứa thất phu, vô hiệu hoá các tấm bia đá xây bằng mồ hôi nước mắt của dân.
Đa tạ!
 
Trần Dân Tiên Ông

 

 

Chuyện 1: Đứa thất phu thì hay thô lỗ cộc cằn, vô văn hoá

Ngày 13.7.2015 đạo diễn Vũ Đình Phòng đăng bài hồi tưởng “Kỷ niệm về Lưu Trọng Lư” trên trang viet-studies,[*] trong đó có những đoạn như sau:

Trong chuyến đi này tôi hiểu thêm về anh (Lưu Trọng Lư) rất nhiều. Càng hiểu càng thấy hai anh em có rất nhiều “cách suy nghĩ” giống nhau. Anh tỏ ra rất tin tôi, tâm sự với tôi nhiều câu chuyện, nhiều điều mà tôi tin anh không kể với ai, có lẽ cả chị, hoặc nếu kể cũng không chi tiết như kể với tôi (tôi chủ quan chăng?)

Trong số “tâm sự” ấy có một tâm sự anh thổ lộ với tôi mà hôm nay tôi rất ngập ngừng khi có ý định thuật lại. Nay anh đã không còn trên cõi đời và tôi nghĩ chuyện không phải “bí mật” gì ghê gớm lắm.

Hôm dạo chơi trên bãi cát Vân Đồn, bỗng nhiên anh kể ấn tượng về lần đầu tiên “gặp Bác”, ấn tượng rất xấu mà từ đấy về sau, cho đến lúc bấy giờ, anh phải cố gắng hết sức để xoá đi trong trí óc. Câu chuyện anh kể có thể tóm tắt như sau.

Sau Hiệp nghị Genève, anh Lư được chuyển ra Hà Nội. Suốt thời gian Kháng chiến, từ Cách mạng Tháng Tám đến lúc ấy, anh chỉ ở Khu Bốn (miền Trung), chưa được nhìn thấy Bác bao giờ, cho nên ra Hà Nội, anh vẫn ao ước được “nhìn thấy” Bác bằng xương bằng thịt. Năm sau anh được phân về tham gia ban lãnh đạo Vụ Nghệ thuật, và được phân công đặc trách “khối Văn công”. Cuối năm ấy (1956), đột nhiên Vụ nhận được điện thoại từ Phủ Chủ tịch yêu cầu một điều, đại khái: “Mấy hôm nay Bác có vẻ buồn. Yêu cầu Vụ Nghệ thuật cử vài diễn viên ca múa và ngâm thơ lên tiêu khiển cho Bác.” Lệnh còn nói rõ: “Nhất thiết phải có nghệ sĩ ngâm thơ bằng giọng miền Trung.” Nhận được lệnh, anh Lư bàng hoàng, vậy là nhất định phen này sẽ được gặp Bác, thoả nỗi ao ước bấy lâu, vì chắc chắn anh sẽ phải đích thân dẫn tốp văn công ấy lên Phủ Chủ tịch và có mặt trong lúc các diễn viên biểu diễn. Anh hồi hộp chờ cho mau đến giờ đi.

Lên đến Ba Đình, trong lúc các diễn viên vào một phòng nhỏ trang điểm và thay quần áo, anh thơ thẩn ngoài hành lang toà nhà, bước chân lững thững và hồi hộp chờ… Đột nhiên anh thấy có bóng người từ cuối hành lang đi đến. Hành lang hơi tối nên lúc đầu anh không nhìn thấy mặt, nhưng anh đoán chính là “Bác”. Dáng người mảnh khảnh và bước chân nhanh nhẹn. Anh thấy tim mình đập mạnh. Anh đứng lại, chờ Bác đến để chào và tỏ lòng tôn kính. Nhưng bất ngờ thay, Cụ bước nhanh đến, cau mặt, gắt luôn: “Không có việc gì để làm à? Mà đứng thơ thẩn, lại hút thuốc thế này? Đi tìm xem có việc gì mà làm đi chứ”. Và trong lúc ông anh của tôi còn đang đứng ngẩn người, chưa biết đối đáp ra sao thì “Cụ” đã thoăn thoắt đi khuất vào hành lang phía đối diện và biến mất…”

Đột nhiên anh cảm thấy không ngờ “ông Cụ” thô lỗ, cục cằn thế! ” Bao nhiêu điều trước đây anh tưởng tượng ra, về một con người lịch lãm, biến mất sạch. Thay vào đấy là một cảm giác thất vọng tràn trề… ”

Kể xong câu chuyện này anh kết luận. “Đấy là một ấn tượng rất xấu về Bác mà suốt thời gian qua và có lẽ còn lâu sau này nữa, mình phải cố xoá nó đi trong ký ức. Cho đến hôm nay chưa phải đã xoá được hết!”

Về cách thức xử sự này của ông Hồ, về sau tôi đã được ông Hà Huy Giáp kể, sau khi ông nghe tôi đọc bản phác thảo ban đầu kịch bản “Kể chuyện Bác Hồ” (kịch bản sau đấy được viết lại rồi “bị” cưỡng bức nhận thêm tác giả thứ hai… Chính ông này đổi tên kịch bản thành “Người Công dân số Một”

Ông Hà Huy Giáp kể rằng sau Đại Hội Hai, Đảng ra công khai, đổi tên thành Đảng Lao Động, Sau Đại hội, “Cụ” giữ ông Hà Huy Giáp ở lại (đoàn đại biểu Nam Bộ ra họp hình như chỉ có ba người) giúp Cụ. Ông Hà Huy Giáp ở bên Bác vài tháng. Và ông kể đại khái: “Bác rất nghiêm, nghiêm đến mức khó tính. Nghe thấy tiếng cười bên ngoài là Bác đang gõ máy chữ, cũng chạy ra mắng: “Không có việc gì à? Mà nhăn răng cười cợt thế kia? Tìm việc gì mà làm chứ. Có đống củi kia, ra mà bổ đi…” Cụ khó tính đến nỗi không ai dám bén mảng đến gần phòng của Bác. Chỉ khi Bác cho ai đi gọi thì mới dám đến…

Rồi ông Đỗ Đức Dục (Thứ trưởng Bộ Văn hoá, đảng viên Đảng Dân chủ, sau bị Lê Duẩn cách chức, cho về Viện Văn học). Hôm ấy, nhìn thấy tôi đi ngoài hành lang cơ quan Viện, ông gọi vào để trò chuyện. Nhân nói đến ông Hồ, ông Dục kể: “Một con người vô văn hoá. Đầu năm 1946, hôm Chính phủ Liên Hiệp ra mắt ở Nhà hát Lớn, ông ta nhìn thấy Cụ Tố (Nguyễn Văn Tố) mặc âu phục, ông thô lỗ chạy đến, kéo chiếc cà-vạt Cụ Tố đang đeo ra, gắt: “Sao ông ăn mặc thế này?” (Lúc ấy ông Đỗ Đức Dục là Thứ trưởng Giáo dục)…

 

 

_________________________

Chú thích:

[*]http://www.viet-studies.info/VuDinhPhong_LuuTrongLu.htm


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2014