thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông cáo |
văn học
TRƯỚC NGÀY CHÚA LẠI ĐẾN [8]
Những kỳ trước: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7]

 

Ngày 30.4.1975. Công Tôn chạy đến giữa cầu Hiền Lương nói: Tôi có công với cách mạng. Nhưng cách mạng không tin ông, cách mạng còn muốn bỏ tù ông, nhờ có một vị lãnh đạo thích nhạc ông mà ông không bị bắt. Đến lúc ấy ông mới hiểu, chính trị không phải là chỗ của ông.

Công Tôn biến thành ma giữa khi danh vọng lừng lẫy, rượu ngon và gái đẹp ê hề. Lý Công Uẩn hỏi: Ngươi còn điều gì nuối tiếc?

Tôi đã chờ đợi suốt hai mươi năm chiến tranh và thêm hai mươi năm hòa bình để được vào đảng, nhưng đảng đã không kết nạp tôi.

Ngày 24.4.1975. Báo Saigon Post đăng một tin rao vặt làm Custer chú ý: “Nữ sinh viên năm thứ nhất, 19 tuổi, đẹp như mơ, còn trinh, con nhà giàu, biết chơi dương cầm, muốn được nhận làm con nuôi hoặc kết hôn với người Mỹ, Anh, Pháp, Đức để tiếp tục việc học ở nước ngoài. Mọi phí tổn xin thanh toán theo yêu cầu”.

Custer không còn thì giờ để phá trinh có thưởng.

Ngày 30.4.1975. Bùi Giáng ngồi thiền trong thiền viện Vạn Hạnh. Trước đó mấy ngày, quả bom CBU.55 lần đầu tiên được thả ở Việt Nam. Gần ba trăm bộ đội chết tại chỗ. Ký ức của họ chỉ có máu thoát ra từ thất khiếu.

Ngày 25.4.1975. Ông Dương Văn Minh bảo: Tôi chỉ làm tổng thống, không làm gì khác. Tôi là người duy nhất cứu được Sài Gòn không đổ máu.

Custer tìm các nghị sĩ chi tiền cho họ để mua sự nhất trí này.

Ngày 30.4.1975. Nguyễn Xoong bảo lũ con: Từ hôm nay chúng mày không phải đi học nữa.

Anh có muốn Custer chi tiền cho anh sang Mỹ chơi không? Hằng hỏi.

Đêm 31.12.1999. Bùi Giáng xem Kim Cương đóng kịch. Công Tôn ngồi uống rượu nhấm nháp một em hoa hậu. Lý Công Uẩn ngồi ở sân nhà bà Năm Hồng cọ rửa một bao cốt vừa tìm thấy trong ngày. Nguyễn Xoong nằm bò dưới đất đánh hơi mùi khai. Custer xem pháo bông trên bầu trời New York. Mì xoa nắn hai bầu vú teo tóp. Lan Thanh uống bia với khách.

Đêm ấy, anh làm gì? Anh nghĩ đến em và ước được hôn em. Liệu điều ấy hay tất cả những điều chúng ta làm còn có nghĩa gì sau ngày tận diệt? Hằng hỏi. Tôi nói: Anh chẳng hy vọng điều gì, bởi thế anh càng muốn hôn em.

Năm 1998. Nguyễn Xoong viết một thư ngỏ gửi tất cả văn nghệ sĩ trên thế giới, nội dung kết án Công Tôn là một thằng cơ hội, vì thế cần phải tẩy chay nhạc của ông ta. Cả thế giới cười sằng sặc. Riêng Bùi Giáng mới nhìn thấy bức thư đã bị nhồi máu cơ tim, ngã xuống đất. Máu tụ trong não, Bùi Giáng biến thành ma lảm nhảm nỗi nhớ miền sơn cước sắm vai tuồng chèo cho vui lòng mán mọi. Đôi khi tỉnh táo để lĩnh tiền nhuận bút, Bùi Giáng bảo: Thị phi là chuyện của ruồi, những con châu chấu dí buồi vào nhau.

Ngày 16.3.2004. Con ma mặt đỏ thèm rượu, ngáp dài nói với con ma đang nằm gác chân trên tảng đá: Nghe thơ thằng này giống như thủ dâm. Thà đi chơi đĩ hoặc uống bia ôm còn có lý hơn.

Con ma nằm bảo: Không thủ dâm thì làm được cái gì bây giờ.

Những con ma cái đâu hết nhỉ?

Chúng có thế giới của chúng.

Đấy là đâu?

Hỏi Nguyễn Xoong chắc nó biết.

Nếu nó biết, nó đã không phải thủ dâm.

Hay là hỏi Lý Công Uẩn?

Thử xem.

Thưa hoàng thượng, những con ma cái đi đâu?

Điều này thì phải hỏi Đức Phật?

Thưa Phật, những con ma cái đi đâu?

Cứ bước vào vòng luân hồi sẽ thấy.

Tại sao chúng con không được tái sinh?

Các ngươi không thể tái sinh khi trong lòng các ngươi vẫn còn quá khứ.

Năm 1998. Dưới gốc cây sứ của Hội Nhạc sĩ, Công Tôn nói với người bạn: Tụi nó không muốn cho moa ngồi đây nữa.

Thì đi chỗ khác.

Vấn đề không phải chỉ là cái chỗ, mà là chỗ của moa.

Chẳng có chỗ nào của moa hay toa. Toa không ngồi dưới gốc cây sứ thì đến gốc cây me.

Ở đây moa còn cảm thấy có bạn bè.

Toa tiếc gì chúng nó, khi chúng nó đẩy toa ra.

Moa không tiếc chúng nó, nhưng đấy là cuộc đời moa.

Cuộc đời toa là thế giới ngoài kia. Thằng Nguyễn Xoong nó chửi toa không phải vô lý.

Người bạn đứng dậy, bỏ đi. Công Tôn ngồi nhìn nắng đang đổ về phía mình. Trên túi áo của ông có một tờ giấy mới ghi rằng: Từ hôm nay ông được nghỉ hưu.

Năm 1997. Nhà nhiếp ảnh Hoàng Hôn dẫn vợ đến nhà Công Tôn chơi. Hào quang của Công Tôn tỏa ra trong tiếng đàn và giọng hát buồn. Hoàng Hôn lấy làm vinh dự vì hào quang ấy đang hắt vào mình, còn cô vợ trẻ đẹp thì dường như cảm động và xao xuyến. Nàng cảm nhận được giọng hát buồn của người nghệ sĩ tài hoa kia đang hát vì mình. Cái tình yêu mong manh trong bài hát chẳng phải chính là cái tình yêu của ông với nàng? Công Tôn nói với nàng: Em lên gác, anh cho xem cái này.

Nàng nhìn chồng. Chồng gật đầu.

Nàng theo ông lên gác. Ông chỉ vào bức tranh người đàn bà khỏa thân, nói: Anh đã vẽ em trong những đêm say.

Bây giờ anh say hay tỉnh?

Em thích anh tỉnh hay say?

Say.

Ông ôm cô và bảo: Anh là người suốt đời say.

Ông cởi quần áo cô và đặt cô vào chỗ của bức tranh.

Sau này, có người khen Hoàng Hôn: Thằng Công Tôn nó chơi vợ ông ngay trước mắt mà ông chịu được thì cũng giỏi.

Hoàng Hôn chỉ cười bảo: Với anh Tôn thì sao cũng được.

Không một ai biết giữa Hoàng Hôn và Công Tôn đã có một cuộc trao đổi ngầm mà xét ra Hoàng Hôn cũng chẳng thiệt tí nào. Hắn chơi cô em gái Công Tôn ngay trong nhà của ông ta sau khi chụp hình khỏa thân cô này.

Năm 1998. Nguyễn Xoong trói vợ vào cây thập tự làm bằng gỗ thông, rồi treo cây thập tự lên xà nhà. Tay cầm roi, Nguyễn Xoong quất vào cẳng vợ, tra tấn: Đêm qua, mày trốn đi đâu?

Người vợ tóc tai rũ rượi im lặng. Mỗi lần chiếc roi của Xoong quất vào người, bà chỉ hơi giật lên một chút. Bà càng im lặng, Xoong càng điên tiết, ông quất vào chân bà cho đến khi mỏi tay mới ngừng lại. Bà thều thào: Hãy đi tìm con. Rồi ngất lịm.

Xoong hạ dây thừng thả bà xuống, tháo dây. Ông ôm vợ khóc và hôn lên hai ống chân rướm máu của bà.

Năm 1990. Những đứa con của Xoong lần lượt bỏ nhà đi sau nhiều lần bị đánh đập trên cây thập tự. Cô con gái tìm bác Tôn xin giúp đỡ. Bác Tôn gửi cho người bạn có một công ty lớn. Một đứa con trai ra Huế vào chùa để quên lãng. Một đứa con trai khác bụi đời với lời thề sẽ giết bố, nhưng chẳng bao giờ nó làm được điều ấy, chỉ đơn giản vì tình yêu với một cô gái đã làm cho nó trở nên mềm nhũn.

Hằng hỏi: Em không hiểu tại sao Xoong lại đánh đập vợ con theo kiểu La Mã như thế? Anh đoán chừng, Nguyễn Xoong coi vợ con như hình ảnh của quân trộm cướp, hoặc cũng có thể là hình ảnh của thượng đế. Ông ta ở trong tâm trạng tuyệt vọng về một đấng cứu thế không có thật. Tôi giải thích thế, nhưng Hằng bảo, ông ta vốn coi vạn pháp là không kia mà. Tôi cười, nói: Bọn bất lực khi không dí cặc vào lồn được thì dí cặc vào tất cả. Hằng kêu lên, anh bậy quá. Tôi nghiêm trang nói: Triết học tánh không đấy em ạ.

Năm 1998. Đêm đêm, vợ Nguyễn Xoong chờ chồng ngủ say, lén mở cửa ra ngoài. Bà đi lang thang qua những tảng đá, lần mò sờ vào từng gốc cây dò hỏi: Con tôi đâu? Mặc dù bị chồng đánh dã man, bà vẫn đi qua những ngọn gió tìm con cho đến ngày bà tắt thở dưới thung lũng.

Tiếng chuông chùa ở Huế buồn như tiếng than của sự phế vong. Người con trai lớn của Nguyễn Xoong bây giờ đã là một đại đức. Thày bảo tiếng chuông trầm trọng hơn tiếng con người, bởi thế thày rất ít nói. Nhưng khi những người quen với Nguyễn Xoong gặp thày hỏi thăm về gia đình, thày lại nói: Tiếng chuông hay tiếng con người thì cũng là tiếng của hư không.

Ông bố của Nguyễn Xoong đi kháng chiến chống Tây khi Xoong còn nhỏ. Năm 1954, ông cụ trở về nhưng không về với mẹ con Xoong, sau đó ông tập kết ra Bắc cùng một người đàn bà khác. Nguyễn Xoong bảo: “Tôi là nhà thơ từ trời xuống. Và thơ tôi là máu kinh của các nữ thánh rỉ rả ngày trăng non”. Không nhà phê bình văn học nào có ý kiến về chuyện này. Khi Nguyễn Xoong lấy vợ, ông khoe với thiên tài triết học tấm hình vợ khỏa thân: “Đây là thiên sứ trinh bạch”. Thiên tài triết học mặc áo nâu sồng nhìn chùm lông lấp lánh của thiên sứ, bảo: “Để cho thơ trở thành hơi thở của thi sĩ thì kinh kỳ thiên sứ chưa đủ cho niềm túy lụy, cần có mùi khai của nước đái cho thơ ngạt thở chiêm bao”. Từ đấy trong thơ của Nguyễn Xoong không chỉ có máu kinh mà còn có mùi khai.

Hằng hỏi tôi: Anh có gửi một tiếng chuông lên trời không? Không, anh chỉ có mỗi tiếng chuông trong đáy vực, tôi nói. Nhưng Hằng bảo: Anh lúc nào cũng ấm ớ.

Năm 2000. Tại sân vận động Hàng Đẫy, hơn hai mươi ngàn người đã chứng kiến rồng bay trên trời. Ma Xoong (chưa đến Hải Dương bao giờ) bảo giống con rồng vàng bánh đậu xanh. Ma Bùi Giáng bảo giống con giun ngọ nguậy. Ma Công Tôn lại nói đó là cái xác rồng hiển linh. Riêng Lý Công Uẩn ngồi trên khán đài A nhìn thấy rõ nhất, nói đấy là con rồng giả. Quẻ Bát thuần càn. Hào cửu ngũ: “Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân”.

Năm 1950. Bố Công Tôn bán vải ở Nam Vang, thường có dịp gặp gỡ các nhà sư. Điều ấy cũng không ảnh hưởng gì đến máu mê cờ bạc của ông cụ. Nhưng triết lý nhà Phật về sắc và không lại làm cho ông cụ trở thành một người bản lĩnh trong trò chơi được – mất này. Ông bảo cái chính là có cảm thấy vui hay không, chứ không phải cuộc đời này có ý nghĩa gì. Công Tôn được thụ hưởng di truyền từ bố máu con buôn và cả sự khoáng đạt tâm linh. Những người làm chính trị đều biết tính cách này của Tôn, họ cho Tôn lên con tàu ảo tưởng phóng vào vũ trụ. Bùi Giáng gặp Tôn bảo: Trên đỉnh Phù Vân có Trần Nhân Tôn, có Pháp Loa, có Huyền Quang, có Phó Đức Phương, có Mỹ Linh, toa chẳng nên vướng lụy.

Tôn nói: Không lên Phù Vân, sao thấy được vô thường?

Giáng bảo cứ Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi cũng đủ thấu suốt con đường nhà ma.

Tôi nói với Hằng, có một con đường còn kinh khủng hơn nhà ma hay nhà thổ, đấy là đường vào nhà xí.

Năm 1970. Chuyện của T. Mẹ tôi sinh đứa con thứ hai. Tôi không biết có ai lấy nhau của em tôi về cho lợn ăn hoặc ngâm rượu uống hay không. Xét cho cùng, nếu có việc như thế mà không xảy ra trước mắt mình thì cứ coi như không có. Nhưng tôi đã phải chứng kiến cảnh mẹ tôi trốn vào cầu tiêu nhà thương, một bãi lầy cứt và nước đái, cùng với những người đàn bà khác nặn sữa xuống sàn để chứng minh với nhân viên y tế rằng vú mình không có sữa, mong nhận được một cái tem phiếu mua hai hộp sữa bò. Mẹ tôi tiếc sữa mình, nặn vào bát đưa cho tôi, nói: Con uống đi cho bổ. Tôi biết là bổ, nhưng gớm quá, lắc đầu. Mẹ bảo: Không phải con đã từng bú sữa mẹ sao? Con gầy cũng được, nhưng con không uống nữa. Năm ấy tôi mười tuổi.

Năm 1979. Chuyện của K. Tôi ở trong trại cải tạo. Gần trưa có người bên ngoài nói to qua hàng rào: “Ông K có người nhà đến thăm lúc 2 giờ”. Trước đó năm phút, tôi ra cầu tiêu ngồi. Đó là một cái hố rộng nằm gần hàng rào kẽm gai, không che chắn, chỉ có hai cái cây bắc ngang. Mỗi lần ngồi xuống, ruồi ở dưới bay lên rào rào như một cơn lốc đen. Mẹ tôi giả làm nông dân cùng với đứa con tám tuổi vác cuốc đi qua, nói vọng vào: “Vợ mày nó đi theo thằng đại tá cách mạng rồi”. Không biết lặng đi bao lâu, tôi nói: “Không cần tiếp tế cho con nữa. Ráng cho thằng nhỏ đi học”. Trên hàng rào kẽm gai, ruồi bu kín làm mồi cho những con én về. Mẹ tôi và thằng nhỏ đã đi khuất, tôi đứng lên và nghĩ, mình không mặc quần cũng không có vấn đề gì.

Năm 1990. Khách sạn Bông Bụp có hai phòng không bao giờ cho thuê để dành cho nhạc sĩ Công Tôn và nhà văn Trần Trọng Đức lúc nào muốn dẫn gái đến cũng được. Giải thích về sự ưu đãi này, ông giám đốc khách sạn quốc doanh nói: Nhiệm vụ của chúng ta là không để các nhân tài bí giái. Bởi thế, nếu các nhân tài không tự kiếm gái được thì khách sạn cũng có bổn phận phải lo chu tất.

Có người nói truyện của tôi, giữa những dòng chữ là nỗi nghẹn ngào. Cũng có người nói, tôi tàn ác. Nhưng Hằng lại bảo: Em thích cái dâm đãng của anh.

Anh dâm cho em sướng, tôi nói.

Nếu Custer không lo cho anh đi Mỹ được thì em lo cho anh, anh đi không?

Ngày 16.3.2004. Hơn hai ngàn thuyền nhân Việt Nam bị quên lãng ở Philippines từ lúc cao ủy tị nạn liên hiệp quốc rút khỏi nước này năm 1989. Tổ quốc không còn họ. Thế giới không có họ. Bằng sự cầu nguyện và niềm hy vọng, họ chờ đợi ngày chúa lại đến.

Tôi bảo không có một người viết nào lại không hy vọng một điều gì đó. Chúa nói: Hãy tỉnh thức mà cầu nguyện. Nhưng dường như cả Lý Công Uẩn cũng đang ngủ gật.

Năm 1974. Dịch giả Phương Phương đến vườn Đá Tảng tìm Nguyễn Xoong. Lúc ấy vợ Xoong đang ở trong am tụng kinh. Phương Phương nói: Tôi vừa đọc xong tập thơ thứ ba của anh, và không thể không tìm anh.

Tôi xin thỉnh giáo. Xoong khoanh tay khiêm tốn.

Tôi biết là anh không có ý định nói thế.

Cô nghĩ là tôi có thể nói khác thật à?

Vâng.

Ví dụ?

Phương Phương quì xuống trước mặt Xoong. Cô lết tới và gục mặt vào háng Xoong hít cái mùi hôi nồng của ông.

Hãy nói điều anh muốn đi.

Xoong im lặng cởi cúc quần.

Năm 1975. Phương Phương vào chùa với một niềm bí ẩn mà chính Xoong cũng không hiểu được.

Năm 1998. Nhà văn Trần Trọng Đức dẫn vợ Hoàng Hôn vào khách sạn Bông Bụp. Người đàn bà nói: Em biết anh chơi thân với anh Tôn, cũng như anh Hoàng Hôn, điều ấy hoàn toàn không có gì quan trọng. Em muốn được làm tình với bất cứ ai em thích.

Trần Trọng Đức bảo: Anh lại chỉ muốn hiếp vợ thằng khác.

Năm 2001. Đồng chí giám đốc khách sạn Bông Bụp nói với Trần Trọng Đức: Tôi muốn vào hội nhà văn.

Không có gì khó. Chỉ cần có ít nhất một tác phẩm được xuất bản.

Ông xuất bản giùm tôi được không?

Được. Đưa tác phẩm đây.

Tôi chưa có. Ông viết giùm tôi được không?

Được. Thơ hay văn?

Cái nào sang trọng hơn?

Về hỏi vợ xem.

Vợ tôi thích văn. Nhưng bồ tôi thích thơ.

Vậy thì nên làm nhà thơ.

Nhất trí.

Chưa xong. Ông có bồ thì cũng nên chia sẻ với tôi chứ.

Lại nhất trí. Ông muốn bồ loại nào?

Tôi muốn bồ của ông.

Được.

Năm 1988. Một nhà thơ lão thành từ trung ương xuống gặp Nguyễn Xoong, nói: Nhận thấy chân tài của ông, chúng tôi đề nghị ông làm đơn xin gia nhập hội cho có chính nghĩa.

Xoong cười nhạt: Thơ cũng cần có chính nghĩa à?

Tất nhiên.

Nhưng tôi thì đếch cần.

Ngày 16.3.2004. Nhà thơ trẻ lên tiếng: Cháu làm thơ hay thế, tại sao không có ai khen? Các bác mù hết hay sao?

Ma Xoong hỏi: Thế mày có biết bú không?

Dạ, cháu chỉ biết bú sữa mẹ.

Thế thì về học bú thêm những thứ khác.

Ngày 10.3.2004. Ma Công Tôn nhớ những người con gái đẹp đã đi qua đời mình, ông mò vào quán Lan Thanh, vạch cu cho Hồng Phượng vọc. Sau khi xuất tinh, Tôn mới tỉnh táo hỏi chuyện Hồng Phượng. Cô gái bảo ngày xưa bố em là thiếu tá. Mẹ em thăm nuôi ông ngoại trong trại cải tạo, gặp bố em, lúc ấy đã bị vợ bỏ. Mẹ em tội nghiệp, mỗi lần tiếp tế cho ông ngoại bao giờ cũng đem thêm cho bố. Sau khi được thả, bố lấy mẹ, về quê sống.

Tôn hỏi: Bố em tên gì?

Anh hỏi làm chi?

Hỏi cho biết thôi.

Bố em tên K.

Nhìn mặt cô gái, Tôn nhận ra Hồng Phượng là con gái bạn mình. Ông ta vội biến vào những đám mây đang bay, để lại cho cô một chai rượu chát chưa tính tiền.

Những va đập làm em mất tự chủ. Hằng nói. Đêm qua em phải uống rượu mới ngủ được. Những khuôn mặt lạnh tanh lướt qua hành lang hẹp. Chúng gạt tàn thuốc xuống nền nhà và nói năng ồn ào. Dưới đường dây điện ngầm, những xác ve đang mục. Em thật sự thấy cô đơn và trên làn da màu vàng rỉ nước. Một điều gì đó trong em đang mất đi. Em nhớ những bắp ngô luộc của cô gái từ miền Bắc vào. Chiếc xe đạp cọt kẹt phố khuya. Những hột vịt lộn vỉa hè rau răm và mùi khai dưới gốc cây me. Trên chiếc bàn dơ bẩn, những quân bài số phận nằm ngửa. Bà thày bói già xin điếu thuốc. Em đá tung đôi giày lên trời và chạy.

Trong thư viện trường đại học Berkeley, em viết cho anh và cảm thấy vui. Không biết tại sao. Phải chi có một ly cà phê với anh giờ này, em sẽ hạnh phúc.

 

[còn tiếp]

 

Đã đăng:

Chiếc chiếu hoa cạp điều bay lờ lững từ tây sang đông, ở giữa in hoa văn chữ “song hỷ”, hai bên có dòng chữ tiếng Việt “gia đình – hạnh phúc” viết theo kiểu chữ triện. Trên những ngọn cây tràm, lũ chim ngóc mỏ tò mò nhìn theo chiếc chiếu bay, không có một hạt thóc hay con sâu nào trên chiếc chiếu đẹp đẽ ấy... (...)
 
... Ngày rồng hạ sinh, có mây ngũ sắc phủ trên mái nhà. Để cho cuộc đản sinh của rồng mãi mãi là huyền thoại, người mẹ đã phải chết trong sự sợ hãi bởi những bóng ma tật nguyền của tương lai đứng trước cửa đòi báo oán. Rồng không khóc. Bà mụ đỡ đẻ cho rồng bảo: Đứa bé có năm tràng hoa quấn cổ này về sau gan lì lắm... (...)
 
Năm 1963. Bà Trần Lệ Xuân bảo món thịt nướng của mấy ông sư ăn không được. Mì lên chùa Ấn Quang đốt hương cầu nguyện cho bố. Người đưa tin cho biết, miền Nam sẽ có nhiều biến cố khó lường, nếu Mì muốn, sẽ đưa Mì ra nước ngoài. Mì nói: Tôi đã một lần xa bố. Tôi không muốn đi xa hơn nữa... (...)
 
Lý Công Uẩn vào điện Thái Hòa và ngồi lên ngai vàng, nhìn suốt mọi thời đại: Các khanh hãy bình thân. Trần Quốc Tuấn tâu: Giải phóng miền Nam xong, hoàng thượng nên miễn thuế cho trăm họ ba năm để hồi sức dân... (...)
 
Đêm 24.12.1980. Trong lán trại bằng lá giữa rừng, có một tiếng nói nhỏ: Chúa đã đến. Hơn một trăm người đang nằm thao thức đều ngồi bật dậy. Họ tiếp tục thầm thì: Chúa đã đến... (...)
 
Khi quá buồn thì con làm gì? Kẻ biến hình hỏi tôi. Tôi nói: Chửi một ai đó. Chửi sau lưng hay trước mặt? Dạ, chửi sau lưng. Sao không dám chửi trước mặt? Vì đó không phải là cách của tổ tiên dạy bảo. Thế con đã từng chửi ai? Dạ, con không dám nói. Con chửi thế nào?... (...)
 
Năm 1969. Lý Công Uẩn bị đem ra phê bình. Đồng chí là con của giai cấp quan lại phong kiến thì không xứng đáng đứng trong hàng ngũ vô sản. Đồng chí là sản phẩm của thứ đạo đức lạc hậu. Đồng chí không có quyết tâm làm cách mạng xã hội chủ nghĩa... (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2014