tin & thư | chuyên đề | tác phẩm mới | tác phẩm của tháng | đối thoại | tác giả | gửi bài | góp ý |
dẫn nhập | nhận định | tác phẩm | thảo luận |
danh mục chuyên đề
Với đôi mắt nhắm  [chuyên đề  CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC THẦN KỲ TRONG VĂN CHƯƠNG]

 

Bản dịch Hoàng Tân Nhân & Hoàng Tân Dân.
Tiền Vệ hiệu đính.

 

REINALDO ARENAS

(1943-1990)

Ảnh: Dolores Koch

 

Reinaldo Arenas — sinh năm 1943 tại Holguin, Cuba; lên tàu Mariel vượt biển qua sống tại Hoa kỳ từ năm 1980 — là một trong những nhà văn được nhiều người đọc và được hoan nghênh nhất của thế hệ hậu cách mạng ở Cuba. Ba cuốn đầu trong tác phẩm bộ năm (“Pentagonia” — như ông vẫn gọi) đã chứng thực ông là một tài năng dữ dội; Singing from the Well (ông viết năm 23 tuổi), The Palace of the White Skunks, và Farewell to the Sea (nhà xuất bản Viking, 1987, 1990 và 1986) đều được in lại trong loại sách bìa mỏng Penguin. Ngoài cuốn hồi ký Before Night Falls của ông xuất bản năm 1993 được đưa lên màn ảnh, Arenas còn có sáu tiểu thuyết, kể cả The Ill-Fated Peregrinations of Fray Servando (cuốn tiểu thuyết được nhiều nhà phê bình xếp vào loại hậu hiện đại, bản dịch tiếng Pháp Le monde hallucinant (1968) từng đoạt Giải thưởng tiểu thuyết nước ngoài hay nhất ở Pháp, một năm trước khi nguyên tác được in ở Mexico, khiến cho tác giả sống dở chết dở với chính quyền độc tài ở quê nhà), năm truyện vừa, truyện ngắn, tiểu luận, nhiều vở kịch sân khấu thể nghiệm, và thơ — trong đó có Old Rosa, Graveyard of Angels ; riêng The Doorman, tác phẩm đầu tiên lấy bối cảnh Hoa kỳ, là một sáng tác mang tính huyễn hoặc, châm biếm và đầy nhân tính. Cuốn sau cùng được xuất bản của ông có thể là The Assault (Viking, 1994), tác phẩm khép lại và đưa lên đỉnh cao sự nghiệp của một nhà văn mà Octavio Paz từng gọi là “xuất sắc... cả trong giá trị tinh thần lẫn tài năng.” Ông mất tại New York City năm 1990.
 
Reinaldo Arenas cũng từng xuất hiện trong bộ phim Fire in the Amazon, cùng với Sandra Bullock.

 

____________________

 

VỚI ĐÔI MẮT NHẮM

 

 

Tôi sẽ kể cho các bạn nghe những gì đã xảy đến với tôi ngày hôm qua bởi vì tôi biết rằng các bạn sẽ không cười nhạo hay la lối với tôi. Nhưng mẹ tôi thì không như vậy. Tôi sẽ không kể cho mẹ tôi chuyện gì, bởi vì nếu tôi kể, mẹ sẽ mắng tôi và rầy rà với tôi. Và ngay cả khi có thể là mẹ đúng, tôi cũng không muốn phải nghe bất cứ lời khuyên hay cảnh cáo nào. Tôi sẽ kể hết cho các bạn nghe là chính vì vậy, bởi lẽ tôi biết rằng các bạn sẽ không nói gì.

Từ năm tôi lên tám tuổi, tôi phải đi học mỗi ngày. Mỗi buổi sáng chiếc đồng hồ báo thức dì Angela tặng tôi thức tôi dậy thật sớm bởi vì trường tôi nằm hơi xa nhà.

Vào khoảng sáu giờ sáng mẹ bắt đầu léo nhéo lôi tôi dậy và đến bảy giờ thì tôi ngồi trên giường dụi mắt. Sau đó tôi phải làm đủ mọi chuyện một cách vội vàng: mặc quần áo, chạy đến trường, và lao như điên vào hàng vì chuông đã rung và người giáo viên thì đang đứng ngay trước cửa lớp.

Nhưng ngày hôm qua thì khác bởi vì dì Angela phải đi Oriente* và dì sẽ lấy chuyến xe lửa trước 7 giờ sáng. Thế là có nhiều chuyện xáo trộn trong nhà. Tất cả những người hàng xóm đều đến chào tạm biệt dì, và mẹ thì lúng túng đến nỗi khi mẹ sắp đổ nước sôi vào cái lọc cà phê, mẹ đã đánh rơi cái ấm xuống sàn và bị phỏng chân.

Tôi không còn cách gì khác là phải thức dậy bởi tiếng ồn ào không chịu nổi ấy. Bởi vì bấy giờ tôi đã tỉnh, tôi quyết định dậy luôn và đó là lúc tất cả những phiền phức của tôi bắt đầu.

Dì Angela, sau những cái hôn hít và ôm quàng, cuối cùng đã ra đi. Tôi lập tức đi đến trường mặc dù lúc ấy vẫn còn khá sớm.

“Hôm nay tôi không cần phải chạy,” tôi sung sướng nghĩ. Và tôi bắt đầu đi bộ từ từ. Khi tôi sắp sửa băng qua đường, tôi vấp phải một con mèo nằm trên lề đường. “Chọn chỗ ngủ như thế thì thôi,” tôi nói, và tôi lấy mũi giày chạm vào nó. Nhưng nó không hề nhúc nhích. Thế là tôi ngồi xổm xuống cạnh nó và biết chắc là nó đã chết. “Thật tội nghiệp,” tôi nghĩ. Chắc hẳn nó bị xe cán và có ai đó đã đem đặt nó trên lề đường để khỏi bị xe hơi cán qua cán lại. Thật là tủi thân, bởi vì nó là một con mèo to màu vàng, và có lẽ chết như thế là quá sớm. Thôi, còn làm gì được bây giờ? Thế là tôi lại tiếp tục đi.

Bởi lẽ vẫn còn sớm, tôi đi đến tiệm bán bánh kẹo, vì mặc dù ở xa trường, ở đó luôn có kẹo mới ra lò và thơm ngon. Trước tiệm bánh kẹo này có hai bà lão, mỗi bà có một chiếc giỏ nhỏ và bàn tay xoè rộng, xin tiền. Có một lần, tôi cho mỗi bà một đồng năm xu và cả hai bà đồng thanh nói với tôi “Tạ ơn cậu”. Điều đó làm tôi buồn cười và tôi đặt hai đồng năm xu khác vào hai bàn tay nhăn nheo và đầy tàn nhang ấy. Và cả hai lặp lại “Tạ ơn cậu” nhưng lần này nghe nó không còn buồn cười như lần trước nữa. Và từ ấy, mỗi lần tôi đi ngang đó, họ nhìn tôi chờ đợi và tôi không còn cách nào khác hơn là cho mỗi bà một đồng năm xu. Ngày hôm qua thật sự là tôi không thể cho họ cái gì, bởi vì tôi đã xài đồng hai mươi lăm xu cuối cùng cho mấy cái bánh bọc sô cô la. Và đó là lý do tại sao tôi đi ra bằng cửa sau, để cho mấy bà lão khỏi trông thấy tôi.

Tôi chỉ cần băng qua cầu và đi bộ qua hết hai khu phố là đến trường.

Tôi đứng trên cầu một lúc bởi vì tôi nghe nhiều tiếng ồn ào phía dưới, ngay mé sông. Tôi tựa vào thành cầu và nhìn xuống. Một đám trẻ con lớn nhỏ vây bắt một con chuột nước và đang hò hét và ném đá vào con vật. Con chuột chạy từ phía này qua phía kia, nhưng không có lối thoát và nó gào thét inh ỏi và tuyệt vọng. Rồi thì một trong những đứa trẻ con lượm một thanh tre lớn và đánh mạnh vào con chuột, đánh trên lưng con vật, và làm nó chết bẹp. Đám trẻ còn lại ùa chạy đến chỗ con con chuột vật và nhặt lấy nó, vừa đắc thắng la hét và nhảy nhót vừa ném con vật xuống giữa dòng sông. Nhưng con chuột chết vẫn không chìm. Nó tiếp tục trôi ngửa cho đến khi bị dòng nước cuốn đi.

Đám trẻ con mang cái ồn ào của chúng đi về mé sông bên kia. Và tôi tiếp tục bước đi.

“Đi bộ trên cầu thật là dễ dàng,” tôi nghĩ. Tôi có thể nhắm mắt mà đi như vậy, bởi vì một bên cầu có nhiều thanh chắn để bạn khỏi té xuống nước, và bên kia thì có lề đường báo hiệu khi bạn sắp bước xuống lòng đường. Và để chứng minh điều đó, tôi nhắm mắt lại và tiếp tục bước đi. Lúc đầu tôi còn bám vào thành cầu bằng một tay, nhưng một lúc sau, tôi không còn cần nó nữa. Tôi tiếp tục nhắm mắt bước đi, nhưng mà bạn đừng cho mẹ tôi biết đấy. Nhắm mắt như vậy, bạn có thể nhìn thấy nhiều thứ và có khi còn thấy rõ hơn cả khi bạn mở mắt... Cái đầu tiên tôi thấy là một đám mây lớn màu vàng còn rực rỡ hơn những đám mây khác; nó trông giống như mặt trời khi mọc phía sau lùm cây. Thế rồi tôi nhắm mắt chặt hơn nữa và đám mây phơn phớt đỏ bấy giờ trở thành lam. Mà không chỉ lam, còn xanh và tím nữa. Đám mây rực rỡ màu tím giống như màu tím trên chiếc cầu vồng bảy màu xuất hiện khi mưa lớn và đất đai thì gần như ẩm thấp hết.

Và, với đôi mắt nhắm như thế, tôi bắt đầu nghĩ đến đủ mọi thứ chuyện. Tôi vẫn không hề dừng chân. Tôi thấy dì Angela rời khỏi nhà, không phải trong chiếc áo đầm lấm chấm đỏ dì vẫn luôn mặc khi dì đi Oriente, mà trong một chiếc áo đầm dài, màu trắng. Và dì thì rất cao, dì trông giống như một cột điện thoại bọc trong giấy. Nhưng dì trông rất dễ thương.

Tôi tiếp tục đi và tôi vấp phải một con mèo đang nằm trên lề đường. Nhưng lần này, khi tôi dùng bàn chân chạm vào nó, nó nhảy chồm lên và chạy mất. Con mèo màu vàng sáng chạy mất vì nó còn sống và nó hoảng sợ khi tôi đánh thức nó. Và tôi phá ra cười khi con vật chạy biến đi, với cái lưng cong vòng trông giống như nó đang bắn ra những tia lửa.

Tôi tiếp tục bước đi, với đôi mắt nhắm, dĩ nhiên. Và tôi đã đi đến tiệm bán bánh kẹo theo cách như vậy đó. Nhưng bởi lẽ tôi không thể mua một cục kẹo nào là vì tôi đã xài hết đồng hai mươi lăm xu cuối cùng của tôi, tôi vẫn thấy hạnh phúc dù chỉ được nhìn cục kẹo qua cửa kính của tiệm. Và trong lúc tôi đang làm như vậy, đang nhìn mấy cục kẹo một cách thèm thuồng, thì tôi nghe hai giọng nói từ đàng sau quầy hàng hỏi tôi: Cậu có muốn một cục kẹo không?” Và khi tôi ngước nhìn lên, tôi nhận ra hai bà bán hàng chính là hai bà lão lúc nào cũng ngồi ăn xin trước cửa tiệm bánh kẹo. Tôi chẳng còn biết nói gì nữa. Nhưng họ có vẻ đoán ra được cái tôi muốn. Họ mỉm cười, và lấy ra một cái bánh hạnh nhân bọc sô cô la to tướng và đặt nó vào tay tôi.

Tôi rất sung sướng có cái bánh khổng lồ đó và bước ra khỏi tiệm.

Khi tôi đang bước đi trên cầu với cái bánh cầm tay, lần nữa tôi lại nghe tiếng ồn ào của đám trẻ con. Và (với đôi mắt nhắm) tôi nhìn qua thành cầu và thấy chúng đang bơi nhanh ra giữa sông để cứu một con chuột nước bởi vì con vật tội nghiệp có vẻ như đang đau và không bơi được.

Đám trẻ con đem con chuột run rẩy ra khỏi nước và đặt nó lên một tảng đá để nó sưởi khô giữa nắng. Sau đó tôi gọi chúng lại để chúng tôi cùng ăn cái bánh hạnh nhân bọc sô cô la. Tôi không thể nào ăn hết cái bánh to như vậy một mình.

Tôi thực sự sắp gọi chúng lại, và tôi thậm chí còn đưa cao cái bánh lên để chúng có thể thấy nó và không nghĩ là tôi nói dối. Chúng chạy đến, nhưng ngay lúc đó, rầm! Một chiếc xe tải đụng tôi ngay giữa đường, ở đúng cái chỗ mà tôi đang đứng mà không hề hay biết.

Và bây giờ tôi ở đây, với đôi chân bó bột trắng. Bột bó chân trắng như những bức tường của căn phòng có những người đàn bà mặc đồng phục trắng đi vào để cho tôi một mũi chích hay một viên thuốc mà tình cờ cũng lại là màu trắng.

Và các bạn đừng nghĩ rằng những gì tôi vừa kể cho các bạn nghe là chuyện bịa đặt. Đừng nghĩ rằng vì tôi hơi bị sốt và thỉnh thoảng lại than phiền về cơn đau nơi chân nên tôi nói dối. Và nếu các bạn muốn biết nó có thật hay không, hãy đi lên cầu. Có thể cái bánh vẫn còn đó, bị dẹp nát trên nhựa đường, cái bánh hạnh nhân bọc sô cô la khổng lồ mà hai bà lão đã tươi cười làm quà cho tôi.

 

Bản Việt văn dưới nhan đề “Nhắm mắt” đã đăng lần đầu trên tờ Ngày mới, SLC Xuân 1995.

 

Dịch từ bản tiếng Anh “With My Eyes Closed” của Cynthia L. Ventura trong Where Angels Glide at Dawn — New Stories from Latin America, do Lori M. Carlson và Cynthia L. Ventura biên tập, Isabel Allende giới thiệu (New York: J.B. Lippincott, 1990).
 
-------------
Chú thích:
Bức minh họa ở đầu truyện là tranh mộc bản của José Ortega, hoạ sĩ người Ecuador, tốt nghiệp School of Visual Arts, New York.
* Oriente: một tỉnh ở phía đông Cuba.
 
Phụ chú của Tiền Vệ:
Độc giả có thể đọc nguyên tác tiếng Tây-ban-nha, "Con los ojos cerrados" [Với đôi mắt nhắm], trong Reinaldo Arenas, Termina el desfile [Kết thúc cuộc diễu hành] (Barcelona: Seix Barral, 1981). Đây là ấn bản chính thức được tác giả cho phép xuất bản lần đầu. Năm 1968, truyện ngắn "Con los ojos cerrados" được bằng khen của Hội Nhà Văn Cuba, nhưng rồi, ngay sau đó, tác phẩm của Reinaldo Arenas lại bị cấm lưu hành ở Cuba. Reinaldo Arenas lén chuyển hai bản photocopy của bản thảo tập truyện ngắn của mình ra nước ngoài, và một bản rơi vào tay của một người mang tên Angel Rama. Người này đã tự ý xuất bản tập truyện ngắn dưới nhan đề Con los ojos cerrados tại Uruguay vào năm 1972, không có sự đồng ý của tác giả. Đến năm 1980, khi Reinaldo Arenas vượt biển sang Hoa-kỳ, ông mới phát hiện sự việc này và rất bất bình. Năm 1981, ông cho phép nhà xuất bản Seix Barral ở Barcelona, Tây-ban-nha, chính thức in tập truyện ngắn dưới nhan đề Termina el desfile, và ở trang đầu, ông đề tặng cho nhà văn Cuba lưu vong Jaime Manrique: "con amor y admiracion, su amigo y lector" (với lòng thương yêu và ngưỡng mộ, từ người bạn và độc giả của anh). Cũng như Reinaldo Arenas, Jaime Manrique là người đồng tính luyến ái.
 
Năm 1968, khi truyện ngắn "Con los ojos cerrados" vừa nhận bằng khen của Hội Nhà Văn Cuba, những tai hoạ lập tức xảy đến cho Reinaldo Arenas chỉ vì có kẻ đã báo cáo với Đảng rằng ông là một người đồng tính luyến ái. Hội Nhà Văn Cuba xem đồng tính luyến ái là một biểu hiện "nguy hiểm cho xã hội". Sau đó, khi sách của Reinaldo Arenas được dịch và xuất bản ở Pháp, Hội Nhà Văn Cuba kết án ông là "chống lại ý thức cách mạng". Ông bị bắt nhốt ở nhà tù El Morro hai năm, trước khi ông vượt biển sang Hoa-kỳ và trở thành một nhà văn tự do.
 
Reinaldo Arenas tự tử tại New York City vào năm 1990, để lại một khối tác phẩm đồ sộ: bảy cuốn tiểu thuyết, một cuốn tiểu luận, một tự truyện, và nhiều bài thơ. Nhà xuất bản Tusquets ở Tây-ban-nha đã ấn hành tất cả di cảo của ông.
 
Tiền Vệ
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018