tin & thư | chuyên đề | tác phẩm mới | tác phẩm của tháng | đối thoại | tác giả | gửi bài | góp ý |
dẫn nhập | nhận định | tác phẩm | thảo luận |
danh mục chuyên đề
Rơi vào ái tình ở Tây-ban-nha hay Mễ-tây-cơ | Những điều tuyệt diệu | Không có gì cả trong ngăn kéo ấy | Who và Each  [chuyên đề  VĂN NGHỆ HẬU HIỆN ĐẠI]
Hoàng Ngọc-Tuấn dịch
 
Ron Padgett sinh năm 1942 tại Tulsa, Oklahoma. Ông đậu cử nhân ở Columbia University, nơi ông theo học với Kenneth Koch, người đã để lại ảnh hưởng trong thơ ông. Sự yêu thích thơ Pháp đã thúc đẩy ông du học tại Paris vào năm 1965-1966 như một "Fulbright Scholar". Sau đó, ông đã dịch thơ và văn xuôi tiếng Pháp, đặc biệt các tác phẩm của Blaise Cendrars và Guillaume Apollinaire.
     Từ tập thơ Great Balls of Fire (1969) -- một tác phẩm gây ảnh hưởng đến thi pháp Mỹ đương thời -- cho đến tập thơ The Big Something (1990), Padgett biểu lộ cử chỉ khoái hoạt trong những lối chơi mang sắc thái Dada. Cuốn tạp bút In Advance of the Broken Arm (1964) mượn nhan đề của một tác phẩm "vật dụng nhặt được" của Marcel Duchamp: một cái xẻng xúc tuyết tầm thường để tựa vào một bức tường.
     Bài thơ "Rơi vào ái tình ở Tây-ban-nha hay Mễ-tây-cơ" có kết cấu như một vở kịch ngắn, trong đó, lời nói của nhân vật chính chỉ là những câu lấy ra từ một cuốn sách dạy đàm thoại sơ cấp tiếng Tây-ban-nha. Bài thơ "Những điều tuyệt diệu" chứa đựng nhiều tâm trạng thay đổi liên tục và bất ngờ, một đặc tính của trường phái New York. Bài "Không có gì cả trong ngăn kéo ấy" là một sự giễu nhại lối thơ sonnet, gồm 14 câu, nhưng chỉ là sự lập lại hoàn toàn. Bài "Who và Each", viết năm 1990, lại trông như một bài khảo cứu từ nguyên mang tính đùa giỡn và dựa trên ảo giác, nhằm bày tỏ một ý nghĩ khác.
     Padgett cũng yêu thích lối sáng tác tập thể, tương tự như kiểu chơi cadavre exquis của phái siêu thực, trong đó vài ba nhà thơ thay phiên nhau viết những câu thơ cho một bài thơ chung. Ông đã ứng dụng kiểu chơi này để sáng tác tập thơ Bean Spasms (1967) cùng với nhà thơ Ted Berrigan, và cuốn The Adventures of Mr and Mrs Jim and Ron (1970) cùng với hoạ sĩ Jim Dine; và một số tác phẩm khác với một số người khác.
     Thơ của ông đã được chọn vào nhiều tuyển tập, trong số đó có cuốn Postmodern American Poetry: A Norton Anthology (1994).
     Padgett nguyên là giám đốc của Poetry Project tại St. Mark's Church ở Bowery. Hiện nay, ông sống tại Lower East Side và là giám đốc xuất bản của tổ chức Teachers & Writers Collaboratives.
 
 
 
RON PADGETT
(1942~)
 
 

RƠI VÀO ÁI TÌNH Ở TÂY-BAN-NHA HAY MỄ-TÂY-CƠ

 
Một thanh niên đẹp trai và một cô gái mang khăn voan che mặt bước vào. Họ thả bộ chậm rãi ngang qua sân khấu, thỉnh thoảng dừng lại, để cho lời nói đầu tiên trùng với lúc họ bước vào và lời nói cuối cùng với lúc họ bước ra.
 
JOSÉ:
Tôi hân hạnh được gặp ông. Tên tôi là José Gomez Carrillo. Tên ông là gì? Đây là vợ tôi. Tôi rất thích con gái của ông. Tôi nghĩ em gái của ông rất xinh đẹp. Ông có quen thuộc với nước Mỹ không? Ông đã đến New York chưa? Thành phố của ông rất là thú vị? Tôi nghĩ vậy. Tôi không nghĩ như thế. Đây là một tấm ảnh của vợ tôi. Con gái của ông rất xinh đẹp. Cô ấy hát rất hay. Ông khiêu vũ rất hay. Cô có nói tiếng Anh không? Cô có thích phim Mỹ không? Cô có đọc sách tiếng Anh không? Cô có thích bơi không? Thích lái xe không? Thích chơi quần vợt không? Chơi cù? Khiêu vũ? Cô có thích nhạc Mỹ không? Tôi được phép mời cô khiêu vũ chứ? Tôi thích chơi quần vợt. Cô lái xe chứ? Cô sống ở đây phải không? Địa chỉ của cô là gì? Số điện thoại của cô? Tôi đến viếng nơi này trong vòng bốn ngày. Hai tuần. Chỉ một tháng thôi. Ông thích hút một điếu thuốc không? Một ly rượu vang? Bất cứ thứ gì khác? Hãy chọn lựa tuỳ ý. Mừng sức khoẻ của ông! Với những ý nghĩ tốt đẹp nhất. Nhiều điều may mắn! Xin chúc mừng! Với những lời cầu chúc tốt đẹp nhất! Chúc Giáng Sinh vui vẻ! Tôi xin chân thành chia buồn. May mắn nhé! Khi nào thì tôi có thể gặp lại cô lần nữa? Tôi nghĩ cô rất xinh đẹp. Tôi thích cô rất nhiều. Cô có thích tôi không? Cho phép tôi gặp lại cô vào ngày mai nhé? Cho phép anh gặp lại em vào đêm nay nhé? Đây là một món quà tặng em. Anh yêu em. Em đồng ý thành hôn với anh chứ?
 
CÔ GÁI: (tháo tấm khăn voan ra và vất nó đi, cho thấy khuôn mặt của nàng, một khuôn mặt cực kỳ xinh đẹp, và diễm lệ khác thường)
Vâng!
 
HẾT
 
1969
 
 

NHỮNG ĐIỀU TUYỆT DIỆU

 
Anne, em đã chết      và em là người tôi đã yêu theo một kiểu khá ngu ngốc
                           tôi thường nghĩ về em
           buveur de l'opium chaste et doux
                                                                 Vâng tôi nghĩ về em
        với rất ít tư tưởng trong đầu
 
 
        như thể tôi đã trở thành một thằng người vô dụng với trí não trẻ con
 
 
                      Ngắm những con chim đần độn kêu lít chít
 
              Chúng cư ngụ trong không khí
 
 
Và thường cưỡi trên những làn sóng vi âm từ chiếc radio của chúng mình
 
 
Bởi vậy lúc gần đây tôi đã ngủ trần truồng trên
Sàn nhà    rất sớm    vì sàn nhà
Được làm bằng những con chim và chúng đang bay và tôi đang
Lộn ngược đầu và khoái trá biết chừng nào khi được sướng như vậy!!
 
 
Nói nghiêm túc thì tôi mắc chứng bệnh (bá láp!) tâm thần này
 
                                                                             nó khiến tôi làm những việc
 
                                                                                                       cao và xa
 
Đi thẳng đến cái góc
Của một cái móng tay đã được tỉa tót
Nơi sâu kín và tối tăm     và xanh biếc     và im lặng
 
Nơi tôi có thể đến lúc nào tôi thích
Và ngồi xuống và gõ
                                   Cái trán tôi vào buổi chiều tà
 
Nơi gã ấy cởi bỏ bộ đồng phục
Và chúng mình thấy gã là Thượng Đế
 
Thượng Đế cút đi cho khuất mắt
 
Và gã vừa bỏ chạy vừa kêu lít chít vừa che miệng cười khúc khích
 
Và đó là một điều tuyệt diệu
                                            . . . một chiếc kèn tuba thật ra là một cánh đồng ngập hoa chuông xanh
là một điều tuyệt diệu
 
                         và đó là điều tôi muốn làm
 
Kể cho em nghe những điều tuyệt diệu
 
1969
 
 

KHÔNG CÓ GÌ CẢ TRONG NGĂN KÉO ẤY

 
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
Không có gì cả trong ngăn kéo ấy.
 
1969
 

WHO VÀ EACH

 
Tôi thức dậy sớm vào sáng Chủ nhật
vì có sự cố xảy ra cho tôi rằng chữ
which
có lẽ đã đến từ một kết hợp của chữ who each
và tôi vói lấy cuốn OED
mà theo tôi
(tôi xem nó không phải như
Oxford English Dictionary
mà như là O Erat Demonstrandum)
nó có thẩm quyền tối hậu:
"Hwelc, huelc, hwaelc, huaelc, huoelc, hwaelc, wheche, weche,
whech, qwech, queche, qheche, qwel, quelk, hwilc, wilc, hwilch,
wilch, whilc, whillc, whilk, whylke, whilke, whilk, wilke,
whylk, whilk, quilc, quilke, qwilk, quylk, quhylk, quilk, quhilk,
hwic, wic, hwich, wyche, wich, hwych, wiche, whiche, whyche,
wych, whych, which, quiche, quyche, quich, quych, qwiche,
qwych, qwych, quhich, hwylc, hwulch, hulch, wulc, whulc,
wulch, whulche": Teutonic belching.
     Nhưng trong kiểu chữ in rất nhỏ: "Đối với những kết hợp gewilc,
     aeghwilc, xem chữ Each."
     Bây giờ, nếu bạn muốn nói belching. . . .
     Trời lúc ấy đang mưa ngoài kia
     với những tiếng rít xanh xám của những lốp xe
     trên mặt đường ướt
     tôi sẽ dắt con chó của tôi vào nhà trong chốc lát,
     trên con đường tôi đã lái xe một chiếc máy bay cất cánh
     sáng sớm hôm nay trong một giấc chiêm bao
     chữ La-tinh quisque xuất hiện trước mắt tôi.
     như thể nó có nghĩa là each which
     trong biển của eisdem, quicumque, và uterque.
     Vì thế tôi bỏ ra nhiều ngày,
     chờ cho các bạn tôi chết.
 
1990
 
------------------------------------
Nguyên tác: "Falling in Love in Spain or Mexico", "Wonderful Things", "Nothing in That Drawer" và "Who and Each", trong Postmodern American Poetry: A Norton Anthology, ed. Paul Hoover (New York: W.W. Norton & Company, 1994), 399-408.
 
Những tác phẩm đã đăng trong loạt THƠ HẬU HIỆN ĐẠI:
da Thịt XƯƠNG (bài xướng tụng)   của  Wilding, Faith
"skin Meat BONES (chant)", bài thơ để xướng tụng bằng ba giọng ở ba âm vực khác nhau như một bài hát ba bè, của Anne Waldman (1945~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ, một tên tuổi hàng đầu của thơ trình diễn và thơ đọc — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Chờ   của  Wilding, Faith
"Waiting", một bài thơ nổi tiếng của Faith Wilding (1943~) — nghệ sĩ đa diện và nhà vận động nữ quyền Hoa Kỳ. Đây là một tác phẩm thuộc thể loại "thơ trình diễn" (performance poetry), một thể loại phát triển rất mạnh trong nghệ thuật hậu hiện đại. Bài thơ này gói trọn cuộc sống của người phụ nữ dưới ách phụ quyền vào một chữ "chờ". Thân phận của họ là "chờ", mãi mãi "chờ", từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt. (Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn)
"Rant", bài thơ như một tuyên ngôn, với câu thơ nổi tiếng: "Cuộc chiến hệ trọng duy nhất là cuộc chiến chống lại óc tưởng tượng / mọi cuộc chiến khác đều nằm trong đó". Diane di Prima (1934~) — nhà thơ hậu hiện đại và nhà tranh đấu nữ quyền Hoa Kỳ — đã diễn đọc bài thơ này rất nhiều lần, tại rất nhiều nơi, và luôn luôn chinh phục khán thính giả. Tiền Vệ xin gửi đến độc giả bản dịch Việt ngữ của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Bài thơ của Hiromi Ito (1955~) — một đại biểu của dòng thơ nữ quyền hậu hiện đại Nhật Bản. Bài thơ này đánh ngã quan niệm thẩm mỹ cũ kỹ vốn cho rằng thơ của nữ giới là phải đoan trang, kín đáo, mỹ miều. Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"The Practice of Magical Evocation", "Prophetissa", và "Studies in Light", ba bài thơ rất lạ, với những ẩn dụ và biểu tượng huyền bí xen lẫn vào ngôn ngữ thường nhật đương đại, của Diane di Prima (1934~) — nhà thơ hậu hiện đại và nhà tranh đấu nữ quyền Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Slow song for Mark Rothko", một bài thơ ứng dụng cấu trúc âm nhạc thiểu tố, của John Taggart (1942~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Sói  của  Fujii Sadakazu
Một bài thơ sử dụng huyền thoại dân gian về người đàn bà sói "tuyệt chủng" như một ẩn dụ để diễn tả lối tiếp cận thi ca mới, của Fujii Sadakazu (1942~) — nhà thơ hậu hiện đại Nhật Bản — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"FIVE NOTEBOOKS FOR EXIT ART", một bài thơ có hình thức mới lạ, trông như một bài nghiên cứu từ nguyên, của Cecilia Vicuña (1948~) — nhà thơ hậu hiện đại Chile — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Lost and Found" và "Breasts", hai bài thơ với những liên tưởng rất lạ, của Maxine Chernoff (1952~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Cenotaph", một bài thơ ứng dụng kỹ thuật điện ảnh, qua đó, những đoạn thơ như những khúc phim ngắn xen vào nhau, nối tiếp nhau, của John Yau (1950~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Index", một bài thơ rất khác thường, dưới dạng một bảng tra cứu ở cuối sách, của Paul Violi (1944~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Conjugal", "Ape", "A Performance at Hog Theater", "The Toy-Maker" và "The Optical Prodigal", năm bài thơ văn xuôi với những hình tượng và liên tưởng rất khác thương, của Russel Edson (1935~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Rape", một bài thơ chua cay, quyết liệt, của Jayne Cortez (1939~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"A Bouquet of Objects", "In a Monotonous Dream" và "A Date with Robbe-Grillet", ba bài thơ ngắn, nhưng đầy những khám phá thú vị trong bút pháp, của Equi Elaine (1953~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018