tin & thư | chuyên đề | tác phẩm mới | tác phẩm của tháng | đối thoại | tác giả | gửi bài | góp ý |
dẫn nhập | nhận định | tác phẩm | thảo luận |
danh mục chuyên đề
Thực hành triệu linh bí nhiệm | Prophetissa | Những nghiên cứu về ánh sáng  [chuyên đề  VĂN NGHỆ HẬU HIỆN ĐẠI]
Hoàng Ngọc-Tuấn dịch
 
Diane di Prima (nhà thơ, nhà văn, nhà giáo và nhà tranh đấu cho nữ quyền) sinh năm 1934 tại Brooklyn, New York, thuộc thế hệ thứ hai của người di dân gốc Ý. Bà bắt đầu viết từ năm lên 7 tuổi, và năm lên 14 tuổi đã quyết định sẽ sống trọn đời mình như một thi sĩ.
      Năm 1953, lúc được 19 tuổi, Diane bắt đầu nghiệp thơ và dấn thân vào những cuộc đấu tranh xã hội. Năm ấy, bà gặp và trao đổi thư từ với Ezra Pound lúc ông còn bị chính phủ Hoa Kỳ gán cho bệnh điên và nhốt tại bệnh viện tâm thần St. Elizabeth ở  Washington, D.C. Năm 1957, bà tiếp xúc với Allen Ginsberg, Kerouac và những khuôn mặt chính của phong trào thơ Beat, và dần dần, bà trở thành cây bút nữ quan trọng nhất của phong trào này. Cũng trong thời gian ấy, bà cùng các bạn đứng ra sáng lập tổ chức sân khấu New York Poets Theatre, và nhà xuất bản Poets Press, chuyên phổ biến tác phẩm của những cây bút mới đương thời.
      Năm 1958, bà xuất bản tập thơ đầu tay This Kind of Bird Flies Backward; và năm 1960, tác phẩm văn xuôi, Dinners and Nightmares. Năm 1961, lúc đã dời về sống ở khu Lower East Side, thuộc Manhattan, bà bắt đầu cùng với nhà thơ Amiri Baraka (LeRoi Jones) biên tập tạp chí văn chương The Floating Bear. Ngay năm ấy, ban biên tập của tạp chí này bị FBI bắt giam vì tội truyền bá văn chương dâm uế, nhưng sau đó toà thượng thẩm đã dẹp bỏ vụ án này. Cũng trong năm ấy, bà giao lưu với các thi sĩ và hoạ sĩ của nhóm San Francisco Renaissance như Michael McClure, Jay DeFeo, and Bruce Conner. Năm 1963, Diane di Prima cho ra đời tập thơ The New Handbook of Heaven. Năm 1965, bà dời lên gần New York và tham gia cộng đồng psychedelic của Timothy Leary ở Millbrook. Thế rồi, dấn thân vào xã hội như một nhà thơ tranh đấu cho nữ quyền và sự đổi thay văn hoá, bà lái chiếc xe buýt Volkswagen đi khắp nơi, đọc thơ ở các giáo đường, quán cà-phê, nhà tù và trường học.
      Năm 1968, bà dời xuống San Francisco, thụ giáo với thiền sư Shenryu Suzuki Roshi. Tác phẩm nổi danh nhất trong thời trẻ của bà là Revolutionary Letters, ra mắt năm 1971. Cùng năm ấy, bà khởi sự viết trường thi Loba. Một phần của trường thi này (từ chương 1 đến chương 8) được xuất bản năm 1978. Trường thi bắt đầu với một giấc chiêm bao mà Diane di Prima đã trải qua ở Wyoming, bà thấy mình bị một con sói đuổi theo:
      ... ở một quãng đường nào đó, tôi xoay người lại và nhìn thẳng vào mắt con vật này, và tôi nhận ra, trong giấc chiêm bao ... con sói trắng to lớn này, chiếc đầu trắng xinh đẹp này, tôi đã nhận ra nó là một nữ thần mà tôi đã từng biết ở châu Âu cách đây lâu lắm. Chưa từng đọc về bất cứ nữ thần sói nào ở châu Âu, tôi chỉ bất giác nhận ra nó là nữ thần. Và chúng tôi đứng nhìn nhau một lúc rất lâu.
 
      Với tâm thức hậu hiện đại, Diane di Prima gạt bỏ những lối đi "chính thống", chối từ những quan điểm phổ thông đương thời. Thay vào đó, bà quan sát đời sống qua những góc nhìn đa văn hoá. Bà thích thú tìm hiểu những truyền thống tâm linh của châu Âu thời xa xưa, trước khi có Thiên chúa giáo; đồng thời, bà say mê nghiên cứu Phật giáo Mật tông Tây Tạng, và trở thành môn sinh của Đức Lạt Ma Chogyon Trungpa Rinpoche. Bà học tiếng Sanskrit, thuật chế kim (alchemy) và thực hành Thiền toạ. Từ năm 1980 đến 1986 bà giảng dạy về thơ bí nhiệm tại New College ở California. Góp phần vào việc truyền bá những tiếp cận mới về thi pháp, bà cũng đã tham gia giảng dạy tại trường Jack Kerouac School for Disembodied Poetics.
      Bà đang sống và làm việc tại San Francisco, nơi bà là đồng sáng lập viên và giáo sư của học viện San Francisco Institute of Magical and Healing Arts.
 
      Allen Ginsberg (1926-1997), tiếng thơ đầu đàn của phong trào Beat, đã nhận định về bà như sau:
      "Diane di Prima, nhà vận động cách mạng của cuộc hồi sinh văn chương của thế hệ Beat vào những năm 1960, anh hùng trong cuộc sống và thi pháp: một du tử khôi hài và thông tuệ, hấp thụ một nền giáo dục kinh điển nhưng trở thành nhà cải cách triệt để của thế kỷ 20. Tác phẩm của bà, được soi sáng bởi đức tĩnh tại của Phật giáo, là điển hình của lối thơ duy ảnh, mang tính chính trị và màu sắc huyền bí. Là một nữ thi sĩ vĩ đại của nước Mỹ hậu bán thế kỷ 20, bà phá vỡ những rào cản của chủng tộc và giai cấp, để tạo nên một khối đồ sộ của những tác phẩm thi ca sáng chói..."
 
 
 
DIANE DI PRIMA
(1934~)
 
 

THỰC HÀNH TRIỆU LINH BÍ NHIỆM

 
           Người đàn bà là nơi nẩy nở sinh sôi, và sự hà khắc
            (trái tự nhiên) chỉ
                       làm nàng rối loạn
                                            -- GARY SNYDER
 
tôi là một người đàn bà và những bài thơ của tôi
thuộc về đàn bà:          dễ dàng để nói
điều này       phái nữ dễ kéo thành sợi
    (hết đợt này đến đợt khác)
được tạo nên cho sự lặng lẽ
khổ dục.      Dây thần kinh vô cảm
là một phần của điều đó:
làm tình tỉnh táo, võng mạc trơ trơ
cặp mắt cá;        ở chân sợi tóc
cảm nhận rất mơ hồ
 
 
và cấu trúc xương chậu thích ứng với nhiệm vụ
chịu sự rấn vào trong & rấn ra ngoài
(rặn lòi ra)     cái lồn nở rộng
và tương đối trơn ướt
rặn lòi ra đàn ông trẻ nít chỉ có
                                        đàn bà
                                        là
                                        dễ kéo thành sợi
 
đàn bà, một tấm màn mà cái Ý Muốn ấy chĩa thẳng xuyên qua nó
hai lần bị đâm thủng
hai lần bị đâm thủng
                      thủng vào trong & thủng ra ngoài
dòng chảy
tiết tấu nào thêm vào sự bất động
tiếng vỗ tay nào?
 
                         1975
 
 

PROPHETISSA*

 
           Hai sinh ra từ Một
           Ba sinh ra từ Hai
           và từ Ba sinh ra
           Bốn, như cái đầu tiên
                      MARIA NHÀ TIÊN TRI
                      (NHÀ ALCHEMIST THẾ KỶ THỨ HAI)
 
Hai từ Một:
 
hãy biết cơn gió này là
                                 lửa.     Ngọn lửa
là quả tim của đá.
                         Mái vòm cong vút nhảy vọt lên
từ ngôi sao đen còi cọc xoáy
theo đường trôn ốc đôi.     Và hãy biết
 
ngọn lửa này là lời nói.     Chữ.
 
Vỡ tung trong cái lồn hay lỗ đít
                                   vỡ tung
trong cái miệng bị bụm lại & căng cứng
                                    Cái
chữ đéo ấy.      Hoả tâm của những ngôi sao khi chúng
xoay tròn & nghiêng về chạm đến
                                            nắm lấy quỹ đạo
xoáy ốc
                 & đến đích
 
 
Ba từ Hai:
 
Cong
           như cái cung.     Đây là
giấc mơ của hình tam giác.       Kim tự tháp.
Tác Phẩm
                  xuyên qua tấm mạng che mặt đầu tiên.      Xoay chuyển
ngôi sao đôi.
              Vẽ nên khoảng hở bên cạnh chỉ
đủ
    cho ngôi sao kia toả ánh sáng.
                              Như xuyên qua một lỗ kim
trên một tấm màn đen.
                               Gió
ngược vào tim chúng ta
                                 & chúng ta nhảy múa & biết
một lần nữa
               y là kẻ Khác
                               với lửa.
 
 
& từ Ba
sinh ra Bốn, như Một:
 
đây là sự Bí Mật mà chúng ta
là ẩn dụ của nó. Hay là cái vũ-
trụ                4-phương thành hình
trải dài ra trên trục tung hoành tâm vật
trong Ánh Sáng.
 
                    Lọc các màu        đỏ
lục        chàm                        & khác
hơn là những ngọn gió.
Những tố chất ấy thì khác hơn là những cơn gió.
& không quá dễ bị đánh lừa.
                                       Được xoa dịu.
 
Sự đình chỉ này
                                         của những phân tử thời gian
trong một khoảng trống rỗng.
                                         Chúng ta đã biết nó lúc nào
trừ lúc cô đơn?                     & và thế nên nó là
                                                                & không là
Thật
     đối với chúng ta.
                           Đó là gốc rễ của tình yêu.
Bốn như một.
 
 
                                Tôi phản chiếu
bạn
            người mà bạn yêu                   bạn       phản chiếu
vân vân                 & tuy nhiên
                                            chúng ta xoay vòng nhị phân
cực kỳ tinh tế
                      thuần khiết như một ngôi chuẩn tinh.
                                                               Chúng ta là
sự bí mật mà điều này
                              là ẩn dụ của nó
Ồ hãy thở
               vào lớp da của tôi.
                                
 
----------------------
* PROPHETISSA: tức là Maria Prophetissa hay nhà nữ tiên tri Do Thái Miriam, một nhà nghiên cứu và thực hành thuật chế kim (biến kim loại thành vàng), nổi danh với tiên đề "Hai sinh ra từ Một, Ba sinh ra từ Hai, và từ Ba sinh ra Bốn, như cái đầu tiên". Mệnh đề huyền bí này đã được ứng dụng vào thuật chế kim suốt gần hai ngàn năm. (người dịch)
 
 

NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ ÁNH SÁNG

 
claritas:
 
mặt trời
            rơi vào trong giọt sương
nhấp nháy
một     dáng đẹp
chúng ta đứng phía ngoài
 
candor:
 
ánh sáng
              một dòng hợp xướng dâng lên
làm đầy
những đường nét của kiến trúc
giáo đường
dinh thự
                    nhà hát
 
lumen:
 
ánh sáng
như một nét chữ tượng hình viết ra chính nó
viết mãi & viết mãi, trên mặt
nước, chuyển động bất biến
khôn dò
 
lux:
 
mũi kim
đâm ra
từ lõi
đất
những tia cực mỏng
nhọn hoắt       sáng
 
 
-------------------------
Nguyên tác: "The Practice of Magical Evocation", "Prophetissa", và "Studies in Light", trong Diane di Prima, Pieces of a Song: Selected Poems (New York: City Lights, 1990). Bài thơ "The Practice of Magical Evocation" được chọn vào tuyển tập Postmodern American Poetry: A Norton Anthology, ed. Paul Hoover (New York: W.W. Norton & Company, 1994), 273. Hai bài "Prophetissa" và "Studies in Light" được chọn vào tuyển tập Poems for the Millennium: The University of California Book of Modern & Postmodern Poetry, Volume Two, eds. Jerome Rothenberg & Pierre Joris (Berkeley: University of California Press, 1998) 377-380.
 
 
Những tác phẩm đã đăng trong loạt THƠ HẬU HIỆN ĐẠI:
"skin Meat BONES (chant)", bài thơ để xướng tụng bằng ba giọng ở ba âm vực khác nhau như một bài hát ba bè, của Anne Waldman (1945~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ, một tên tuổi hàng đầu của thơ trình diễn và thơ đọc — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Chờ   của  Wilding, Faith
"Waiting", một bài thơ nổi tiếng của Faith Wilding (1943~) — nghệ sĩ đa diện và nhà vận động nữ quyền Hoa Kỳ. Đây là một tác phẩm thuộc thể loại "thơ trình diễn" (performance poetry), một thể loại phát triển rất mạnh trong nghệ thuật hậu hiện đại. Bài thơ này gói trọn cuộc sống của người phụ nữ dưới ách phụ quyền vào một chữ "chờ". Thân phận của họ là "chờ", mãi mãi "chờ", từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt. (Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn)
"Rant", bài thơ như một tuyên ngôn, với câu thơ nổi tiếng: "Cuộc chiến hệ trọng duy nhất là cuộc chiến chống lại óc tưởng tượng / mọi cuộc chiến khác đều nằm trong đó". Diane di Prima (1934~) — nhà thơ hậu hiện đại và nhà tranh đấu nữ quyền Hoa Kỳ — đã diễn đọc bài thơ này rất nhiều lần, tại rất nhiều nơi, và luôn luôn chinh phục khán thính giả. Tiền Vệ xin gửi đến độc giả bản dịch Việt ngữ của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Bài thơ của Hiromi Ito (1955~) — một đại biểu của dòng thơ nữ quyền hậu hiện đại Nhật Bản. Bài thơ này đánh ngã quan niệm thẩm mỹ cũ kỹ vốn cho rằng thơ của nữ giới là phải đoan trang, kín đáo, mỹ miều. Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Slow song for Mark Rothko", một bài thơ ứng dụng cấu trúc âm nhạc thiểu tố, của John Taggart (1942~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
Sói  của  Fujii Sadakazu
Một bài thơ sử dụng huyền thoại dân gian về người đàn bà sói "tuyệt chủng" như một ẩn dụ để diễn tả lối tiếp cận thi ca mới, của Fujii Sadakazu (1942~) — nhà thơ hậu hiện đại Nhật Bản — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"FIVE NOTEBOOKS FOR EXIT ART", một bài thơ có hình thức mới lạ, trông như một bài nghiên cứu từ nguyên, của Cecilia Vicuña (1948~) — nhà thơ hậu hiện đại Chile — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Lost and Found" và "Breasts", hai bài thơ với những liên tưởng rất lạ, của Maxine Chernoff (1952~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Cenotaph", một bài thơ ứng dụng kỹ thuật điện ảnh, qua đó, những đoạn thơ như những khúc phim ngắn xen vào nhau, nối tiếp nhau, của John Yau (1950~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Index", một bài thơ rất khác thường, dưới dạng một bảng tra cứu ở cuối sách, của Paul Violi (1944~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Conjugal", "Ape", "A Performance at Hog Theater", "The Toy-Maker" và "The Optical Prodigal", năm bài thơ văn xuôi với những hình tượng và liên tưởng rất khác thương, của Russel Edson (1935~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Falling in Love in Spain or Mexico", "Wonderful Things", "Nothing in That Drawer" và "Who and Each", bốn bài thơ với bốn thi pháp hoàn toàn khác nhau, của Ron Padgett (1942~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"Rape", một bài thơ chua cay, quyết liệt, của Jayne Cortez (1939~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.
"A Bouquet of Objects", "In a Monotonous Dream" và "A Date with Robbe-Grillet", ba bài thơ ngắn, nhưng đầy những khám phá thú vị trong bút pháp, của Equi Elaine (1953~) — nhà thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ — được giới thiệu đến bạn đọc Tiền Vệ qua bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn.

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018