Padilla, Heberto
tiểu sử &  tác phẩm 

HEBERTO PADILLA (1932-2000) là «một trong những nhà thơ quan trọng nhất của thế giới Tây-ban-ngữ hiện đại». Ông sinh tại Pina del Rio, Cuba năm 1932, và mất tại Alabama, Hoa-kỳ ngày 20.9.2000. Ông đã từng sống tại Hoa-kỳ giữa những năm 1949 và 1959. Ủng hộ cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài Batista, ông trở về Cuba, gia nhập bộ biên tập tờ Lunes de Revolución, rồi trở thành phóng viên của Prensa Latina ở Luân-đôn và Mạc-tư-khoa...

Khởi sự làm thơ khá sớm, ông cho xuất bản cuốn sách đầu tiên Las rosas audaces vào năm 1948 (hay 1949?) Trong những năm 1960, chế độ nắm quyền, không chấp nhận sự phê phán, đã để lộ khuynh hướng muốn áp chế trí thức và văn nghệ sĩ... Năm 1968, các giám khảo cuộc thi thơ toàn quốc quyết định trao giải thưởng hằng năm cho thi tập Fuera del juego của Padilla. Cuốn sách được in ra với một phần phụ lục chỉ trích nó như một tác phẩm «phản-cách mạng»! Padilla bị canh chừng, theo rõi và đến năm 1971 thì bị công an tra hỏi trong một tháng, bắt làm kiểm thảo, thú nhận công khai và tố cáo nhiều nhà văn khác, kể cả vợ ông là Belkis Cuza Malé...

«Vụ» này đã khiến dư luận thế giới lên tiếng phản đối và nhiều nhân vật rút lại sự ủng hộ cách mạng Cuba, trong số đó có Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Julio Cortazár, Mario Vargas Llosa, Susan Sontag, Juan Goytisolo, Federico Fellini, Marguerite Duras, Alberto Moravia...; và 72 văn nghệ sĩ khác lên án các biện pháp độc tài và không bao giờ trở lại Cuba nữa. Tuy nhiên, cũng có một số các nhà văn khác, kể cả nhà văn đoạt giải Nobel Gabriel García Marquez, theo lời ký giả Nick Caistor của tờ The Guardian (14.10.2000), «nhận thấy những hy sinh này là cần thiết trong một chế độ bị Hoa-kỳ bao vây».

Padilla tiếp tục sống ở Cuba cho đến năm 1980, nhờ sự can thiệp quốc tế, ông được phép qua Hoa-kỳ. Ông tiếp tục làm thơ, viết tiểu thuyết và hồi ký; dạy đại học nhiều năm ở Princeton, New York, Miami rồi Auburn University ở Alabama, nơi người ta tìm được xác ông tại nhà riêng khi không thấy ông đến lớp dạy học buổi sáng... .

Một vài thi phẩm khác của Padilla: El justo tiempo humano (1962), Provocacíones (1973), El hombre junto al mar (1981), Un puente, una casa de piedra (1998); tiểu thuyết: El buscavidas (1963), En mi jardín pastan los héroes (1986); và tùy bút tự sự: La mala memoria (1989).

Bạn đọc Pháp văn có thể đọc Heberto Padilla và các nhà thơ Cuba khác trong Anthologie de la poésie cubaine censurée, do Zoé Valdés đề nghị, Fnac, Reporters sans frontières và Gallimard xuất bản, tủ sách «la collection interdite», Paris, 2002.

(Diễm Châu biên soạn)

tác phẩm

Những chỉ dẫn về cách bước vào một xã hội mới | Ra khỏi cuộc chơi  (thơ) 
Một: lạc quan. / Hai: khôn khéo, biết kiềm chế, vâng lời... Và, cuối cùng, hãy bước đi / giống như mọi thành viên khác: / một bước tiến, và / hai hay ba bước lùi: / nhưng luôn miệng hoan hô... | Đuổi cổ thằng thi sĩ ra ngoài! / Nó chẳng dính dấp gì đến nơi này. / Không chịu tham gia vào cuộc chơi. / Không nhiệt tình. / Không nói năng gì rõ ràng cả. / Thậm chí không lưu ý đến những phép lạ. / Suốt ngày cứ nghĩ ngợi. / Luôn luôn kiếm chuyện để phàn nàn... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn]

Thay phiên | Đôi khi những ý nghĩ bậy bạ ấy | Theo những nhà thơ anh hùng ca | Người nằm kề bên biển  (thơ) 
Mỗi một lần xô cửa, / bước vào hoặc bước ra một thế hệ... | Nếu như Maiakovski là / nền thi ca cách mạng vĩ đại của thời chúng ta... | Này thi sĩ, anh đừng quên... | Có một người nằm kề bên biển... [Bản dịch Diễm Châu]

Bài ca của tháp Spaskaia | Hợp đề | Vào thời buổi khó khăn  (thơ) 
Người canh giữ / tháp Spaskaia / không biết / rằng ngọn tháp của mình chỉ là gió... | Mỗi ngày tôi đều cho con chim sẻ ăn./ Tôi biết vẫn là một con chim ấy... | Con người ấy, người ta đã đòi hỏi y thời gian của y / để thêm vào thời gian của Lịch sử... [Bản dịch Diễm Châu]


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2014