thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
AQUARIUS [kỳ 8]

 

Đã đăng: AQUARIUS [kỳ 1] - [2][3] - [4] - [5] - [6] - [7]

 

Mùa đông

khi những khối chữ cao quá ba đốt ngón tay

 

1

 

“Anh?”

“Sao em?”

“Đã bao giờ anh thử tìm kiếm cô ấy chưa? Người bạn cấp 2 cứ hỏi anh hôm nay ngày mấy đó.”

“Chưa em à. Anh gần như đã quên mất việc đó.”

“Bây giờ anh có muốn thử tìm không?”

“Ừm. Nhưng anh không biết bắt đầu bằng cách nào.”

“Mình thử tìm trên mạng trước đi anh. Cô ấy tên gì thế? Em sẽ thử search trên thanh công cụ của Facebook trước.”

“Đồng Vân. Nhưng có lẽ search không ra đâu em à. Có thể cô ấy không dùng Facebook. Cũng có thể cô ấy dùng Facebook nhưng lại để nickname.”

“Dù sao cũng nhiều người để tên thật của mình làm tên Facebook mà. Mình cứ thử, biết đâu lại tìm được. Đồng Vân... Mây trên đồng à? Một cái tên nghe có vẻ nhợt nhạt nhỉ...”

Anh cúi đầu im lặng. Cô cố nén tiếng thở dài trước phản ứng của anh. Thực ra, cô cố tình nói như thế để thử xem phản ứng của anh. Cô muốn thấy một lần anh nổi giận với cô, một lần anh phản kháng cô để bảo vệ những gì mình yêu thích. Nhưng rốt cuộc, phản ứng của anh vẫn là im lặng giống như những lần trước. Dù vậy, cô nghĩ, mình sẽ không bỏ cuộc. Mình sẽ làm cho đến khi anh ấy dần quen với việc biểu lộ cảm xúc bên ngoài mới thôi. Nếu được như thế, sau này cho dù anh ấy có đánh mình, có trở nên bạo lực với mình chỉ để bảo vệ ý kiến bản thân, mình vẫn sẽ chấp nhận.

“Anh... lại máy tính em xem thử nè”, cô quay đầu lại ngoắc tay với anh — lúc này anh đang ngồi dựa vào góc tường.

Cô tìm được một Facebook có tên là Đồng Vân. Facebook đó được chỉnh chế độ timeline. Profile picture và cover photo không phải là hình chụp khuôn mặt của chủ nhân.

Profile picture là hình ảnh một dấu chấm hỏi được làm bằng (hay chỉnh Photoshop) chất liệu là bánh bông lan. Một dấu chấm hỏi được làm từ bánh bông lan hay một bánh bông lan có hình dạng dấu chấm hỏi. Dấu chấm hỏi ấy loang lổ những vết cắn nham nhở vì có một đàn kiến đã bò đến và đang từ từ gặm nhấm nó.

Cover photo là một dạng hình typography. Ở ngay chính giữa bức hình là một chữ A lớn chia không gian hình ra làm hai nửa. Nửa bên trái lần lượt là hàng chữ: 8 days, 25 hours, 32 days, 13 months. Nửa bên phải lần lượt là những hàng chữ tương ứng với nửa bên trái: week, day, month, year.

“Eight days a week à? Không biết cô này có thích nhóm nhạc The Beatles không thế”, cô bật cười. “Dường như cô ấy có vẻ thích thiết kế đồ hoạ nhỉ? Cô ấy có để tên trường cấp 2 mình từng học nè. Anh xem thử có phải là trường hồi đó anh đã học không?”

Và đó quả thật là trường cấp 2 anh từng học. Đồng Vân cũng không phải là một cái tên thường gặp. Không nghi ngờ gì nữa. Đây chính là người con gái anh cần tìm, người đã luôn hỏi anh hôm nay ngày mấy.

“Hahahahahahahahahahaha...”, cô bật cười lớn tiếng.

“Anh ngớ ngẩn quá. Em không thể nào nghĩ rằng việc tìm kiếm này lại đơn giản và nhanh chóng như vậy. Thế mà anh chẳng bao giờ thử. Bây giờ, chỉ việc add Facebook của cô ấy nữa thôi là xong. Anh không có Facebook. Anh muốn tạo Facebook bây giờ để trò chuyện với cô ấy luôn không?”

Anh thoáng im lặng suy nghĩ.

“Đừng chần chừ nữa. Muốn thì dùng máy em. Em cho anh mượn máy, tạo nick Facebook để chat với cô ấy.”

Anh gật đầu đồng ý, “Ừm, vậy em cho anh mượn máy một chút nhé.”

Giây phút ấy, anh đã không biết rằng đó là một quyết định sai lầm. Nó tạo ra bước ngoặt trong mối quan hệ của hai người nhưng đồng thời cũng đánh dấu một điều gì đó bắt đầu rạn nứt mà ở thời điểm ấy, anh đã không thể nhận ra. Anh chỉ nghĩ đơn giản rằng Đồng Vân từng là một người bạn cấp 2 của anh, dù hai người không thân thiết nhưng cô ấy đã để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng anh, giờ anh đã tìm được cô ấy, anh chỉ muốn nói chuyện với cô ấy như hai người bạn. Chỉ như hai người bạn mà thôi. Có lẽ không cần gặp mặt cũng được dù anh rất muốn gặp lại cô ấy một lần. Anh muốn kể cho cô ấy nghe giấc mơ đó, anh muốn hỏi cô ấy về ý nghĩa của con số 25 tháng 10 năm 1995. Có những chuyện không thể nào chỉ đơn giản nói qua mạng được. Ít nhất, với anh là như thế.

Ban đầu, anh lo sợ rằng cô không nhớ anh là ai. Nhưng trái với dự tưởng của anh, cô chẳng những nhớ anh, cô còn muốn gặp lại anh, cũng như anh muốn gặp lại cô. Mọi việc diễn ra quá thuận lợi và đơn giản. Thì ra nó không hề khó khăn như anh nghĩ.

“Em ơi, anh gặp Đồng Vân được không?”

“Tuỳ anh thôi. Anh muốn gặp thì gặp. Em không cấm.”

“Cảm ơn em. Vậy chiều thứ 7 này anh gặp cô ấy nha.”

“Hai người gặp nhau lúc mấy giờ thế?”

“4 giờ em à.”

“Anh định gặp cô ấy khoảng bao lâu? Gặp xong anh có về nhà với em không? Hay là anh đi làm luôn?”

“Anh cũng chưa biết nữa em à. Có lẽ còn tuỳ tình hình lúc đó. Nhưng anh sẽ cố gắng về sớm để ở nhà với em một chút rồi mới đi làm.”

“Sao lại tuỳ tình hình chứ? Anh lúc nào cũng tuỳ tình hình và quyết định theo ý người khác. Anh phải tự tính toán trước là gặp trong bao lâu, lúc nào thì kết thúc...”

“...”

“Em xin lỗi... em lại nổi nóng với anh nữa rồi. Em không có ý gì đâu. Anh muốn gặp cô ấy bao lâu cứ gặp. Em sẽ chờ anh...”

“Em không buồn đó chứ?” Anh ôm chặt cô từ đằng sau và hỏi.

“Không. Em bình thường.”

 

Rốt cuộc hôm đó, anh gặp Đồng Vân mất hơn 4 tiếng đồng hồ. Hôm đó, cô mặc một chiếc áo sơ-mi trắng, quần jeans đơn giản. Đồng Vân của bây giờ so với Đồng Vân ngày xưa mà anh biết ốm hơn rất nhiều. Nhưng dường như khi ốm đi, trông cô xinh xắn hơn. Cuộc trò chuyện của hai người tuy ban đầu có hơi chút gượng gạo, nhưng sau đó nó diễn ra tự nhiên hơn anh tưởng tượng nhiều. Trước khi gặp cô, anh có chút hồi hộp vì sợ hai người không nói chuyện hợp nhau. Dẫu sao, ngày xưa anh cũng chưa từng một lần trò chuyện thực sự với cô. Vì vậy, anh không ngờ hai người lại có thể ngồi nói chuyện lâu như thế. Anh cảm thấy rất thoải mái khi trò chuyện cùng cô. Họ ngồi ở góc khuất với chiếc đồng hồ treo trong quán. Lúc anh định thần lại, mở ba-lô để lấy điện thoại bên trong xem giờ, anh giật mình khi phát hiện đã 8 giờ 15 phút. Ngoài ra, anh còn thấy ba tin nhắn Bảo Bình đã nhắn cho anh từ lúc nào anh không biết. Anh không để nhạc chuông tin nhắn điện thoại. Khi có tin nhắn mới đến, điện thoại anh chỉ vang lên một tiếng tít. Quán cà-phê này mở loại nhạc audiophile cũng không quá lớn nhưng có lẽ vừa đủ lấp đi âm thanh của tiếng tít. Vì vậy mà anh đã không nghe chuông tin nhắn.

Tin nhắn đầu tiên cô nhắn cho anh vào lúc 4 giờ 31 phút, nội dung là: “Chúc anh đi chơi vui.”

Tin nhắn thứ hai cô gửi lúc 6 giờ 14 phút, “Anh định chừng nào về thế?”

Tin nhắn thứ ba lúc 7 giờ 45 phút: “Mình chia tay đi.”

Tin nhắn thứ ba khiến anh thoáng chút buồn, nhưng anh vẫn bình tĩnh. Khoảng thời gian đầu quen nhau, nếu như nhận được tin nhắn thứ ba, anh sẽ rất buồn và hoảng hốt, anh sẽ hoang mang suy nghĩ không biết mình phạm lỗi gì, anh sẽ sợ cô không bao giờ quay trở về với anh nữa... Nhưng bây giờ, khi đã quen nhau hơn nửa năm, mỗi lần nhận được tin nhắn chia tay của cô, anh không còn cảm xúc như lúc trước nữa. Bây giờ, anh luôn tin chắc cô sẽ trở lại. Bây giờ, anh biết mỗi khi cô đòi chia tay với anh, đó có thể là lỗi của anh, cũng có thể không phải là lỗi của anh, có thể cô buồn vì điều gì đó khác, điều gì đó mà cô không thể lí giải được và khi nhắn tin chia tay với anh, chỉ đơn thuần là lúc đó cô muốn ở một mình. Lần nào, sau khi nhắn tin chia tay một, hai ngày, cô cũng quay trở lại với anh. Những lần đó, bao giờ cô cũng nói vui: “Em vừa hoàn thành một quá trình tự kỉ rồi.” Chính điều này lại càng làm cho anh tin những giả thuyết của mình là đúng. Từ đó, anh đồng nhất tin nhắn: “Mình chia tay đi” của cô với một tin nhắn giả tưởng trong đầu mà anh nghĩ là điều cô muốn nói: “Em đang buồn. Bây giờ, em chỉ muốn ở một mình.” Vì suy nghĩ như thế, sau này, lúc nào cô nhắn tin chia tay cho anh, anh cũng im lặng chờ đợi, chờ đến khi nào cô bình tâm, quay trở về với anh. Đôi lúc, anh cũng muốn phá vỡ sự im lặng, muốn chủ động ở bên cô khi cô buồn, muốn hỏi rõ cô lí do tại sao cô muốn chia tay với anh, điều gì khiến cô buồn. Nhưng anh sợ. Lúc nào anh cũng sợ mình không đủ sâu sắc để hiểu cô. Bởi vì bình thường, cô vẫn hay nói anh không thể hiểu cô, anh chẳng hiểu chút gì về cô... nên chính những lúc cô buồn và nói chia tay, anh lại càng không dám đến gần cô. Anh sợ rằng những lúc đó, anh sẽ khiến cô thất vọng và làm cô buồn hơn vì anh không thể hiểu cô, không thể chạm vào nỗi buồn của cô, không thể giúp cô xoa dịu nó. Do đó, anh đã chọn cách im lặng.

“Cậu đợi tớ chút nhé. Tớ ra ngoài gọi điện một chút thôi.”

“Ừ, cậu đi đi. Tớ đợi ở đây.”

Anh ra ngoài quán, đứng trước cửa và gọi điện thoại cho cô. Chuông điện thoại vẫn reo nhưng cô không bắt máy. Anh gọi cả ba lần cô đều không bắt máy. Có lẽ bây giờ, cô đang tắm hoặc ngủ quên, hoặc để điện thoại trong phòng và ra ngoài đi bộ. Cô thích đi bộ. Mỗi khi buồn, cô vẫn thường hay đi bộ như thể quãng đường đi bộ, quang cảnh hai bên đường, dòng xe cộ lưu thông... có khả năng xua tan những nỗi buồn trong cô. Có lần, cô đi bộ gần ba tiếng đồng hồ từ khu nhà trọ của hai người đến trung tâm thành phố, rồi lại từ trung tâm thành phố trở về nhà. Khi đi bộ, em có thể suy nghĩ được, cô đã từng nói với anh như thế.

Anh gửi cho cô một tin nhắn:

Xin lỗi em. Anh ở trong quán cà-phê mở nhạc hơi lớn nên em nhắn cho anh lúc nào anh không biết. Anh xin lỗi vì đã nói chuyện hơi lâu với cô ấy. Bây giờ, gần đến giờ làm rồi, anh phải đi làm luôn, không thể về nhà với em được. Em đừng chờ anh. Cứ làm việc riêng của em. Nếu em mệt thì em ngủ trước nhé. Đừng làm việc quá sức. Yêu em. x.

Anh vào lại bên trong quán.

Quán cà-phê họ đến có tên là The Scarf. Toàn bộ gạch và tường trong quán đều được ép gỗ. Quán có không gian nhỏ mang lại cho người ta cảm giác ấm cúng. Vì tên là The Scarf nên quán trang trí bằng rất nhiều khăn choàng cổ đủ loại với những kích cỡ, độ dài, màu sắc khác nhau. Ở góc tường bên trái khi mới bước vào quán, họ đặt một cây treo đồ kế bên cửa sổ. Trên những thanh ngang chìa ra đủ hướng của cây treo đồ, họ vắt lên những khăn choàng cổ màu xanh lá cây với những sắc độ khác nhau. Ở bất cứ vị trí nào trong quán, nhìn nó cũng hao hao giống như một cái cây với những tán lá xanh rũ xuống. Kế bên quầy thanh toán góc bên phải phía dưới cùng của quán, người ta cũng đặt một cái cây tương tự. Chỉ khác là khăn quàng móc trên đó có nhiều màu sắc hơn, chủ yếu là các tông màu lạnh hoặc trung tính như: xanh dương, xanh da trời, xám, tím, cobalt, navy... Ngoài ra, trên những vách tường, người ta còn đóng những cây đinh dài, hoặc dán những móc treo đồ rồi quàng khăn xung quanh đó. Có lẽ, người chủ quán này thích khăn choàng cổ. Địa điểm quán này là do Đồng Vân chủ động hẹn với anh. Đây cũng là lần đầu tiên anh đến quán. Trước đó, thậm chí anh còn không biết quán này. Khi vừa bước vào quán, anh bị ấn tượng bởi cách thiết kế, trang trí với những chiếc khăn quàng. Đơn giản mà hiệu quả. Tuy nhiên bây giờ, khi vừa nhắn tin cho cô xong và vào lại bên trong quán, những chiếc khăn choàng treo hai bên vách mang lại cho anh cảm giác ma quái. Anh nhớ đến những bộ phim kinh dị có bối cảnh xảy ra trong những toà nhà, biệt thự, lâu đài sang trọng. Ở tiền sảnh hay phòng khách của những nơi ấy, hầu như lúc nào hai bên vách tường cũng treo đầu của các con vật, thường là nai, gấu, hổ... Dưới một góc nhìn nào đó, những chiếc khăn choàng treo hai bên vách như thế này cũng cho anh cảm giác tương tự. Những chiếc khăn choàng ấy, lẽ ra nó phải nằm yên vị trên cổ một ai đó. Vậy mà bây giờ, nó lại được treo trong một quán cà-phê như thế này. Thoáng chốc, anh như thấy dư ảnh của những đầu người không khuôn mặt đang tròng qua những chiếc khăn đó. Anh lắc đầu mấy cái cho tỉnh táo rồi bước đến bàn Đồng Vân đang đợi.

“Cậu ăn tối chưa?” Cô hỏi lúc anh vừa ngồi xuống bàn.

“Vậy mình ăn chút gì nhé. Cậu sắp đi làm phải không? Tớ sợ lát nữa cậu sẽ đói.”

“Ừm, tớ làm lúc 9 giờ. Nhưng không sao đâu, cậu đừng lo. Có gì tớ mua bánh mì trên đường, đến chỗ làm rồi ăn. Mất chừng 5 phút thôi mà cũng no.”

“Từ đây đến chỗ cậu làm mất bao nhiêu phút?”

“Khoảng chừng 15 phút.”

“Vậy chắc kịp giờ mà cậu. Bây giờ mới 8 giờ 20 phút. Quán này làm đồ ăn cũng nhanh lắm. Không chậm và rề rà như những quán khác đâu. Cậu ăn chút gì đó ở đây với tớ rồi hãy đi làm. Nhé?” Cô mỉm cười. Nụ cười ấy... Trong một khoảnh khắc rất nhanh, anh cảm thấy mình như bị kéo lùi lại về ngày hôm đó. Ngày cuối cùng mà cô hỏi anh hôm nay là ngày mấy và sau khi anh trả lời, cô đã mỉm cười. Anh thoáng nghe tim mình đập mạnh với một chút xao động. Câu trả lời đã rõ. Đương nhiên là anh không thể từ chối lời mời và nụ cười ấy.

Họ gọi hai phần mì spaghetti.

Thực ra, khi nhìn vào tờ thực đơn, anh chẳng biết phải gọi món gì. Hơn nữa, anh lại còn muốn ăn món giống cô để biết món mà cô thích ăn có hương vị như thế nào. Thế là, khi người phục vụ đến, anh nhường cho cô gọi trước. Sau đó, anh chỉ cần gọi giống cô.

Trong lúc chờ món, anh muốn hỏi cô liệu ngày 25 tháng 10 năm 1995 có mang một ý nghĩa đặc biệt nào đó với cô không? Dù câu trả lời của cô là thế nào, anh vẫn muốn kể cho cô nghe giấc mơ của anh. Anh còn muốn hỏi cô tại sao ngày ấy cô đột nhiên không hỏi anh hôm nay là ngày mấy nữa? Đó là những điều quan trọng mà ngay từ đầu anh đã dự định rằng hôm nay phải nói với cô. Tuy nhiên, anh không thể vừa gặp cô mà đã bắt đầu bằng những câu hỏi đó. Có lẽ vào giữa cuộc trò chuyện, anh sẽ tìm những khoảnh khắc thích hợp để hỏi cô. Nhưng mọi chuyện trái với dự định của anh. Khi vừa bắt đầu, hai người vẫn hỏi nhau những câu hỏi bình thường như biết bao người bạn lâu năm không gặp mặt. Những câu hỏi kiểu như từ khi rời trường đến nay, có liên lạc với người bạn nào trong lớp không, công việc hiện tại như thế nào, tình trạng sức khoẻ, sống ở đâu, lên thành phố từ bao giờ... Qua trò chuyện, anh biết được bây giờ cô đang làm công việc dàn trang, thiết kế layout cho một tờ tạp chí về thời trang. Công việc không nặng nhọc lắm nhưng đôi khi nó khiến cô cảm thấy vô nghĩa. Vì sao cảm thấy vô nghĩa thì cô không nói cho anh biết. Cô chỉ nói dài dòng lắm, cậu biết như thế được rồi. Cô sống ở một khu chung cư bình dân. Hằng ngày, khi đi làm về, cô thường ghé một quán cà-phê sách gần công ty để đọc sách, lướt mạng, viết lách... nhằm tìm cảm hứng sáng tạo cho công việc thiết kế.

“Quán cà-phê đó có tên là White Paper. Tớ thích quán đó lắm. Tuy là quán cà-phê nhưng đúng là không gian lí tưởng để làm việc.”

“Quán đó như thế nào vậy cậu?”

“Nó đúng như cái tên đó cậu. Toàn bộ không gian quán đều sơn trắng hết. Cả đến bàn và những chiếc gối. À, quán cà-phê đó là ngồi bệt nên không có ghế. Kệ sách cũng màu trắng nữa. Sách ở đó không nhiều cũng không ít, tương đối thôi. Tớ cũng không hay đọc sách ở đó đâu. Chủ yếu tớ mang theo laptop rồi làm việc, về nhà luôn thì chán lắm. Ở đó thoải mái, tớ ngồi cả mấy tiếng đồng hồ, từ chiều đến tối cũng chẳng ai nhắc nhở hay nói gì. Và còn nữa, như cái tên White Paper, cậu biết ở đó trang trí bằng gì không?”

“Những tờ giấy trắng à?”

“Đúng rồi. Họ dán giấy trắng khắp tường. Đủ loại giấy trắng khác nhau. Giấy A4 thông thường cũng có. Giấy A5 kẻ ô như những cuốn vở học trò cũng có. Loại giấy chỉ kẻ gạch ngang như những cuốn sổ ghi chép cũng có. Giấy trang trí khung hoạ tiết bên ngoài kiểu giống như giấy viết thư, viết nhật kí, lưu bút cũng có... Nhưng với tớ, thú vị nhất là những tờ giấy báo.”

“Giấy báo à?”

“Ừm. Người ta tự dàn giấy A5 sao cho nó giống như một trang báo khổ lớn. Họ làm layout chia khung, headline, subhead, chapeau, hình... hết rồi. Nhưng tất cả đều để trống. Họ chỉ gạch những đường kẻ chia vùng để người ta đủ biết đó vốn là một trang báo nhưng đã bị bôi trắng. Nhưng mà, điều tớ thích nhất ở quán đó lại là không gian yên tĩnh, tuyệt đối yên tĩnh. Họ không mở nhạc. Bây giờ, tìm quán cà-phê nào không mở nhạc khó lắm. Vì thực ra, ở quán cà-phê vốn là phải mở nhạc để át đi bớt tiếng người trò chuyện, để mọi người đến đó có thể thoải mái trò chuyện với nhau mà không sợ nói quá to, không sợ những người trong quán nghe được câu chuyện của mình. Nhưng White Paper lại không mở nhạc. Bởi vậy tớ mới nói đó là quán cà-phê lí tưởng để làm việc mà. Những người đến đó cũng giống như tớ, đều đi một mình rồi mang theo laptop để làm việc riêng hoặc đọc sách. Nếu như có dẫn theo bạn, họ cũng không nói chuyện, mỗi người một laptop riêng rồi ai nấy tự làm việc. Nghe cũng có vẻ buồn nhỉ? Nhưng thực ra, khi cậu đến tận nơi rồi sẽ thấy không gian ở đó gợi cảm giác ấm cúng lắm. Nó không phải giống như căn-tin của một văn phòng nghiêm trang đâu. Dù mang không khí làm việc nhưng nó vẫn giống một quán cà-phê qui mô nhỏ, khiến người ta có cảm giác thoải mái, ấm cúng. Vì vậy, mới có nhiều người đến đó để làm việc sau giờ làm. Nếu như nó chỉ khác văn phòng làm việc ở chỗ có phục vụ nước uống, thức ăn tại chỗ thì người ta cần gì đến đây phải không?”

“Ừm. Lạ thật. Nhưng tớ vẫn không hiểu tại sao người ta phải đến quán để làm việc? Dù sao thì trước sau cũng phải về nhà mà. Ở nhà vẫn thoải mái hơn chứ.”

“Nhưng nếu như có những người ở nhà không làm họ cảm thấy thoải mái thì sao?”

“...”

“Cậu có biết một số người khi ở nhà họ luôn mở tivi nhưng không xem mà làm việc này, việc kia không?”

“Có. Tớ có biết.”

“Ừm. Việc này cũng tương tự như việc đó. Những người ở nhà mở tivi suốt mà không xem tivi chẳng qua là để lấp đầy không gian của họ. Bởi vì họ luôn cảm thấy trống rỗng. Tiếng động, tiếng người nói trên tivi làm đầy không gian của họ, khiến họ yên tâm. Từ đó, họ có thể làm việc được. Tớ nghĩ những người đến quán cà-phê đó cũng giống như vậy. Dù không nói chuyện với nhau nhưng họ vẫn đến một chốn công cộng để làm việc vì họ muốn cảm nhận sự tồn tại của con người, họ muốn không gian trống rỗng của mình được lấp đầy bằng sự hiện diện của những người khác. Và khi đó, họ có thể làm việc.”

“Thì ra là vậy. Thế nghĩa là cậu luôn cảm thấy trống rỗng...?”

“Không. Tớ không giống họ. Tớ bình thường. Tớ đến quán đó nhiều vì khoảng thời gian đầu mới dọn đến sống ở chung cư, tớ chưa kịp gọi người ta đến lắp đặt mạng. Đợt đó hình như tớ gần hết tiền mà chưa tới ngày lãnh lương hay sao ấy. Thế là, tớ tìm trên mạng xem quán cà-phê nào giá rẻ, có wifi, không gian yên tĩnh. Và tớ đã tìm được quán đó. Ban đầu, tớ chỉ nghĩ mình đến tạm bợ trong thời gian chưa lắp mạng được thôi. Tớ bị nghiện mạng, một ngày không lên mạng tớ chịu không nổi. Nhưng tớ không ngờ là quán đó phục vụ tốt quá. Tớ thích nó nên dù sau này đã có tiền lắp đặt mạng rồi, tớ vẫn đến đó làm việc một chút rồi mới về. Cứ như là ngày nào tớ không đến quán đó, tớ không thể chịu được ấy. Nếu cứ từ công ty về nhà, tớ lại cảm thấy thiếu thiếu gì đó. Cái này có lẽ đã trở thành thói quen rồi, cũng không hẳn là sở thích nữa.”

“Ừm. Cậu có vẻ thích nghiên cứu các quán cà-phê phải không? Tớ thấy cậu tìm được những quán lạ như thế này cũng hay thật đó.”

“Đúng thế thật. Nhưng hồi xưa thôi cậu à. Lúc mới lên đây học báo chí rồi qua thiết kế đồ hoạ, dù không có tiền nhiều nhưng tớ thích đi tìm những quán cà-phê đẹp, lạ. Tớ thích ngắm những kiến trúc, trang trí nội thất đẹp, gợi những điều mới mẻ. Dù sao, nó cũng liên quan ít nhiều đến việc làm tớ muốn theo đuổi mà.”

“Ừm.”

...

“À, cậu hay viết gì khi ở đó thế?”

“Tớ viết mấy truyện ngắn linh tinh thôi. Chủ yếu là để giải toả cảm xúc.”

“Ồ... cậu thích viết truyện ngắn à? Người yêu của tớ cũng thích viết truyện ngắn.”

“Cậu có người yêu rồi à? Hai người quen nhau lâu chưa?” Mắt cô sáng rỡ, khuôn mặt cô đột nhiên có vẻ sinh động hẳn.

Sau đó, buổi trò chuyện giữa hai người bỗng dưng trở thành một chiều vì cô liên tục hỏi anh những câu hỏi về Bảo Bình. Ban đầu, anh nghĩ rằng vì phép lịch sự xã giao, cô sẽ chỉ hỏi vài câu lấy lệ để biết thông tin, và rồi hai người sẽ tiếp tục trao đổi những vấn đề chung. Nhưng ngay khi anh vừa trả lời hết một câu, cô lại tiếp tục hỏi câu khác nữa. Khuôn mặt cô càng ngày càng tỏ vẻ háo hức, trông không có gì giống xã giao chút nào cả. Anh đã không thể ngờ rằng cô lại có hứng thú muốn biết về người yêu của anh nhiều đến thế. Vì vậy, Bảo Bình bỗng trở thành chủ đề chính trong cuộc nói chuyện của hai người.

“Khi viết, cô ấy hay nghe nhạc à?”

“Ừm. Cô ấy nói với tớ cần nghe nhạc để lấy không khí.”

“Có lẽ cô ấy rất cô đơn. Cô ấy cần lấp đầy không khí xung quanh rồi mới viết được. Tâm lí này phần nào cũng giống những người mở tivi suốt ngày nhưng không xem đấy cậu.”

“Tớ cũng không biết nữa.”

“Cô ấy khác tớ quá. Tớ thì khi viết hay làm bất cứ việc gì dùng đến trí não đều cần phải có sự yên tĩnh tuyệt đối. Tiếng ồn làm tớ mất tập trung.”

“Nhưng tớ nghĩ khi gặp nhau, có lẽ hai người sẽ nói chuyện hợp với nhau đó. Cậu có vẻ hiểu cô ấy hơn tớ.”

“Cậu đừng tự ti thế chứ. Chắc chắn phải có điểm gì đó đặc biệt ở cậu mới khiến cho cô ấy yêu cậu mà.”

“Tớ cũng không biết nữa. Cô ấy hay nói rằng không hiểu tại sao lại yêu tớ. Rõ ràng tớ chẳng có điểm gì đáng để cô ấy yêu. Mà bản thân tớ cũng thấy như vậy. Hai đứa quá khác biệt nhau về mặt tính cách. Cô ấy lúc nào cũng mạnh mẽ, quyết đoán. Còn tớ, khi đứng trước quyết định một việc gì đó thường hay do dự. Cái tệ lớn nhất là trước mặt cô ấy, tớ là người không có tư kiến. Cô ấy nói với tớ cô ấy ghét nhất điều này. Nó khiến cô ấy mệt mỏi. Thực ra, tớ cũng muốn nói lên tư kiến của bản thân mình. Nhưng tớ thường không biết nói gì, hoặc tớ sợ câu trả lời của tớ khiến cô ấy thất vọng. Vì vậy, tớ chỉ im lặng.”

“Thực ra, mọi việc đơn giản lắm. Cậu cứ thoải mái nói với cô ấy những suy nghĩ này giống như bây giờ đang nói chuyện với tớ. Nếu yêu cậu thật lòng, chắc chắn cô ấy sẽ hiểu và chấp nhận mà.”

“Ừm, tớ sẽ tìm dịp nào đó để thử.”

“Nghe cậu kể, tớ cũng muốn gặp cô ấy lắm. Bạn gái của cậu có vẻ thú vị thật đó.”

Lúc này, thức ăn vẫn chưa đến, anh có thể hỏi cô ý nghĩa về con số đó. Anh không muốn bỏ mất cơ hội này. Đây có vẻ là khoảnh khắc thích hợp.

“Tớ muốn hỏi cậu một câu...”

“Ừm, cậu cứ tự nhiên hỏi đi.”

“Ngày 25 tháng 10 năm 1995 có mang một ý nghĩa đặc biệt nào với cậu không?”

“Tớ không nhớ gì về ngày đó hết. Tớ không có ấn tượng nào đặc biệt cả. Ngày đó đã xảy ra chuyện gì à cậu?” Khuôn mặt cô hoàn toàn không biểu lộ một chút cảm xúc nào.

“Không. Không có gì. Đột nhiên con số đó bật lên trong đầu tớ mà thôi.”

Có lẽ giấc mơ đó chỉ là ám ảnh của riêng anh mà thôi. Mặc dù, chính anh cũng không biết mình đã bị điều gì ám ảnh để có thể nằm mơ và nhớ chi tiết ngày 25 tháng 10 năm 1995 một cách rõ ràng, cụ thể như thế.

Chỉ còn câu hỏi về lí do ngày ấy, cô bỗng dưng im lặng với anh. Đó là câu hỏi khiến anh có cảm giác khó lòng mở lời nhất. Đúng lúc anh định cất tiếng hỏi thì phần ăn đã được dọn đến.

“Thức ăn đến rồi kìa. Cậu ăn đi kẻo trễ giờ làm.” Cô giục anh.

“Ừm, giờ tớ ăn.”

Cả hai người đều ăn rất nhanh. Lúc ăn xong, anh nhìn đồng hồ trên điện thoại và thấy chỉ mới 8 giờ 38 phút. Vẫn còn kịp thời gian để anh đi làm. Bảo Bình vẫn chưa nhắn tin lại cho anh. Trong lòng anh thoáng chút lo lắng. Anh không biết cô đang làm gì, đã ăn tối chưa... Bình thường, họ vẫn cùng nhau ăn tối ở nhà khoảng 7 giờ. Sau đó, anh sẽ ôm hôn cô âu yếm, hai người cùng xem phim hoặc trò chuyện với nhau cho đến khi anh chuẩn bị đi làm. Nhưng bây giờ, anh không thể về nhà với cô được. Phải hơn 8 tiếng nữa...

Anh chào tạm biệt Đồng Vân. Cô nói với anh rằng cô sẽ ở lại đây thêm chút nữa vì cô muốn mở laptop ra viết gì đó một chút rồi mới về.

“Cậu đi làm vui nhé. Khi nào có chuyện gì cần tâm sự, cứ liên lạc với tớ. Tớ không có bạn nhiều nên ngoài thời gian đi làm, bình thường tớ rảnh lắm.”

“Ừm, cậu cũng vậy nhé. Khi nào cần một người nghe tâm sự mà không có ai, nhớ gọi cho tớ nhé. Tớ sẽ cố gắng liên lạc với cậu thường xuyên.”

“Không cần phải vậy đâu.”

“Sao thế?”

“Tớ ổn mà. Cậu lo cho Bảo Bình của cậu đi. Hãy cố gắng dành thật nhiều thời gian ở bên cạnh cô ấy, quan tâm, chăm sóc cho cô ấy”

“Cảm ơn cậu. Tớ sẽ cố gắng. Chuyện này đương nhiên phải như thế rồi.”

Họ vẫy tay nhau.

Đúng lúc, anh vừa đứng dậy, cô cất tiếng hỏi:

“À, cậu ơi, hôm nay là ngày mấy?”

“Ngày 18 tháng 11.”

“Cảm ơn cậu.” Cô mỉm cười.

Rốt cuộc, một người hay hỏi hôm nay ngày mấy có thể là người như thế nào?

Một người không có khái niệm thời gian? Một người hay quên? Một người không bị vướng vào những lịch làm việc bận rộn? Một người hỏi chỉ đơn thuần theo thói quen?

Dù sao, khi câu hỏi quen thuộc quay trở về, anh cảm thấy từng âm tiết của nó như những giọt mưa nhỏ khẽ rơi trên mặt nước tạo ra những vòng tròn đồng tâm cứ lan mãi, lan mãi...

Hôm nay là ngày mấy...

 

“Em ơi, em sao thế?”

Căn phòng anh nồng nặc mùi bia, thuốc lá và chất dịch nôn ra từ cơ thể cô. Cô đã ói rất nhiều. Nhưng anh không nhìn ra trong những gì cô ói có dấu hiệu của thức ăn. Cô nằm nghiêng về phía tường, hai chân đạp lên vách, dáng người cong như một bào thai. Đó là tư thế nằm ngủ quen thuộc của cô. Cô từng nói với anh rằng khi ngủ, cô phải để chân đạp lên vách tường, chỉ có như thế cô mới cảm nhận được một điểm tựa... chỉ có như thế cô mới ngủ được... Cô sợ cảm giác xung quanh không còn điểm tựa nào và bản thân đang quay cuồng trong một không gian vô định. Vì vậy, lúc nào cô cũng phải tìm một điểm tựa vô hình nào đó.

“Anh?”

“Sao thế em?”

“Ngày nhỏ em bị đẻ ngược đó.”

“...”

“Anh có nghe qua trường hợp đẻ ngược bao giờ chưa?”

“Chưa em à.”

“Bị đẻ ngược lúc sinh dễ chết lắm. Bởi vì chân ra trước, đầu ra sau, chỉ cần chậm một chút là ngộp thở.”

“...”

“Có lẽ vì vậy mà hồi nhỏ em ốm yếu, hay bệnh liên miên. Nhưng người ta nói những người bị đẻ ngược mang trong mình nhiều sự phản kháng, bởi vì ngay từ lúc sinh ra đã khác người, ngay từ lúc sinh ra đã muốn đạp chân ra trước.”

“Nhưng, em thích thế phải không? Em thích sự phản kháng mà.”

“Ừm... nhưng em không biết có phải vì, lúc đó, bàn chân là bộ phận đầu tiên của cơ thể em đã tiếp xúc không khí bên ngoài trước tiên hay không mà sau này, mỗi lần ngủ, em lại phải đạp tường mới có thể ngủ được. Em muốn cảm giác điểm tựa ở bàn chân khi ngủ. Điều đó khiến em an tâm. Nhưng hồi đó, mẹ em không hiểu, cứ mắng em hoài, nói tư thế ngủ của em kì cục.”

“Không sao đâu em. Em ngủ như thế nào anh cũng yêu hết.” Anh ôm cô vào lòng.

“Thật không?”

“Thật.”

“Nhưng nằm như thế, lúc ngủ, em quay lưng về phía anh, anh có buồn không?”

“Lúc đầu, anh cũng buồn một chút vì em không nằm về phía anh, anh không thể thấy mặt em. Anh thích ngắm khuôn mặt của em khi em ngủ. Nhưng dáng ngủ của em quay vào tường nhìn buồn và cô độc lắm. Chính vì thế, anh lại muốn ôm em chặt hơn.”

“Yêu anh... Lúc em ngủ và anh nằm ôm em từ đằng sau như thế, em cảm nhận được tình yêu của anh. Em thấy hạnh phúc lắm. Em cũng không hiểu tại sao em lại sợ người khác nhìn thấy khuôn mặt của em khi đang ngủ như thế.”

“...”

“Có lẽ vì khi ngủ, khuôn mặt em bộc lộ cảm xúc nhiều lắm. Em không thể kiểm soát bản thân mình những lúc đó. Và em không muốn bất cứ ai đọc được cảm xúc của mình.”

Nhưng dần dần sau này, khi ngủ cùng anh, cô không còn quay lưng hẳn vào tường mà chỉ nằm gần tường, cố gắng để chân chạm vào tường. Và cô cũng không còn quá khắt khe trong việc giấu khuôn mặt của mình khi ngủ không cho anh thấy nữa. Cô nói với anh rằng, bây giờ, anh là người thấy khuôn mặt của em lúc ngủ nhiều nhất đó. Đã lâu lắm rồi, anh không thấy cô nằm ngủ với tư thế như bào thai ấy. Vậy mà bây giờ...

“Em ơi, em sao thế?” Anh luồn tay qua cổ cô, nâng người cô dậy để có thể nhìn rõ khuôn mặt cô.

“Em sợ quá anh à...” Cô vòng tay qua lưng anh, dường như cô muốn ôm chặt anh nhưng sức lực quá yếu ớt nên đôi tay của cô chỉ có thể chạm nhẹ vào lưng anh, khuôn mặt cô đỏ gấc.

“Anh đây... anh ở đây, em à...” Anh nắm chặt tay cô.

“Anh đã đi đâu thế? Em chờ anh mãi...”

“Xin lỗi em, đã để em chờ... Anh chỉ đi...”

Cô đột nhiên lại ói, chất nôn bắn vào áo anh. “Em sợ... em sợ... mọi thứ chung quanh quay cuồng quá... em thấy mình bị rơi vào một vòng xoáy... em cảm nhận mình không còn điểm tựa nào nữa... em sợ quá anh à...” Giọng cô run run, đôi mắt cô bắt đầu đỏ, cô nép đầu sát vào ngực anh.

“Đừng sợ... đừng sợ em à... có anh ở đây... anh ở đây mà...” Anh cố gắng siết cô thật chặt trong vòng tay mình.

“Em đã hút thuốc và uống bia à?”

Cô gật đầu nhẹ. Toàn thân cô mềm nhũn như một chiếc áo bị ướt sũng trong cơn mưa xối xả.

“Em hút bao nhiêu điếu thế?”

“Hết... một gói anh à...”

“Em uống bao nhiêu lon bia?”

“Em không nhớ nữa...”

“Em đã ăn gì chưa?”

Cô lắc đầu.

“Em để bụng trống như thế mà hút thuốc, uống bia à...”

Cô gật đầu.

“Thảo nào, em toàn ói ra nước không. Anh chẳng nhìn thấy thức ăn gì hết. Em làm vậy bị đau ruột thì sao... Để anh đi nấu cháo cho em ăn. Còn phải lau phòng nữa...”

“Đừng mà anh...”, cô nắm chặt áo anh, “đừng đi mà anh...”

“Sao thế?”

“Đừng bỏ em... đừng bỏ em một mình... em sợ... em cô độc lắm...”

“Anh sẽ không bỏ em đâu. Anh yêu em mà...”

“Thật chứ?”

“Thật. Anh yêu em nhiều lắm.”

Cô mỉm cười với anh. Một nụ cười yếu ớt nhưng chứa đầy sự ấm áp.

Anh đã không thể nghĩ rằng cô yêu anh nhiều như thế... Mọi thứ dường như quá đơn giản, dường như lại không thực. Vì quá đơn giản nên anh mới cảm thấy không thực hay vì ngay từ đầu, mọi thứ vốn không thực nên nó xuất hiện dưới dáng vẻ đơn giản? Anh nhìn khắp xung quanh căn phòng của mình như để tìm kiếm sự kiểm chứng cho nghi vấn đó. Ở góc trái bức tường, nơi gần cửa sổ hướng ra phía ngoài đường, có đặt hai thùng cạc-tông. Đó là hai thùng cạc-tông đựng quần áo của anh và cô. Ban đầu, chỉ có thùng cạc-tông của anh. Cô để tất cả đồ đạc của mình trong túi xách du lịch loại lớn. Lúc cô mới chuyển về, anh đã muốn tìm cho cô một thùng cạc-tông để cô đựng quần áo. Nhưng cô nói với anh điều đó không cần thiết vì thùng cạc-tông và vali cũng không khác nhau cho lắm. Cô không muốn đồ đạc của mình di chuyển từ cái hộp này rốt cuộc chỉ để sang một cái hộp khác. Vì vậy, góc tường đó ngày trước có một thùng cạc-tông và một vali. Tuy nhiên, từ ngày cô giận anh rồi bỏ đi biển dễ dàng như thế, anh lại sợ một ngày nào đó, cô chỉ việc xách túi đã có sẵn đồ đạc rồi cứ thế mà đi. Mọi việc sẽ diễn ra rất nhanh chóng và anh không thể có thời gian để níu giữ cô lại. Do đó, anh tìm cách thuyết phục cô để đồ vào thùng cạc-tông giống anh và xếp túi xách lại. Anh giải thích rằng để thùng cạc-tông sẽ khiến cho căn phòng trông gọn gàng hơn vì nó là khối hộp chữ nhật. Căn phòng này hình chữ nhật, thùng cạc-tông của anh hình chữ nhật, laptop của cô hình chữ nhật, máy chụp hình cũng hình chữ nhật... mọi thứ đều hình chữ nhật nên khi ghép vào nhau, tất cả sẽ gọn gàng, vừa khít, không phí một khoảng không gian nào. Còn chiếc túi xách nếu để căng phồng sẽ chiếm diện tích nhiều hơn. Lẽ đương nhiên, đó là lời giải thích không thuyết phục cho lắm. Dù diện tích phòng nhỏ nhưng rõ ràng, trong căn phòng của họ có rất ít đồ đạc và vẫn còn dư khoảng trống rất nhiều nên việc tính toán chi li như thế là không cần thiết. Hơn nữa, so về mặt kích cỡ, một túi xách phồng ra và một thùng cạc-tông cũng chẳng khác biệt nhau là mấy. Thế nhưng, cuối cùng cô vẫn đồng ý để anh chuyển đồ của mình sang thùng cạc-tông. Thùng cạc-tông vẫn chỉ là thùng cạc-tông, không phải là một tủ quần áo vững chắc, khó xê dịch. Vậy mà, từ ngày quần áo của cô xếp gọn gàng vào chiếc thùng cạc-tông đó, anh cảm thấy yên tâm hơn trước rất nhiều. Ít ra, mỗi lần cô muốn bỏ đi hẳn, nó sẽ giúp anh trì hoãn cô thêm vài phút. Vài phút không là bao nhiêu nhưng dẫu sao nó vẫn đồng nghĩa với việc nếu như cô muốn dọn ra khỏi căn phòng này, cô cũng phải mất vài phút. Rời khỏi phòng anh không phải là việc đơn giản kiểu như chỉ cần mặc quần áo, xách vali đã đựng sẵn đồ rồi cứ thế bước đi. Thực vậy, nó không đơn giản như thế. Chỉ cần có thùng cạc-tông, nó sẽ không đơn giản như thế. Sẽ phải mất vài phút dọn đồ, cô mới có thể đi được. Và anh hi vọng, trong những trường hợp đó vài phút sẽ tạo được sự cách biệt giống như việc cầu thủ ghi bàn thắng quyết định ở những phút đá bù giờ của hiệp hai, những phút 90+ mong manh quí giá sẽ làm thay đổi suy nghĩ của cô. Lúc này, ở phần khung cửa sổ, khối chữ Aquarius đã cao gần ằng ba đốt ngón tay. Ở góc phải là chiếc bàn xếp nhựa cỡ nhỏ màu đen. Trên bàn, đặt những gói mì, xúc-xích, sữa, nước ngọt và một chồng sách có lẽ khoảng mười mấy cuốn của cô. Khi biết cô sẽ dọn đến phòng mình, anh đã âm thầm mua chiếc bàn đó. Trong tưởng tượng của anh, một người thích viết luôn cần một chiếc bàn. Nhưng hoá ra cô lại không cần bàn, cũng không cần ngồi khi viết. Cô chỉ cần một chiếc gối ôm dài chắn ngang trước ngực và cứ thế mà nằm viết. Vì vậy, rốt cuộc chiếc bàn đó lại trở thành nơi lưu trữ thức ăn và sách. Cuối cùng là tấm nhựa trắng (màu trắng ở đây chỉ mang khái niệm tương đối vì tấm nhựa đã bị bạc màu đi khá nhiều) loại rẻ tiền không hoa văn cầu kì trải trên sàn nhà trong căn phòng họ sống mỗi ngày. Cô từng nói với anh rằng cô không thích những sàn nhựa giả gỗ rẻ tiền. Nếu không thể là một sàn gỗ thực sự, hãy là một sàn nhựa rẻ tiền chính hiệu, đừng vờ như đang khoác trên mình một chiếc áo sang trọng là sàn gỗ. Cô không xem quan trọng việc cái nào tốt hơn, cái nào tệ hơn. Điều cô quan tâm nằm ở việc nó có thật sự là chính nó hay không. Vì vậy, cô hài lòng với sàn nhựa trắng đơn giản không cố ép mình (chính xác hơn là bị người ta ép để bán hàng cho những người không có nhiều tiền nhưng vẫn thích ngôi nhà của mình có vẻ sang trọng như một khu chung cư cấp cao) phải khác đi với chính bản thân mình. Bởi thế, cô thấy thoải mái khi sống trong căn phòng này. Nếu như sàn nhựa này là loại giả gỗ, có lẽ cô đã không được thoải mái.

Mọi thứ vẫn đơn giản. Đơn giản một cách bình thường. Hết sức bình thường. Anh chẳng tìm được điểm nào phi lý trong sự tồn tại, sắp xếp của tất cả đồ đạc trong căn phòng này. Một chút cũng không. Chẳng có vật nào khả nghi. Chẳng có vật nào mang dáng vẻ của sự không thực đang núp bóng dưới hình thức bề ngoài đơn giản này cả. Và cô đang ở đây, mỉm nụ cười yếu ớt nhưng ấm áp trong vòng tay anh. Anh nhẹ nhàng đặt một nụ hôn lên môi cô. Ngay lập tức, mùi bia, mùi thuốc lá từ cô xông vào mũi anh, rồi như lan thật sâu, thật sâu bên trong cơ thể anh mỗi một lúc anh cố gắng nắm lấy những chuyển động của lưỡi cô. Có lẽ, đây là thứ không thực nhất, mùi bia, mùi thuốc lá, họ bên nhau như thế này, những chất dịch mà cô đã nôn ra trên sàn, trên áo anh, đường chuyển động ướt át của lưỡi... căn phòng này cứ như một thứ nước ối ấm áp đang bao bọc lấy họ và họ chỉ là đang cố gắng tìm hơi ấm từ cơ thể của nhau, hơi ấm từ sự tương giao.

 

Chắc chắn đây không phải là

một khối bêtông đặc ruột

Bảo Bình

 

Hôm đó là sinh nhật của nàng.

Hôm đó là ngày nàng bắt gặp ngôi nhà đó.

Lẽ tự nhiên vào sinh nhật thường có bánh kem.

Lẽ tự nhiên ngôi nhà thì phải có một cửa ra vào ngoài mặt tiền.

Và hôm đó, quả thật nàng cũng có bánh kem. Một chiếc bánh kem thật sự, không phải là chiếc bánh kem trong khái niệm. Tuy nhiên, nó giống chiếc bánh kem trong khái niệm ở chỗ nàng không biết nó xuất xứ từ đâu, từ lúc nào mà nó có ở trước mặt nàng, ai đã mua nó cho nàng hay nàng đã tự làm ra nó? Nó chỉ khác chiếc bánh kem trong khái niệm ở chỗ nàng có thể chạm vào nó. Nếu như không có điểm khác biệt này, có lẽ nàng đã nghĩ đó là chiếc bánh kem trong một cuốn từ điển nào đó có kèm hình minh hoạ.

Tuy nhiên, ngôi nhà trước mặt nàng lại không có cửa chính. Nó hoàn toàn có hình dáng bên ngoài giống như một ngôi nhà ngoại trừ việc không có bất cứ cánh cửa nào để vào bên trong. Nó cũng có vài cửa sổ. Nàng đã thử chạm vào. Tuy nhiên, đó chỉ là cửa sổ giả mà người ta sơn. Như vậy, hoàn toàn không có một lối nào để vào ngôi nhà này. Nhưng nàng vẫn tin, chắc chắn phải có một lối vào. Có thể là có một đường hầm nào đó từ bên ngoài, thông với bên trong ngôi nhà này. Có lẽ đây là một ngôi nhà dùng để ẩn dật và lánh nạn. Nó quả thật đúng là một ngôi nhà nàng đang tìm. Một ngôi nhà mà cho dù kể cả có ai đó tìm ra nó, người ta cũng khó lòng vào bên trong. Phải rồi, chắc chắn, chắc chắn phải có một lối vào. Thế là nàng về lại ngôi nhà mà mình đang ở để lấy cuốc xẻng.

Chính lúc nàng quay trở về nhà, nàng thấy chiếc bánh kem đã ở đó, ngay trên bàn ăn trong nhà bếp. Nàng cũng đã quên mất hôm đó là sinh nhật nàng. Nhưng ai, ai đã lẻn vào nhà nàng và đặt chiếc bánh kem ở đó? Nàng kiểm tra kĩ lại khắp căn nhà và mọi cửa nẻo. Tuyệt nhiên không hề có dấu vết gì của sự đột nhập, cũng không có bất cứ món đồ nào của nàng bị lấy đi cả. Vốn là một người cẩn thận, nàng cũng nhớ rõ trước khi đi nàng đã khoá mọi cửa nẻo đàng hoàng. Rõ ràng, không thể có một người nào đó vào nhà nàng mà không để lại dấu vết được. Tuy nhiên, kể cả đối tượng khả nghi là ai nàng cũng không nghĩ ra được. Mà thật ra, nàng tin chắc chẳng có ai là đối tượng khả nghi cả, người đó không thể nào tồn tại. Cha mẹ nàng đã mất từ lâu. Nàng chưa từng có mối quan hệ quá thân thiết với bất kì ai đủ để họ biết được ngày sinh của nàng. Nàng cũng chưa bao giờ có ý định tiết lộ ngày sinh của mình cho một ai đó biết; mọi năm, vào ngày này, nàng cũng chẳng biểu lộ cảm xúc gì đặc biệt. Vì vậy, chắc chắn không thể nào có một người xa lạ tình cờ đoán biết sinh nhật của nàng được. Dường như, nàng càng cố gắng suy nghĩ thì mọi thứ xoay quanh chiếc bánh kem này với nàng càng vô lí hơn. Ngược lại, nếu chỉ nghĩ đó là một chiếc bánh kem trong khái niệm nhưng nàng lại có thể chạm vào nó, nàng vô tình có nó, mọi thứ lại như hợp lí hơn.

Nàng đào đất suốt nhiều ngày nhưng vẫn chưa thể tìm ra đường hầm vào ngôi nhà đó.

Nàng làm việc liên tục, không phút nào ngơi nghỉ với một sự hăng hái lạ thường mặc dù đến chính bản thân nàng cũng không hiểu tại sao nàng lại bị ngôi nhà đó cuốn hút đến vậy, tại sao nàng lại muốn vào bên trong nó đến như thế. Những khi đào đất, nàng chỉ nghĩ đơn giản: chắc chắn đây không phải là một khối bêtông đặc ruột.

Chắc chắn đây không phải là một khối bêtông đặc ruột.

Mồ hôi nàng tuôn xối xả đến nỗi bộ quần áo nàng đang mặc dính chặt vào người nàng như thể phía bên trong có một lớp keo. Dưới ánh nắng mặt trời gắt gỏng ấy, nàng đào đất.

Chắc chắn đây không phải là một khối bêtông đặc ruột.

Đôi bàn tay của nàng đã bắt đầu chai sần và nhiều gân xanh nổi lên. Dưới cơn gió lạnh của trời đêm ngoài đồng hoang, nàng đào đất.

Chắc chắn đây không phải là một khối bêtông đặc ruột.

Nhưng nàng vẫn không thể tìm ra đường hầm để vào căn nhà này.

Nàng không rõ cảm xúc của nàng lúc đó về chiếc bánh kem xuất hiện đột ngột ấy là gì. Với những vật lạ xuất hiện mà không có lí do, người ta thường có chút cảm giác nghi ngờ, thậm chí sợ hãi. Nhưng với nàng, thứ duy nhất mà nàng có thể chắc chắn vào giây phút đó là nàng không hề mảy may nghi ngờ lòng tốt của người tặng bánh kem (nếu người đó có tồn tại). Nàng lấy dao cắt một phần bánh để ăn. Và chính lúc đó, nàng phát hiện chiếc bánh kem ấy rỗng ruột. Nó chỉ là một lớp bìa cứng được gấp lại thành hình tròn, bên ngoài phủ lớp kem. Còn bên trong hoàn toàn rỗng. Tuy vậy, nàng không hề có cảm giác buồn hay hụt hẫng. Nàng đón nhận nó như một thông tin khách quan, không cảm xúc: đó là một chiếc bánh kem rỗng ruột, đó là một chiếc bánh kem không hề có bánh bông lan bên trong, đó là một chiếc bánh kem được làm từ bìa cứng, chỉ có lớp kem phủ bên ngoài. Vì không có bánh, nàng ăn hết phần kem phủ bên ngoài khá nhanh. Nàng dùng dao cạo lớp kem và đưa kem trực tiếp vào miệng mình bằng dao. Nhìn phần bìa cứng còn lại sau cùng đó, có lẽ khó ai nghĩ nó đã từng là một cái bánh kem. Một cái bánh kem rỗng ruột.

Vì không tìm được đường hầm có sẵn (hay nàng nghĩ là có sẵn) để vào căn nhà này, nàng quyết định sẽ tự đào một đường hầm mới để vào bên trong ngôi nhà. Nàng vẫn tin chắc chắn đây không phải là một khối bêtông đặc ruột.

Nàng đào nhiều ngày, nhiều đêm trong mặt đất không ngơi nghỉ. Càng xuống sâu, càng thiếu khí, nàng càng thở yếu. Nàng đã đào rất sâu rồi, nàng đã cách mặt đất không biết bao xa. Tuy nhiên, nền móng của ngôi nhà quá sâu, nàng vẫn chưa tìm được khoảng trống để có thể đột nhập vào bên trong nó từ phía dưới lòng đất.

Chắc chắn đây không phải là khối bêtông đặc ruột.

Nàng đào.

Chắc chắn đây không phải là khối bêtông đặc ruột.

Nàng tiếp tục đào.

Chắc chắn đây không phải là khối bêtông đặc ruột.

Nàng vẫn tiếp tục đào.

Chắc chắn đây không phải là một khối bêtông đặc ruột.

Và nàng chết. Trong lòng đất. Khi vẫn chưa kịp chạm đến độ sâu để có thể vào căn nhà đó.

Chắc chắn đây không phải là một khối bêtông đặc ruột.

Nàng chết đi cứ như thể không phải nàng chết trong khi đang cố sức tìm đường để vào được căn nhà đó. Nàng như chết đi trong lúc cố tự đào một huyệt mộ cho mình.

Chắc chắn đây không phải là một khối bêtông đặc ruột.

 

[còn tiếp]

 

 

-------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018