tin & thư | chuyên đề | tác phẩm mới | tác phẩm của tháng | đối thoại | tác giả | gửi bài | góp ý |
dẫn nhập | nhận định | tác phẩm | thảo luận |
danh mục chuyên đề
Hiếp dâm  [chuyên đề  VĂN NGHỆ HẬU HIỆN ĐẠI]
Hoàng Ngọc-Tuấn dịch
 
Jayne Cortez sinh năm 1939 tại Arizona, và lớn lên tại khu Watts thuộc Los Angeles. Thơ của bà mang tính hùng biện chua cay, quyết liệt, sử dụng lời nói thông tục, và xuất phát từ truyền thống nhạc jazz, nhạc blues, và ý thức đấu tranh xã hội của người Mỹ da đen. Bà được xem là một nữ chiến sĩ đấu tranh cho nữ quyền. Như một nhà thơ chính trị, bà đã từng được so sánh với Ernesto Cardenal của Nicaragua và Léon Damas của xứ Guinea (thuộc địa Pháp). Tuy nhiên, những lối đối sánh mang tính siêu thực trong một số tác phẩm của bà khiến ta liên tưởng nhiều đến Aimé Césaire, nhà thơ phái Negritude của xứ Caribbean. Bà cũng đồng điệu với Damas và Césaire trong việc sử dụng phong cách hát ngâm thánh lễ và lối tái điệp tăng cấp, và vì thế thơ của cả ba người đều thích hợp để đọc trước thính chúng. Bà thường trình diễn thơ với Firespitters, một ban nhạc jazz có tay trống Dernado Coleman — người con trai sinh ra từ cuộc hôn nhân của bà với cố nhạc sĩ diệu thủ saxophone Ornette Coleman.
     Những tập thơ nổi tiếng của Jayne Cortez gồm có: Pisstained Stairs and the Monkey Man's Wares (1969), Scarifications (1973), Mouth on Paper (1977), Firespitter (1982) và Coagulations (1984), và Somewhere in Advance of Nowhere (1997). Bà cũng đã thực hiện những đĩa thơ jazz như Celebrations and Solitudes (1975), Unsubmissive Blues (1980), và Maintain Control (1986). Thơ của bà cũng đã được chọn vào nhiều tuyển tập, đáng kể là cuốn Postmodern American Poetry: A Norton Anthology (1994).
 
 
 
JAYNE CORTEZ
(1939~)
 
 
HIẾP DÂM
Inez Garcia, Joanne Litte — hai nạn nhân trong những năm 1970.
 
Inez nên làm gì đối với
tên đàn ông đã tuyên chiến trên thân xác nàng
tên đàn ông đã tạc một chiến địa giữa
hai vú nàng
Phải chăng nàng nên liếm những cái nhọt rận cắn từ lỗ đít đầy lông của gã
hôn từng cái mụn trên mông đít gã
thở nóng hổi trên ngón chân cái to thù lù của gã
nhíu các mép âm đạo của nàng và
kêu hí hố như một con lừa California
 
Đây là giờ giáp chiến của Inez
nàng đứng trực diện trước mũi dao
trước những lời hỗn xược và
trước cái mùi của nàng đang khô trên dương vật của
tên đàn ông đã hiếp dâm nàng
 
Nàng đứng với khẩu súng trong tay
hành động y như một bộ quốc phòng sẽ hành động trong những thời kỳ
chiến tranh
Và khi tên đàn ông bắt đầu gầm gừ và hổn hển và
khệnh khạng bước tới như
một con heo nọc khổng lồ
Nàng bơm chì vào cái đống thịt run rẩy nặng một tạ rưỡi của gã
Gửi cho nó bay đến xứ Đức Mẹ Đồng Trinh Guadalupe
rồi nàng ăn mừng ngày thằng chó đẻ hiếp dâm chết ngắc
chứ nếu không thì nàng phải làm cái đéo gì khác?
 
Và Joanne nên làm gì đối với
tên đàn ông đã tuyên chiến trên cuộc đời nàng
Phải chăng nàng nên thè lưỡi lau sạch
những cái bệ cầu tiêu cáu bẩn của gã
bú cho hết những con số trên tấm phù hiệu bằng kẽm của gã
nghẹt họng vì hai hòn dái tổ chảng của gã
oằn người trên cái cục gân thối tha giòi bọ của gã và
hát bài quốc ca chúa ban phước lành cho mỹ quốc đội ơn ông đã đéo tan nát
đời con
 
Đây là giờ giáp chiến của Joanne
nàng hành động y như một bộ quốc phòng sẽ hành động trong những thời kỳ
chiến tranh
và khi cái thằng vệ binh uống nước đái    ngửi cứt đó nói
tao sẽ làm cho mày ước mơ được chết đi cho xong này con đĩ da đen
tới đây tao bảo
Joanne thẳng tay bửa một lưỡi rìu chặt nước đá vào
bộ ngực của cái thằng đéo mẹ quái dị đó
đúng vậy bửa vào cái cổ mập của thằng cảnh sát kỳ thị chủng tộc đó
Joanne làm một vũ điệu của cái rìu chặt nước đá và một lần nữa
từ biển đông đến biển tây
từ nhà này đến nhà khác
chúng ta đã ăn mừng ngày thằng chó đẻ hiếp dâm chết ngắc
chứ nếu không thì chúng ta phải làm cái đéo gì khác?
 
------------------------------------
Nguyên tác: "Rape", trong Postmodern American Poetry: A Norton Anthology, ed. Paul Hoover (New York: W.W. Norton & Company, 1994), 337-338.
 
Những tác phẩm đã đăng trong loạt THƠ HẬU HIỆN ĐẠI:
da Thịt XƯƠNG (bài xướng tụng)   của  Wilding, Faith
"skin Meat BONES (chant)", bài thơ để xướng tụng bằng ba giọng ở ba âm vực khác nhau như một bài hát ba bè, của Anne Waldman (1945~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ, một tên tuổi hàng đầu của thơ trình diễn và thơ đọc — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Chờ   của  Wilding, Faith
"Waiting", một bài thơ nổi tiếng của Faith Wilding (1943~) — nghệ sĩ đa diện và nhà vận động nữ quyền Hoa Kỳ. Đây là một tác phẩm thuộc thể loại "thơ trình diễn" (performance poetry), một thể loại phát triển rất mạnh trong nghệ thuật hậu hiện đại. Bài thơ này gói trọn cuộc sống của người phụ nữ dưới ách phụ quyền vào một chữ "chờ". Thân phận của họ là "chờ", mãi mãi "chờ", từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt. (Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn)
"Rant", bài thơ như một tuyên ngôn, với câu thơ nổi tiếng: "Cuộc chiến hệ trọng duy nhất là cuộc chiến chống lại óc tưởng tượng / mọi cuộc chiến khác đều nằm trong đó". Diane di Prima (1934~) — nhà thơ hậu hiện đại và nhà tranh đấu nữ quyền Hoa Kỳ — đã diễn đọc bài thơ này rất nhiều lần, tại rất nhiều nơi, và luôn luôn chinh phục khán thính giả. Tiền Vệ xin gửi đến độc giả bản dịch Việt ngữ của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Bài thơ của Hiromi Ito (1955~) — một đại biểu của dòng thơ nữ quyền hậu hiện đại Nhật Bản. Bài thơ này đánh ngã quan niệm thẩm mỹ cũ kỹ vốn cho rằng thơ của nữ giới là phải đoan trang, kín đáo, mỹ miều. Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"The Practice of Magical Evocation", "Prophetissa", và "Studies in Light", ba bài thơ rất lạ, với những ẩn dụ và biểu tượng huyền bí xen lẫn vào ngôn ngữ thường nhật đương đại, của Diane di Prima (1934~) — nhà thơ hậu hiện đại và nhà tranh đấu nữ quyền Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Slow song for Mark Rothko", một bài thơ ứng dụng cấu trúc âm nhạc thiểu tố, của John Taggart (1942~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Sói  của  Fujii Sadakazu
Một bài thơ sử dụng huyền thoại dân gian về người đàn bà sói "tuyệt chủng" như một ẩn dụ để diễn tả lối tiếp cận thi ca mới, của Fujii Sadakazu (1942~) — nhà thơ hậu hiện đại Nhật Bản — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"FIVE NOTEBOOKS FOR EXIT ART", một bài thơ có hình thức mới lạ, trông như một bài nghiên cứu từ nguyên, của Cecilia Vicuña (1948~) — nhà thơ hậu hiện đại Chile — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Lost and Found" và "Breasts", hai bài thơ với những liên tưởng rất lạ, của Maxine Chernoff (1952~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Cenotaph", một bài thơ ứng dụng kỹ thuật điện ảnh, qua đó, những đoạn thơ như những khúc phim ngắn xen vào nhau, nối tiếp nhau, của John Yau (1950~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Index", một bài thơ rất khác thường, dưới dạng một bảng tra cứu ở cuối sách, của Paul Violi (1944~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Conjugal", "Ape", "A Performance at Hog Theater", "The Toy-Maker" và "The Optical Prodigal", năm bài thơ văn xuôi với những hình tượng và liên tưởng rất khác thương, của Russel Edson (1935~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Falling in Love in Spain or Mexico", "Wonderful Things", "Nothing in That Drawer" và "Who and Each", bốn bài thơ với bốn thi pháp hoàn toàn khác nhau, của Ron Padgett (1942~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"A Bouquet of Objects", "In a Monotonous Dream" và "A Date with Robbe-Grillet", ba bài thơ ngắn, nhưng đầy những khám phá thú vị trong bút pháp, của Equi Elaine (1953~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018