tin & thư | chuyên đề | tác phẩm mới | tác phẩm của tháng | đối thoại | tác giả | gửi bài | góp ý |
sinh hoạt
đối thoại
Về bài “VĂN HỌC DI DÂN VIỆT NAM...” của TS. Trần Lê Hoa Tranh: Trong bao chữ nghĩa thấy ngay Gu-gồ  [đối thoại]

 

1. Tôi sẽ không viết bài này nếu không lâu lâu vô đọc những bài điểm sách của ông Đào Trung Đạo được đăng đều đặn trên trang Gió-o. Có thể nói, nhiều năm qua, Đào Trung Đạo là người chuyên tâm điểm sách, đặc biệt là sáng tác văn chương của những tác giả di dân, từ châu Phi, châu Á và châu Mĩ La-tinh, trong đó có những tác giả người gốc Việt. Không những điểm sách, ông Đào Trung Đạo còn viết tiểu luận phê bình với chủ đề trọng tâm, nhìn chung, cũng hướng vào văn chương di dân, văn chương của cộng đồng Việt hải ngoại. Ông là người đề xuất khái niệm văn chương vô xứ Việt Nam (Vietnamese Literature of Displacement). Với cá nhân tôi, đọc những bài điểm sách, phê bình của Đào Trung Đạo, tôi được biết rất nhiều kiến thức hữu ích. Không ít cuốn sách ông điểm đã dịch ra tiếng Việt. Cái tên Đào Trung Đạo và từ đó, văn học di dân, lúc nhớ lúc quên nhưng cứ yên trí trong tôi. Quí vị có thể đọc tiểu sử và toàn bộ các bài viết của Đào Trung Đạo tại địa chỉ: http://www.gio-o.com/daotrungdao.html

Chính vì yên trí vậy, khi thấy tên bài “VĂN HỌC DI DÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC DI DÂN CÁC NƯỚC ĐÔNG Á TẠI HOA KỲ” [dưới đây viết tắt là “Văn học di dân Việt Nam...”] của Trần Lê Hoa Tranh [viết tắt là TLHT], được đăng tại: http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=2984, với ghi chú nguồn: “Tạp chí Nghiên cứu văn học số 2/2012” tôi liền đọc ngay. Để rõ hơn tác giả, tôi liền tra trên Google và biết Trần Lê Hoa Tranh là Tiến sĩ, Giảng viên khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học KHXH và NV (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Lí lịch khoa học của Tiến sĩ Trần Lê Hoa Tranh rất ấn tượng [ở đây]. Bài viết “Văn học di dân...” cũng được tác giả đăng ở đây, tiếp nối chuỗi công trình khoa học, nghiên cứu khá dài của mình. Bài viết có chú nguồn rõ hơn: “Tạp chí Nghiên cứu văn học số 2/2012, tr. 158-172.”. Như vậy, đây là một bài viết học thuật đã được công nhận, phê duyệt.

 

2. Đọc lần thứ nhất, tôi đã thấy có gì không ổn, kì kì trong bài này. Đọc kĩ lần nữa, thì thấy cái sự không ổn kì kì ấy bắt đầu từ những điều đơn giản:

- Đào Thiện Đạo hay Đào Trung Đạo?

TLHT viết, ngay ở phần đầu: “Theo quan điểm của Đào Thiện Đạo” và có chú thích số (3):Đào Thiện Đạo: “Nhà/quê nhà trong Văn chương vô xứ Việt Nam, gio-o.com” . Theo hiểu biết hạn hẹp của tôi thì ở hải ngoại có hai ông Thiện Đạo khá nổi tiếng là Trần Thiện Đạo và Nguyễn Thiện Đạo chứ chưa rõ có “Đào Thiện Đạo” là tác giả của bài “Nhà/quê nhà trong Văn chương vô xứ Việt Nam” tại gio-o.com. TLHT nghĩ ai cũng Thiện Đạo ha?

Để gây bối rối hơn cho độc giả (ít nhất là với tôi), vừa ở chú thích số (4) có “Đào Thiện Đạo” thì chú thích số (6) lại có ngay: “Chuyển dẫn từ: “Đọc The Book of Salt của Monique Truong”, Đào Trung Đạo, gio-o.com”. Trong tích tắc, “Thiện” đã sang “Trung” khiến cái câu hỏi mang dáng dấp Hamlet trên kia buộc tôi tự hỏi: TLHT đã thực sự đọc những bài viết này không? Bởi, các chú thích đều liên quan đến cái lịch sử vấn đề, mà ngay cái tên tác giả bài viết cũng không chính xác thì lấy gì chính xác tiếp theo? Và nếu đọc, thì để làm gì?

Trong 06 chú thích cho biết TLHT đã lấy các tài liệu từ internet, có điều kì kì: chỉ chú thích (1) liên quan đến số liệu cộng đồng người Việt di dân và chú thích (5) liên quan đến số lượng người Việt ở Mỹ là ghi đủ đường link. Các chú thích còn lại đều không làm theo cách thức bắt buộc này. Riêng ba chú thích liên quan đến Đào Thiện/Trung Đạo, TLHT chỉ ghi tên miền. Thủ thuật làm tréo ngoe tên gọi và mờ đi đường dẫn nguồn chính xác là cố ý hay vô tình? Tôi e rằng, TLHT sợ độc giả lần theo đúng đường link đó, để phát hiện một sự thực khác: phần lớn các ý tưởng trong bài viết của TLHT đều được sao chép từ các bài viết của Đào Trung Đạo. Đó là một vấn đề.

 

3. Thì đây, sẽ đặt bên cạnh bài của TLHT bài của Đào Trung Đạo công bố năm 2006, với tên đầy đủ “Nhà/quê nhà trong văn chương vô xứ Việt Nam (Home/home-Country in the Vietnamese Literature of Displacement)” tại địa chỉ: http://www.gio-o.com/DaoTrungDaoVanChuongVoXuR.html làm đối sánh:

   3.1. Kết quả như sau:

 

     3.1.1.

Đào Trung Đạo viết:

Một cách tổng quát, lý do chính vì danh từ Văn Chương Di Dân thường được dùng để chỉ một mảng văn chương xuất hiện ở Âu-Mỹ từ trên 100 năm nay, và có thể nói đã khởi đầu với Josept Conrad, tiếp theo là những tên tuổi lớn như James Joyce, Thomas Mann, Samuel Beckett, Vladimir Nabokov, Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez… Mảng văn chương này cũng bao gồm cả nhánh Văn Chương Lưu Đầy (Literature of Exile) với phần lớn những nhà văn không chấp nhận những chế độ độc tài/cọng sản hoặc tự lưu đầy trên chính quê hương mình hoặc ra khõi nước và sống lưu đầy ở một xứ sở cho họ tỵ nạn chính trị trong những thập niên 50-60

TLHT chép:

Danh từ Văn chương/Văn học Di Dân (Literature of Immigrant/ Emigrant Literature) thường được dùng để chỉ một mảng văn chương xuất hiện ở Âu-Mỹ từ trên 100 năm nay, có thể nói đã khởi đầu với Josept Conrad, tiếp theo là những tên tuổi lớn như James Joyce, Thomas Mann, Samuel Beckett, Vladimir Nabokov, Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez…

 

     3.1.2.

Đào Trung Đạo viết:

“Điểm khác biệt sâu sắc nhất giữa Văn Chương Vô Xứ Văn Chương Lưu Đầy là chủ ý, ưu tiên trong sáng tác, và ý thức văn chương: trong khi nhà văn lưu đầy viết văn trước hết nhằm chống đối lại cái ý thức hệ toàn trị trên đất nước họ thì  nhà văn vô xứ là người đứng giữa lằn ranh của hai ý thức hệ - ý thức hệ họ không chấp nhận đang trị vì trên quê hương họ nên họ đã lìa xứ - và ý thức hệ đang chủ trì trên chính nơi chốn họ đang tạm cư. Quan điểm phê phán của nhà văn vô xứ vì vậy có tính triệt để, toàn bộ/cầu, và phổ quát hơn. Một điểm khác biệt nữa là phần lớn những nhà văn vô xứ không chấp nhận việc được coi như/sắp xếp vào khối nhà văn giòng chính/bản địa của xứ sở họ hiện cư ngụ hoặc vào một luồng nhánh của văn chương thuộc xứ sở họ xuất thân. Họ là những người luôn vượt qua mọi biên giới (chính trị, tôn giáo, văn hóa xã hội, chủng tộc…) nói như Salman Rushdie, hoặc nói như Linda Lê, nhà văn vô xứ là kẻ “có tiếng nói mở mắt người. Một tiếng nói vô xứ, bởi vì tiếng nói đó tự đặt mình ngay trong trái tim của sự khổ đau mà không tìm cách xoa dịu sự khổ đau bằng ngôn từ hoa mỹ.” (Linda Lê, Tu écriras sur le bonheur, p.336) [1] Có thể nói tiêu biểu cho thái độ minh bạch này là những phát biểu của Tony Morrison (xem Playing in the Dark ), Salman Rushdie (xem: Imaginary Homeland ) và Linda Lê (xem: Tu écriras sur le bonheur )”

TLHT vừa trích dẫn gián tiếp vừa chép:

Theo quan điểm của Đào Thiện Đạo (3) , Văn học lưu vong hay văn học lưu đày (Literature of Exile) là chỉ sáng tác của những nhà văn không chấp nhận chế độ trong nước, ra nước ngoài sinh sống hoặc tự lưu đày trên chính quê hương mình. Văn học vô xứ là sáng tác của các nhà văn di dân đứng giữa hoặc vượt qua lằn ranh của hai ý thức hệ – ý thức hệ đang tồn tại trên quê hương họ – và ý thức hệ đang chủ trì trên chính nơi chốn họ đang sinh sống. Phần lớn những nhà văn vô xứ không chấp nhận việc được coi như/sắp xếp vào khối nhà văn dòng chính/bản địa của xứ sở họ hiện cư ngụ hoặc vào một luồng nhánh của văn chương thuộc xứ sở họ xuất thân. Họ là những người luôn vượt qua mọi biên giới (chính trị, tôn giáo, văn hóa xã hội, chủng tộc…) nói như Salman Rushdie, hoặc nói như Linda Lê, nhà văn vô xứ là kẻ “có tiếng nói mở mắt người. Một tiếng nói vô xứ, bởi vì tiếng nói đó tự đặt mình ngay trong trái tim của sự khổ đau mà không tìm cách xoa dịu sự khổ đau bằng ngôn từ hoa mỹ” (4) . Có thể nói tiêu biểu cho thái độ minh bạch này là những phát biểu của Tony Morrison (xem Playing in the Dark ), Salman Rushdie (xem: Imaginary Homeland ) và Linda Lê (xem: Tu écriras sur le bonheur ).
______
(3) Đào Thiện Đạo: “Nhà/quê nhà trong Văn chương vô xứ Việt Nam” , gio-o.com
(4) Linda Lê: Tu écriras sur le Bonheur (Bạn viết về hạnh phúc), p.336, chuyển dẫn từ Đào Thiện Đạo.

Ở đây TLHT đã trích dẫn gián tiếp nhưng gần như chép nguyên văn. Trong khi cô tỏ ra rất ý thức việc phải chú thích thì cô lại cố tình trích dẫn gián tiếp.

 

     3.1.3.

Đào Trung Đạo viết:

“Theo chúng tôi, một nhà văn vô xứ là một nhà văn trên hết thảy, biểu lộ trong bản viết cũng như ngoài đời sống một “tâm thái vô xứ”. Tâm thái vô xứ là tình cảm và trí tuệ của một người vô sở cứ, tự sáng tạo cho mình một ngôn ngữ, một tiếng nói, một diễn ngôn của kẻ vô sở cứ. Tiếng nói đó, diễn ngôn đó xác định mình không có một nơi chốn, không đặt mình vào một truyền thống nào, băng ngang những biên giới để lắng nghe tiếng thầm thì của cái bất khả hữu (l’impossible), đẩy sự bất khả đó cận kề với cái khả hữu (le possible)   Một điểm khác biệt nhỏ khác nữa cũng cần nêu ra: về số lượng, trong hơn 20 năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu 21, con số những nhà văn vô xứ càng ngày càng đông đảo và tác phẩm của họ hiện đang được độc giả khắp thế giới tán thưởng nồng nhiệt trong khi những nhà văn bản xứ nếu không có tài năng ngọai hạng rất dễ bị lu mờ, ít được chú ý, bị bỏ quên. Điều này cũng có nghĩa là nhà văn vô xứ có độc giả trên khắp thế giới và vì vậy việc sách của họ có được đọc ở chính quê hương họ hay không không còn là một yếu tố quyết định trong việc sáng tác và đánh giá.

TLHT tách ra và chép:

Về số lượng, trong hơn 20 năm cuối thế kỷ XX và những năm đầu XXI, con số những nhà văn di dân càng ngày càng đông đảo và tác phẩm của họ hiện đang được độc giả khắp thế giới tán thưởng nồng nhiệt trong khi những nhà văn bản xứ nếu không có tài năng rất dễ bị lu mờ, ít được chú ý, bị bỏ quên. Điều này cũng có nghĩa là nhà văn di dân có độc giả trên khắp thế giới và vì vậy việc sách của họ có được đọc ở chính quê hương họ hay không không còn là một yếu tố quyết định trong việc sáng tác và đánh giá nữa.

Từ đây TLHT đã chép nguyên xi chớ không trích dẫn ngoặc kép ngoặc đơn, chú thích gì trơn trọi.

 

     3.1.4.

Đào Trung Đạo viết:

Điều đáng chú ý ở đây là khái niệm “nhà” luôn gắn liền với khái niệm chủ thể (subject), vì nhà, quê nhà là một một nỗi ham muốn dù được thỏa mãn hay bị chối từ đối với từng chủ thể, từng người trong những hoàn cảnh khác nhau. Tuy không phải những người đang có/ở nhà/quê nhà không có hay ít khi i nhắc tới khái niệm này nhưng nhà/quê nhà chỉ có ý nghĩa sâu sắc đối với những người mất/không có/xa nhà/quê. Vậy khái niệm này nói lên cái khoảng cách (distance) xa rời: nhà là một điểm cố định và ở đầu kia là đất khách, là lữ thứ, ra đi, du hành, góc biển chân trời. Hiểu như vậy nên chúng ta không ngạc nhiên khi những nhà văn hiện đang sống trên xứ sở của mình đã không đặt vấn đề, không bị dằn vặt quay quắt về vấn đề này trong tác phẩm của họ. “Nhà/quê nhà” không là một điều họ cần phải nói tới. Trong trường hợp nếu họ chủ ý nói tới thì “nhà” lại được thường được hiểu giới hạn là quê hương, nhất là tổ quốc, và sự đánh tráo khái niệm đó cốt đạt mục đích tuyên truyền do chính trị áp đặt cho văn chương phục vụ.

TLHT chép:

Văn học di dân tập trung vào một số mảng đề tài chính sau đây:
1. Viết về quê nhà. Nhà/quê nhà chỉ có ý nghĩa sâu sắc đối với những người mất/không có/xa nhà/quê nhà. Vậy khái niệm này nói lên cái khoảng cách (distance) xa rời: nhà là một điểm cố định và ở đầu kia là đất khách, là lữ thứ, du hành. Hiểu như vậy nên chúng ta không ngạc nhiên khi những nhà văn hiện đang sống trên xứ sở của mình đã không đặt vấn đề, không bị dằn vặt quay quắt về vấn đề này trong tác phẩm của họ. “Nhà/quê nhà” không là một điều họ cần phải nói tới.Trong trường hợp nếu họ chủ ý nói tới thì “nhà” lại được thường được hiểu giới hạn là quê hương, nhất là tổ quốc.

Ở đây TLHT vừa chép vừa sợ hay sao ấy, có lẽ cô muốn “an toàn” nên tránh những bàn luận liên quan đến chính trị của Đào Trung Đạo. Chép như vậy thì cứ cố tình làm cụt câu cụt ý của người ta quá trời luôn.

 

     3.1.5.

Đào Trung Đạo viết:

Cho đến ngày hôm nay khi chúng tôi trình bày bài sơ khảo này, những nhà văn tiêu biểu chúng tôi đề cập tới hầu như không có một giới độc giả chung. Người sáng tác bằng tiếng Việt hầu như chỉ có độc giả ở ngoài nước chỉ đọc tiếng Việt. Người viết bằng Anh văn hoặc Pháp văn tuy có cái lợi hơn là được độc giả Âu-Mỹ đọc nhưng số độc giả người Việt đọc họ phải nói là rất hiếm hoi. Nhưng họ có một mẫu số chung, và đây là một điều đang tiếc: sách của họ hầu như không được độc giả Việt trong nước biết tới.

TLHT chép:

Người sáng tác bằng tiếng Việt ở Hoa Kỳ hầu như chỉ có độc giả người Việt tại Hoa Kỳ đọc được. Người viết bằng tiếng Anh tuy có cái lợi hơn là được độc giả Âu-Mỹ đọc nhưng số độc giả người Việt đọc họ phải nói là rất hiếm hoi. Nhưng họ có một mẫu số chung, và đây là một điều đáng tiếc: sách của họ hầu như không được độc giả Việt trong nước biết tới. Trừ một vài trường hợp hiếm hoi: Nguyễn Mộng Giác in sách trong nước (Sông Côn mùa lũ), Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Trần Mộng Tú có một ít truyện ngắn trong các tuyển tập trong nước… Khác với các nhà văn di dân ở châu Âu, mức độ phổ biến tác phẩm của họ nhiều hơn (Kiệt Tấn, Nguyễn Văn Thọ, Thuận, Linda Lê, Đoàn Minh Phượng, Miêng… đều có sách in và độc giả trong nước).

Ông Đào Trung Đạo than thở chuyện “độc giả trong Việt trong nước” không biết sách của người cầm bút gốc Việt ngoài nước, là có lí và cái thế của ông, mà từ hồi 2006 lận. TLHT than lại nghe sao đành. Đã thế còn thêm cái “trừ một vài trường hợp hiếm hoi” cũng không rõ ràng chi cả.

 

   3.2. Một nội dung khá quan trọng trong bài viết của TLHT là điểm lại sáng tác của nhà văn di dân Việt Nam tại Hoa Kỳ (phần III). Câu hỏi đặt ra là: liệu TLHT đã thực sự đọc tác phẩm của họ chưa hay chỉ dựa vào các bài điểm sách của Đào Trung Đạo và của báo chí nước ngoài rồi chép, trích, và dịch?

Nhưng kể từ đây trở đi, tình thế có vẻ li kì và phức tạp hơn. Vì TLHT không chỉ lấy một bài [đã nêu trên] mà còn lấy nhiều bài khác của Đào Trung Đạo để tổng hợp thành. Cụ thể như sau:

     3.2.1.

Đào Trung Đạo viết:

Ngay trên trang đầu tác phẩm The Gangster We Are All Looking For lê thị diễm thúy đã viết: “Trong tiếng Việt, chữ chỉ nước và chữ chỉ quốc gia, một xứ sở, và một quê nhà giống nhau: nước.” [Bài “Nhà/quê nhà....”]

Và viết:

Trong tiếng Việt, chữ để chỉ nước (water) và chữ để chỉ một quốc gia (a nation), một xứ sở, và một quê hương đều cùng một chữ nuớc.” Quyển sách tương đối mỏng, chỉ 158 trang, chia làm 5 chương : Suh-top! (lối phát âm chữ Stop củ người mới bập bẹ tiếng Mỹ), Palm (hiểu theo hai nghĩa vừa là cây cọ vừa là lòng bàn tay), Tên Du Đãng Tất Cả Chúng Ta Đang Lùng Kiếm, Xương Chim, và chương cuối cùng : Nước (tác giả để nguyên chữ viết Việt trong sách.)
...
Điểm cuối cùng và cũng là điểm son của lê thị diễm thúy: sách tuy viết bằng Anh văn nhưng ở nhiều chỗ cô vẫn để nguyên một số từ tiếng Việt. Tại sao vậy? Trước hết, về mặt ngữ học, ngôn ngữ nhiều khi không thể có những từ song sinh, nghĩa là một từ trong một ngôn ngữ này khi chuyển dịch sang một ngôn ngữ khác có thể chuyên chở toàn vẹn ý nghĩa nguyên thủy. Chẳng hạn chữ “nước” lê thị diễm thúy đã nhắc tới. Và còn những từ con cái xưng hô với cha mẹ: Từ ngọt ngào gọi mẹ là “Má” của người Miền Nam, từ gọi cha là “Ba” đầy kính yêu của người Miền Bắc, phở để nguyên từ tiếng Việt, vân vân và vân vân. Khi đọc The Book of Salt chúng ta cũng thấy Monique Trương đã để nguyên những từ như Má, áo dài, phở, Anh....trong cuốn sách viết bằng Anh văn này.
...
Chẳng đặng đừng họ đã phải làm như vậy vì  họ muốn mở ra những khả tính mới cho ngôn từ tiểu thuyết : càng du nhập và đồng hóa nhiều ngôn ngữ đa văn hóa bao nhiêu thì sẽ càng trở nên phong phú bấy nhiêu. Chúng ta cũng không thể quên rằng phần đông những nhà văn di dân nổi tiếng ngày nay tuy họ sử dụng Anh văn để sáng tác nhưng đa số không bao giờ nhận mình là một nhà văn Mỹ hay một nhà văn Anh. Toni Morison, giải thưởng Nobel Văn Chương luôn luôn chính danh mình là một nhà văn Mỹ gốc Phi châu (African-American writer), Salman Rushdie không bao giờ chấp nhận người ta gọi mình là một nhà văn Anh hay một nhà văn thuộc nhóm Thị Trường Chung Âu châu. Văn chương Mỹ hiện đại đã phải chấp nhận một thứ  Spanglish mới cũng như đã phải chấp nhậân một thứ Anh văn của người da đen từ hơn nửa thế kỷ nay. Mười năm trở lại đây những nhà văn thuộc thế hệ mới như Sandra Cisneros, Julia Alvarez, Denise Chavez...đã mạnh dạn tiếp tục bước theo lớp những nhà văn di dân tiên phong thế hệ trước, đem vào tiểu thuyết mới những sắc thái văn hóa đa chủng trong đối thoại, trong văn phong, trong xây dựng nhân vật...và sách của họ đã được đông đảo quần chúng độc giả cũng như những nhà phê bình văn học mến mộ và cũng đã được đưa vào những cuốn văn tuyển dùng trong các trường trung và đại học.
 
[Bài “Nước non nặng một lời thề - Đọc The Gangster we are all looking for” của lê thị diễm thúy, tại địa chỉ: http://www.gio-o.com/DaoTrungDaoLTDT.html]

TLHT tổng hợp và chép:

Ngay từ trang đầu, Thúy đã viết: “Trong tiếng Việt, chữ để chỉ nước (water) và chữ để chỉ một quốc gia (a nation), một xứ sở, và một quê hương đều cùng một chữ nước” . Quyển sách tương đối mỏng, chỉ 158 trang, chia làm 5 chương: Suh-top! (lối phát âm chữ Stop của người mới bập bẹ tiếng Mỹ), Palm (hiểu theo hai nghĩa vừa là cây cọ vừa là lòng bàn tay), Tên Du Đãng Tất Cả Chúng Ta Đang Lùng Kiếm, Xương Chim, và chương cuối cùng: Nước (tác giả để nguyên chữ viết Việt trong sách). Toàn bộ cuốn sách với nhân vật chính chính là tác giả, kể về những ngày tháng đặt chân lên đất Mỹ, cuộc sống vất vả của những di dân, ước mơ và khát vọng thay đổi. Cuối cuốn sách là chuyến quay trở về Việt Nam sau 20 năm xa cách của chính tác giả.
 
Điểm trân trọng ở Thúy là một người trẻ Việt Nam di dân đã nói lên tiếng nói tự bản thân, gia đình, trái tim mình về chiến tranh, và về “nước” Việt Nam. Về kỹ thuật viết, vì Lê Thị Diễm Thúy là một nghệ sĩ trình diễn nên cô chưa thể có tay nghề của một nhà tiểu thuyết được học hỏi chính qui. Nhưng cô đã viết ra những trang sách đẹp, đọc dễ dàng, gây xúc động mạnh.  Điểm cuối cùng và cũng là điểm son của Lê Thị Diễm Thúy: sách tuy viết bằng tiếng Anh nhưng ở nhiều chỗ cô vẫn để nguyên một số từ tiếng Việt. Chẳng hạn chữ “nước” Lê Thị Diễm Thúy đã nhắc tới. Và còn những từ con cái xưng hô với cha mẹ: “Má”, “Ba”, phở để nguyên từ tiếng Việt… Khi đọc The Book of Salt chúng ta cũng thấy Monique Trương đã để nguyên những từ như Má, áo dài, phở, Anh … trong cuốn sách của mình. Việc sử dụng nhiều ngôn ngữ trong tiểu thuyết mở ra những khả tính mới cho ngôn từ: càng du nhập và đồng hóa nhiều ngôn ngữ đa văn hóa bao nhiêu thì sẽ càng trở nên phong phú bấy nhiêu. Phần đông những nhà văn di dân nổi tiếng ngày nay tuy họ sử dụng tiếng Anh để sáng tác nhưng đa số không bao giờ nhận mình là một nhà văn Mỹ hay một nhà văn Anh. Toni Morison, giải thưởng Nobel Văn chương luôn gọi mình là một nhà văn Mỹ gốc Phi châu (African-American writer), Salman Rushdie không bao giờ chấp nhận người ta gọi mình là một nhà văn Anh hay một nhà văn châu Âu. Văn chương Mỹ hiện đại đã phải chấp nhận một thứ Spanglish mới cũng như đã phải chấp nhận một thứ tiếng Anh của người da đen từ hơn nửa thế kỷ nay. Mười năm trở lại đây những nhà văn thuộc thế hệ mới như Sandra Cisneros, Julia Alvarez, Denise Chavez… đã mạnh dạn tiếp tục bước theo lớp những nhà văn di dân tiên phong thế hệ trước, đem vào tiểu thuyết mới những sắc thái văn hóa đa chủng trong đối thoại, trong văn phong, trong xây dựng nhân vật… và sách của họ đã được đông đảo quần chúng độc giả cũng như những nhà phê bình văn học mến mộ và cũng đã được đưa vào những cuốn văn tuyển dùng trong các trường trung và đại học, v.v…”

Y chang tuyệt đối mới tài làm sao!

 

     3.2.2.

Đào Trung Đạo viết:

Nguyễn Minh Bích tốt nghiệp Cao Học Văn chương ngành Sáng tác tại Đại học Michigan và hiện giảng dạy ngành này tại Đại học Purdue. Quyển hồi ký Stealing Buddha’s Dinner của cô do nhà Penguin xuất bản đầu năm 2007 được trao giải thưởng PEN/Jerard của Trung tâm PEN American.
...
Trong Stealing Buddha’s Dinner Nguyễn Minh Bích cũng kể lại chuyến đi rời bỏ quê hương, kinh nghiệm một di dân Á châu trên đất Mỹ, cuộc sống pha trộn nhiều sác thái văn hóa khác nhau trong gia đình, tình cảm thương mến đậm đà dành cho Nội với những món ăn thuần túy Việt Nam như phở, chả giò, giá, tôm rang, canh chua… Nội đã cho cô bé ăn và nhất là bàn thờ Phật của Nội có bày hoa quả và những món chay cúng Phật cô bé đã có lần ăn trộm.
 
[Bài “STEALING BUDDHA’S DINNER - Ăn Trộm Đồ Cúng Phật” của Bich Minh Nguyen tại địa chỉ http://www.gio-o.com/DaoTrungDaoBichMinhNguyen.html

TLHT chép rút gọn:

Bich Minh Nguyen với hồi ký Stealing Buddha’s Dinner (Trộm đồ cúng Phật) do nhà Penguin xuất bản đầu năm 2007 được trao giải thưởng PEN/Jerard của Trung tâm PEN American. Cô kể lại chuyến đi rời bỏ quê hương, kinh nghiệm một di dân Á châu trên đất Mỹ, cuộc sống pha trộn nhiều sắc thái văn hóa khác nhau trong gia đình, tình cảm thương mến đậm đà dành cho Nội với những món ăn thuần túy Việt Nam như phở, chả giò, giá, tôm rang, canh chua… Nội đã cho cô bé ăn và nhất là bàn thờ Phật của Nội có bày hoa quả và những món chay cúng Phật cô bé đã có lần ăn trộm.

 

     3.2.3.

Đào Trung Đạo viết:

Sách Muối (Book of Salt) : muối dùng trong bếp để nấu ăn, muối chứa trong mồ hôi, nước mắt, nước biển. Văn chương Thánh Kinh cũng ghi chép câu truyện người vợ của Lot bị biến thành một cột muối cũng chỉ vì đã ngoái cổ ngó lại căn nhà nàng, ngoảnh lại nhìn thành phố Sodom. Muối có trong, xuất phát từ đồng lương, từ lao động (salt=salary). Cuốn sách về một nguyên liệu thiết yếu, có mặt cùng khắp nhưng luôn luôn không được coi trọng trong món ăn cũng như trong đời sống!
 
[Bài “Ngôn ngữ, lưu đầy, cựu thuộc địa... Đọc The book of salt” của Monique Trương, tại địa chỉ: http://www.gio-o.com/DaoTrungDaoMonique.html]

TLHT, ngoài mấy thông tin bổ sung không quan trọng, thì đã lấy lại ý phân tích “muối” ở trên:

Trong cuốn Sách muối (Nxb. Houghton-Mifflin, 2003), nhân vật chính là Bình, một đầu bếp, làm việc ở Pari, sau đó sang Mỹ, quay trở về Việt Nam. Tên sách, ban đầu khi mới viết năm 1997, có tên là Seeds – Hạt (cũng liên quan đến ẩm thực), sau đó, cô quyết định đổi tên là Book of Salt. Muối, có hầu hết trong thực phẩm, trong nước mắt, và biển, được tìm thấy khắp nơi trong cuốn sách. Trong tiếng Anh, “lương” (salary) là lấy từ chữ “salt”, vậy thì muối ở đây, là một cách hiểu khác của sức lao động, của giá trị, của sự đáng giá. Cuốn này được trao tặng nhiều giải văn chương giá trị ở Mỹ như của Hiệp hội thư viện Hoa Kỳ năm 2004, nhận được tài trợ để sáng tác của PEN American Robert Bingham Fellowship, Hodder Fellowship của đại học Princeton và Guggenheim Fellowship.

 

     3.2.4.

Tiếp đó, khi nói về cuốn Bitter in the Mouth của Monique Trương, TLHT có một cách xoay xở vô cùng thú vị. Trước hết là dịch một đoạn từ bài viết tiếng Anh:

In Vietnamese, words that convey happiness and suffering are themselves distinct tastes. While happiness is always nutty-sweet (ngọt bùi), suffering provides a wide range of bitter tastes: bitter-spicy (đắng cay ), sour-bitter ( chua cay ), medicinally sharp like bitter melon (khổ qua) or acidly bitter like soap berries (bồ hòn—a Southeast Asian fruit that’s also used as a natural detergent).
 
In Bitter in the Mouth, Monique Truong dazzlingly explores a whole array of an outsider’s experience via the literal and figurative trope of synesthesia. Her main character, Linda Hammerick, suffers from a rare sensory disorder: she registers words first and foremost as specific tastes, isolated and independent from their meanings. When she hears the word mom, Linda thinks of chocolate milk. (Incidentally, the word chocolate from the Aztec word xocolatl means bitter water). Linda’s challenge–which is also the central mystery of the novel— [của một độc giả Dinh Thuy tại địa chỉ: http://diacritics.org/2010/conjurer-of-destinies-review-of-monique-truong%E2%80%99s-bitter-in-the-mouth]

Tôi không rành tiếng Anh nên nhờ quí vị xem giúp, rằng có phải là đoạn này của TLHT không:

Ở Việt Nam, những từ biểu hiện hạnh phúc và chịu đựng thường được dùng những từ mang tính chất nếm trải (vị giác). Hạnh phúc thì thường ngọt bùi, chịu đựng thì dùng đắng cay, chua cay, khổ quá… Với Đắng nghét trong miệng, M. Truong đã khám phá kinh nghiệm của một người thông qua văn học. Nhân vật chính: Linda Hammerick, chịu đựng một căn bệnh rối loạn giác quan rất hiếm: cô trở thành người nổi tiếng nhìn một từ và đoán vị của nó, cách biệt và độc lập với nghĩa của chúng: khi cảm giác bị kích thích bởi một sự vật lập tức có cảm giác hay nhận thức về một sự vật khác (chứng “synesthesia”), ví dụ khi nhìn một con chữ Linda lập tức cảm nhận được mùi vị của một món ăn. Chẳng hạn chữ “you” cho Linda những mùi vị của đậu hột đóng hộp, chữ “home/nhà” gợi mùi vị nước ngọt Pepsi, nghe từ mẹ, cô nghĩ đến sô cô la (từ chocolate là từ Aztec xocolatl có nghĩa là nước đắng). Thử thách của Linda, cũng là bí ẩn trung tâm của câu chuyện, là làm cách nào tháo gỡ rối loạn vị giác của cô, vứt bỏ cái đắng cay từ cái ngọt bùi.

Điều làm tôi vô cùng vui là TLHT đã giữ nguyên cái đường link chép từ tiếng Anh này, nói theo ngôn ngữ dạy học của cô Tranh là “ăn vụng không biết chùi mép”. Tuy nhiên, TLHT không thấy rằng, bài tiếng Anh này, về cơ bản là tóm lược những ý của Đào Trung Đạo ở bài “Bitter in the Mouth/Đắng Ngắt Trong Miệng” [tại đây]

 

Cuối cùng, không còn cách nào khác, TLHT đành chép nguyên văn Đào Trung Đạo (khỏi mất công dịch ha):

Đào Trung Đạo viết:

Nhìn chung, quyển Bitter in the Mouth/Đắng Ngắt Trong Miệng của Monique Trương là một tiểu thuyết đưa ra một cái nhìn khác biệt về vấn đề khủng hoảng bản ngã, nhất là bản ngã của người nữ di dân, vô xứ so với quan niệm thông thường của trí thức, nhà văn Mỹ đã có trước đây. Monique Trương cho thấy cuộc tìm kiếm bản ngã của một người sinh ra ở một nơi và trưởng thành ở một nơi không phải là quê hương là một lộ trình không có điểm tận cùng, không có một kết thúc chỉn chu, thỏa mãn mà chỉ là một sự cần thiết, một sự chẳng đặng đừng.

TLHT chép:

Bitter in the Mouth đưa ra một cái nhìn khác biệt về vấn đề khủng hoảng bản ngã, nhất là bản ngã của người nữ di dân, vô xứ so với quan niệm thông thường của trí thức, nhà văn Mỹ đã có trước đây. Monique Trương cho thấy cuộc tìm kiếm bản ngã của một người sinh ra ở một nơi và trưởng thành ở một nơi không phải là quê hương là một lộ trình không có điểm dừng, điểm tận cùng, không có một kết thúc chỉn chu, thỏa mãn mà chỉ là một sự cần thiết, một sự chẳng đặng đừng.

Và cũng nói luôn để cô TLHT rõ: Cái đoạn trích dài ngoằng của cô:

Tạp chí Booklist đưa ra nhận xét về Bitter in the Mouth: “Hấp dẫn… Trương là một người kể chuyện tài tình, và trong quyển tiểu thuyết yên vắng nhưng đầy sức mạnh này cô đã sáng tạo một nhân vật đáng chú ý và độc đáo”. Nhà văn nữ Jayne Anne Phillip thì cho rằng “Quyển Bitter in the Mouth, mỗi chữ đều mặn mà, là một tỏ bày của sự thông minh dí dỏm, của trái tim, và của tài năng tuyệt vời”. Nhà văn nữ gốc Trung Quốc Yiyun Li, tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng Ngàn Năm Thiện Nguyện thì khuyên người đọc hãy “chuẩn bị hưởng một hàng đầy ắp những mùi vị của cuộc sống trong Bitter in the Mouth: đó là những mùi vị của tình bạn, lòng chung thủy, tình yêu, gia đình, và trên hết thảy là của những bí mật nằm ở mỗi góc của lịch sử một con người, những bí mật đã làm thành con người chúng ta. Monique Trương là một người quan sát giỏi và một nhà văn tuyệt mỹ”(6).

Là lấy từ bài “Bitter in the Mouth/Đắng Ngắt Trong Miệng” của Đào Trung Đạo [tại đây] chớ không phải là “Chuyển dẫn từ: “Đọc The Book of Salt của Monique Truong”, Đào Trung Đạo, gio-o.com” như chú thích số (6) của cô. Cô cứ thích lắt léo vậy là sao?

 

4. Một nội dung khác trong bài viết của TLHT là “II. Những nhà văn di dân Đông Á tại Hoa Kỳ”. Ở nội dung này, TLHT có đầu tư hơn chút đỉnh, là dịch những thông tin về các nhà văn này từ trên trang mạng.

Lấy ví dụ:

Mục từ “Ha Jin” trên Wikipedia tiếng Anh, có đoạn:

Early life
Ha Jin was born in Liaoning, China. His father was a military officer; at thirteen, Jin joined the People's Liberation Army during the Cultural Revolution. Jin began to educate himself in Chinese literature and high school curriculum at sixteen. He left the army when he was nineteen,[1] as he entered Heilongjiang University and earned a bachelor's degree in English studies. This was followed by a master's degree in Anglo-American literature at Shandong University.
 
Jin grew up in the chaos of early communist China. He was on a scholarship at Brandeis University when the 1989 Tiananmen incident occurred. The Chinese government's forcible put-down hastened his decision to emigrate to the United States, and was the cause of his choice to write in English "to preserve the integrity of his work." He eventually obtained a Ph.D..
 
Career
Jin sets many of his stories and novels in China, in the fictional Muji City. He has won the National Book Award for Fiction[2] and the PEN/Faulkner Award for his novel, Waiting (1999). He has received three Pushcart Prizes for fiction and a Kenyon Review Prize. Many of his short stories have appeared in The Best American Short Stories anthologies. His collection Under The Red Flag (1997) won the Flannery O'Connor Award for Short Fiction, while Ocean of Words (1996) has been awarded the PEN/Hemingway Award. The novel War Trash (2004), set during the Korean War, won a second PEN/Faulkner Award for Jin, thus ranking him with Philip Roth, John Edgar Wideman and E. L. Doctorow who are the only other authors to have won the prize more than once. War Trash was also a finalist for the Pulitzer Prize.
 
Jin currently teaches at Boston University in Boston, Massachusetts. He formerly taught at Emory University in Atlanta, Georgia.
 
Jin was a Mary Ellen von der Heyden Fellow for Fiction at the American Academy in Berlin, Germany, in the fall of 2008.

TLHT dịch thành:

Cáp Kim (Ha Jin) là trường hợp thành công thứ hai. Ông tên thật là Kim Tuyết Phi,sinh tại Liêu Ninh, cha là sĩ quan quân đội. Bản thân ông cũng tham gia quân đội từ năm 1969 trong Cách mạng Văn hóa. Năm 1981 ông tốt nghiệp đại học chuyên ngành tiếng Anh ở trường Đại học Hắc Long Giang, ba năm sau tốt nghiệp thạc sĩ văn học Anh-Mỹ ở đại học Sơn Đông và nhận được học bổng sang Mỹ ở trường đại học Brandeis. Sau biến cố Thiên An môn 1989, sự hà khắc và đàn áp của chính quyền Trung Quốc khiến ông quyết định định cư luôn tại Mỹ sau khi học xong tiến sĩ năm 1992. Tác phẩm đầu tiên ông viết là tập thơ Between Silences (Giữa im lặng) xuất bản năm 1990. Cáp Kim là một hiện tượng văn học nước ngoài ở Mỹ, viết văn bằng tiếng Anh và đạt rất nhiều giải thưởng văn học ở Mỹ. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông: Waiting (Đợi chờ, 1999) đạt giải thưởng Quốc gia Sách hàng năm (National Book Award) và giải Faulkner (PEN/Faulkner Award), ngoài ra truyện ngắn của ông xuất hiện trong nhiều tuyển tập truyện ngắn Mỹ hay nhất (The Best American Short Stories Anthologies), tập truyện ngắn Under The Red Flag (Dưới ngọn cờ đào, 1997) đạt giải O’Connor về truyện ngắn (Flannery O’Connor Award for Short Fiction), còn Ocean of Words (Biển từ, 1996) đạt giải Hemingway (PEN/Hemingway Award). Tiểu thuyết War trash (Cuộc chiến tranh rác rưởi, 2004) viết về cuộc chiến tranh Triều Tiên được giải Faulkner (PEN/Faulkner Award) và được vào chung kết giải Pulitzer. Hiện nay ông đang dạy học ở trường Đại học Boston, bang Massachussets ở Mỹ.

Tôi không rành tiếng Anh nên lại nhờ quí vị đối chiếu. Điều thú vị là TLHT vẫn giữ nguyên các đường link có tính giải thích thêm về các giải thưởng mà Ha Jin đạt được. Cũng lưu ý, Ha Jin đã từng được Đào Trung Đạo điểm tới ở địa chỉ: http://www.gio-o.com/DaoTrungDaoHaJinfreelife.htm

Các tác giả còn lại của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đều được TLHT nhắc đến nhờ thông tin trên Gu-gồ như vậy.

 

5. Bài viết của TLHT kết thúc bằng kết luận:

“Với tham vọng là một công trình dài hơi hơn, chúng tôi hy vọng sẽ có điều kiện tìm hiểu và giới thiệu rộng rãi hơn nữa chân dung, diện mạo của văn học di dân các nước Đông Á tại Hoa Kỳ. Nên gọi mảng văn học này thuộc văn học Hoa Kỳ, hay thuộc văn học dân tộc? Có lẽ nội dung trong các tác phẩm mà chúng tôi giới thiệu trên đây đã nói lên điều đó. Nói riêng trong văn học Hoa Kỳ, đóng góp của họ là không thể phủ nhận. Trong thời đại toàn cầu hóa và trong trào lưu dân chủ của thiên niên kỷ mới này hướng phát triển ảnh hưởng văn hóa kinh tế chính trị ngày nay không phải từ nước Mỹ tỏa rộng ra thế giới như trong 50 năm trước nữa mà nay ảnh hưởng này có xu hướng đi ngược lại: chính từ những di dân đến đây đã mang vào ngay trong lòng nước Mỹ những nét văn hóa bản xứ. Họ đã đóng góp tài năng trí tuệ vào nền văn hóa kỹ thuật tạp chủng của Mỹ, biến nền văn hóa mở này có tính cách toàn cầu hơn. Đó là một điều không thể tránh được, không thể ngăn cản. Văn học đã trở thành toàn cầu, không biên giới. Đi hàng đầu là nền Văn học Di dân đã phát triển vững mạnh và trở thành trào lưu văn học chính yếu trên thế giới từ hơn hai thập niên gần đây”.

Té ra cái kết luận này cũng chôm chỉa của Đào Trung Đạo:

Hơn nữa trong thời đại toàn cầu hóa và trong trào lưu dân chủ của thiên niên kỷ mới này hướng phát triển ảnh hưởng văn hóa kinh tế chính trị ngày nay không phải từ nước Mỹ tỏa rộng ra thế giới như trong 50 năm trước nữa mà nay ảnh hưởng này có xu hướng đi ngược lại: chính từ những di dân đến đây đã mang vào ngay trong lòng nước Mỹ những nét văn hóa bản xứ. Họ đã đóng góp tài năng trí tuệ vào nền văn hóa kỹ thuật tạp chủng của Mỹ, biến nền văn hóa mở này có tính cách toàn cầu hơn. Đó là một điều không thể tránh được, cũng không thể ngăn cản hay khư khư bảo thủ tính chất quốc gia nữa
 
[Bài “Nước non nặng một lời thề - Đọc The Gangster we are all looking for” của lê thị diễm thúy, tại địa chỉ: http://www.gio-o.com/DaoTrungDaoLTDT.html]

Không rõ, đến lúc cái “tham vọng là một công trình dài hơi” của TS. Trần Lê Hoa Tranh hoàn thành, thì Đào Trung Đạo sẽ bị thuổng thêm những gì?

 

6. Tôi không có ý phủ nhận công sức của TS. Trần Lê Hoa Tranh khi viết bài “Văn học di dân Việt Nam...”. Thậm chí tôi ngưỡng mộ khả năng sử dụng Gu-gồ của cô. Trong hình dung của tôi, bài viết của TS. Trần Lê Hoa Tranh là một mẫu mực của việc ngồi nhà, bật máy, lên mạng, tra Gu-gồ, lấy bài rồi sao chép chăm chỉ, rất đáng để các sinh viên của cô học tập nếu thấy sao chép là niềm vui và thao tác cần nhân rộng.

Chỉ xin lưu ý với TS. Trần Lê Hoa Tranh rằng, nếu đã sao chép, thì cứ ghi đúng và rõ tên, nguồn tài liệu. Không nhất thiết phải làm khó độc giả. Tiến sĩ đã biết sử dụng Gu-gồ thì há lẽ độc giả không biết. Đấy, phải cảm ơn Gu-gồ. Vì không có nó, tôi làm sao hân hạnh được biết TS. Trần Lê Hoa Tranh.

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2014