thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Tiểu công chúa

 

Tặng H. Ch.

 

Cuộc triển lãm của hoạ sĩ K. chỉ có mỗi một chữ: Tháp. Trên 50 bức tranh chỉ toàn vẽ tháp. Kỳ lạ hơn nữa là những cái tháp ấy không đứng trên mặt đất mà nghiêng ngửa như đang bay giữa mây trời hay trôi bồng bềnh trên dòng sông.

Bị dè bĩu, bị phê phán tơi bời nên chẳng có một bức tranh nào được bán ra. Một bức đã bán không trôi mà lão hoạ sĩ lại còn muốn bán tất cả chỉ cho một người. Có hoạ là điên! Những ngày cuối cùng khán phòng trống vắng đến nỗi một vài con chim sẻ bay vào định làm tổ. Chúng ngớ ngẩn húc đầu vào tranh, rồi chới với bay đi. Cũng như khách, chúng không bao giờ trở lại.

Vậy mà, ngày cuối cùng, trong lúc lão hoạ sĩ định thu dọn để trả lại phòng, có một người khách cũng kỳ dị không kém: chấp nhận mua tất cả. Đó là một triệu phú, dĩ nhiên, ông sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền lớn với điều kiện muốn biết vì sao hoạ sĩ lại vẽ những cái tháp đang say nghiêng ngả như thế!

— Ông có hơi tham lam quá đấy. Cũng như tôi rất tham lam và thô lỗ nếu đã nhận tiền của ông mà còn đèo bòng hỏi: tại sao ông lại bỏ tiền ra mua như thế!

— Tôi không dám có ý ấy đâu. Tôi chỉ muốn biết cái suối nguồn hư ảo nào đã khiến ông vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp này. Điều ấy chỉ làm cho tôi thêm ngưỡng mộ ông và yêu quý những bức tranh mà thôi.

— Rất tiếc là không thể.

— Vậy là tôi cũng rất tiếc!

— Tôi có thể bán cho ông với một giá tuỳ ông chọn, miễn sao tôi đủ trả tiền thuê phòng.

— Tôi không dám xúc phạm những bức tranh như thế. Và không hẳn riêng tôi, nếu bán như thế thì chính ông cũng đã vùi dập những tác phẩm tuyệt mỹ của mình.

— Vấn đề là tôi cần một người biết quý trọng và nâng niu chúng sau khi tôi qua đời, chứ không phải tiền, cũng chẳng phải danh vọng. Tôi đã hơn 70 tuổi rồi!

— Ý ông muốn nói, nếu không bán được thì ông sẽ hiến tặng viện bảo tàng?

— Không bao giờ! Không phải bảo tàng nào cũng có một con mắt tinh đời. Ở đó, những bức tranh tội nghiệp của tôi sẽ nằm trong nhà kho ẩm mốc, sẽ chỉ có chuột, dán và nhện tới xem mà thôi!

— Thế thì ông định sẽ làm gì?

- Điều này thì tôi có thể thổ lộ cùng ông. Tôi sẽ đốt trước khi tôi chết!

— Vậy thì tôi xin can ông. Tôi cũng xin rút lại cái điều kiện khiếm nhã đã làm ông khó chịu. Tôi xin trao ngân phiếu cho ông và mong ông gửi đến những báu vật này vào ngày mai, tại nhà số ... Xin gửi ông danh thiếp.

Người khách ký ngân phiếu trao cho ông và nhanh chóng ra xe mà không nói thêm một lời nào.

 

Khách khá giàu, biết cách làm ra nhiều tiền và cũng biết cách tiêu tiền. Ngôi biệt thự hai tầng kiến trúc theo kiểu Pháp nằm bên bờ biển. Phía sau là núi với những gộp đá phủ đầy dây leo và hoa dại. Ngoài phòng khách trang nhã và quý phái, những phòng ngủ với các ô cửa sổ màu trắng trông ra biển, còn có một đại sảnh màu tím nhạt trên tầng hai để trống chờ những bức tranh.

Khách đón lão hoạ sĩ như một người học trò đón thầy giáo cũ: khiêm cung và thân mật. Sau khi dùng trà, khách ngỏ ý mời lão xếp đặt vị trí các bức tranh sao cho thật hoà hợp. Lão hoạ sĩ đã không từ chối.

Phải mất cả một ngày hoạ sĩ mới làm xong cái công việc tưởng chừng rất dễ dàng ấy. Trước hết lão dành cả một buổi sáng chỉ để đi đi lại lại, hết ngồi trong phòng ngắm những bức tường, lại ra ngoài ngắm những ô cửa sổ. Rồi lão yêu cầu được treo tranh ở bất cứ chỗ nào có thể treo được, ngay cả trên trần nhà. Ánh sáng của các bóng đèn cũng được lão che chắn sao cho không bị hắt vào các bức tranh mà lão bảo là “như tạt cả một thau nước vào mặt”. Nói chung, lối treo tranh một phong cách rất kỳ dị cũng như các bức tranh của lão. Bức trên cao thật cao, bức d ưới thấp thật thấp. Có bức treo nghiêng bên cửa sổ như một cánh cửa, có bức lủng lẳng trên trần nhà như sắp rơi. Ấy vậy mà Tiểu Lan, nữ chủ nhân của phòng tranh lại rất thích.

Nàng không ngớt reo lên “đẹp quá, cứ y như trong mơ”. Rồi khi đèn bật lên với ánh sáng dìu dịu như ánh trăng xuyên qua lá cây, nàng tung mình lên như một vũ nữ ballet, bay lượn khắp phòng.

Nàng là tài sản vô giá mà chủ nhân của ngôi biệt thự có được. Để cho nhan sắc càng thêm phần tuyệt mỹ, ông đã cho nàng học múa ballet, học chơi đàn và hội hoạ. Chính nàng đã muốn mua tất cả những bức tranh vẽ tháp của lão hoạ sĩ chứ không phải cha nàng.

Khi cô gái ngừng lại để thở, lão hoạ sĩ như đã không tin vào mắt mình. Cũng làn da tươi mát như cánh đồng sau cơn mưa. Cũng mái tóc như mây mùa đông và nhất là đôi mắt nửa như của trẻ thơ, nửa như của nhà hiền triết, một đôi mắt thông minh rất mực mà cũng khờ dại không ai bằng. Ông lại càng ngạc nhiên hơn khi nàng bảo rằng đây chính là những giấc mơ của nàng và hỏi ông có phải chính ông cũng đã từng mơ như thế khi vẽ những bức tranh này.

Sau khi dùng một bữa tiệc nhỏ mừng phòng tranh đã được sắp đặt đúng như ý của cô chủ nhỏ, ba người ra ngoài hành lang ngắm trăng mười bảy vừa mọc lên trên biển. Mặt trăng khuyết một chút như trái táo có ai vừa cầm dao gọt bớt đi một phần vỏ. Nhưng trăng vẫn đẹp. Mặt biển sáng lên như một tấm gương mới lau. Những con thuyền chở đầy ánh trăng đã không còn chỗ để chở cá. Biển êm đến nỗi những con sóng ngả mình trên bờ cát chỉ nghe như một tiếng thở dài. Lão hoạ sĩ yêu cầu chủ nhân cho tắt hết đèn; và khi ngôi biệt thự cũng đựng đầy ánh trăng, lão nói:

“Thưa chủ nhân và cô tiểu chủ, tôi thực hạnh phúc được ngồi nơi đây để kể cho quý vị nghe về những bí mật của những bức tranh mà tôi đã dành cả một đời để vẽ. Tôi đã nguyện đem theo cái bí mật ấy xuống đáy mồ, nhưng hôm nay, tôi bỗng bàng hoàng nhận ra rằng nếu tôi cứ mãi giữ im lặng thì quả là đắc tội với quý vị.

“Ngay từ lúc mới biết đi, tôi đã nhìn thấy tháp . Lớn lên, nhìn đâu, đi đâu cũng thấy tháp. Tháp Bánh Ít ở trước mặt, tháp Phú Cốc ở sau lưng, tháp Cánh Tiên ở bên phải, tháp Đôi ở bên trái. Ba bề bốn mặt đều là tháp. Rất lặng lẽ, rất cô độc, nhưng không một chút u buồn, những ngọn tháp vẫn cứ đứng sừng sững và thắm đỏ, cho dù những người dựng nên đã không còn nữa. Có thể nói, tôi đã ăn ngủ hít thở cùng với tháp.

“Tôi mê cái màu đỏ gần như bất diệt của đất nung, cái màu không quá già để trở thành sành, cũng không quá non để trở thành gốm. Cái màu ấy có thể ví như một ngưòi đàn bà đẹp ba mươi tuổi, không quá tươi non như thiếu nữ, cũng không quá già dặn như một mệnh phụ. Lại còn những đường nét, hình khối, cái bóng của nó hắt lên trời chiều trong ánh hoàng hôn hay trỗi dậy sáng ngời trong buổi bình minh mới đường bệ và đẹp đẽ làm sao! Cả những lúc mưa gió bão bùng, nó vẫn có một vẻ đẹp của sự gan lỳ, của chịu đựng và kiêu hãnh. Nó đứng lặng yên như núi non nhưng sinh động gấp ngàn lần. Cứ mỗi phút giây đi qua, mỗi độ sắc của ánh sáng và bóng tối, nó đều có một vẻ đẹp riêng biệt.

“Xin lỗi quý vi, tôi có hơi dài dòng. Thực ra cái đam mê của tôi cũng chỉ là một chút săm soi của một anh thợ nề khi thấy một viên gạch quá đẹp. Anh ta ngắm nghía một chút rồi nếu không chặt làm đôi thì cũng trét hồ lên mà thôi. Tất cả cái kỳ công của tôi với toan với màu cũng không hơn được cái nháy mắt của một anh phó nhòm. Chỉ một tiếng tách là anh ta đã ghi lại được toàn bộ sắc màu, hình khối của cả một ngàn năm. Và nếu thừa tiền, anh ta có thể mỗi phút bấm một tấm hình. Đơn giản quá, dễ dàng quá, phải vậy không?

“Cho nên, công của tôi là công dã tràng. Những bức vẽ của tôi, sau bao nhiêu ngày chịu đói, chịu rét cũng chỉ là những tác phẩm ngu dại và phù phiếm. Vì sao? Vì nó vô hồn. Không cứ phải vẽ cho thật nhiều, trét đầy màu lên vải là được. Phải có một cái gì đó như là một cơ may, một phút bất chợt nắm được cái phần hồn của tháp mới mong vẽ được cái gọi là tranh. Phải tìm hiểu từng ngọn tháp trước khi vẽ. Phải biết cách người ta xây như thế nào. Làm sao hàng vạn viên gạch chồng khít lên nhau, gắn chặt vào nhau hơn cả những kẻ đang yêu, chất cao như núi, không một chút vôi vữa mà vẫn đứng mãi giữa đất trời đến cả ngàn năm?!

“Những bức vẽ của tôi còn thua một bức tường xây vụng của một anh thợ nề. Cái màu chín đậm của đất nung tôi pha được, nó nóng bỏng như vừa mới lấy ra khỏi lò, nó cũng nằm chồng khít lên nhau, cũng chịu đựng nâng đỡ nhau để vươn lên cao. Nhưng thật đáng buồn, nó cũng giống như một đống gạch người ta sắp xây tháp chứ không phải tháp. Làm sao vẽ được cái hồn của tháp, tức là hồn của những người muôn năm cũ trong mỗi viên gạch? Nếu Đoàn Phú Tứ vẽ được màu thời gian tím ngát và cả hương thời gian thanh thanh bằng chữ viết, thì một hoạ sĩ sao lại không vẽ được cái màu thời gian ấy và mùi hương ấy bằng những sắc màu?! Người ta bảo tôi điên vì đã đặt ra những thách thức quá lớn. Tôi sẽ thất bại nhiều lần nữa và nếu tỉnh táo hơn một chút thì tôi nên quẳng cọ mà đi làm thợ nề hay thợ gốm để sống một đời bình yên đề huề. Bởi vì nói như một thi sĩ Trung Đông, nếu anh thấy sống được thì cũng đừng nên viết vẽ làm chi!

“Quả thật là như vậy, tôi đã muốn vứt bỏ tất cả, nếu không có một cô con gái nhỏ mà tôi gọi là tiểu công chúa bất ngờ chỉ cho tôi thấy cái hồn của những ngọn tháp bằng cách vẽ lại những giấc mơ của nàng.”

Ông dừng lại, hít một hơi thật dài, rồi kể tiếp:

“Lúc gặp tôi, cô ấy cũng chỉ chừng 14, 15 tuổi. Cao, gầy và mong manh như một cây lúa, nhưng cũng rất mạnh mẽ như cây lúa. Đôi mắt cô thật trong sáng và xinh đẹp. Chúng long lanh như những hạt sương vừa mới đọng trên đầu ngọn lá.

“Hôm ấy là một buổi chiều. Tôi đang chờ đợi hoàng hôn, cái phút giờ mà tôi cho là đẹp nhất trong ngày. Chính cái ánh nắng sắp tắt còn cố bám trên những viên gạch của ngọn tháp mới là khó vẽ nhất. Làm sao vẽ được cái run rẩy của ánh nắng, cái bịn rịn của ly biệt, cái sững sờ của cách chia bằng những gamme màu nóng lạnh?!

“Trong lúc tôi đang lúng túng cầm cây cọ đã nhúng màu thì cô ấy không biết tự bao giờ, không biết từ đâu đến, đã đứng ở sau lưng tôi. Rất bất ngờ, cô hỏi:

— Ông hoạ sĩ ơi, ông có thể vẽ những giấc mơ được không?

— Vẽ những giấc mơ? Thật là những ý nghĩ ngộ nghĩnh. Tôi bỗng chợt vui như đứa trẻ khi có đứa khác rủ chơi một trò chơi mới. Tôi hỏi: những giấc mơ gì vậy? Mơ có áo đẹp, mơ có người yêu? Tôi bỡn cợt đôi chút. Nhưng cô không giận, nói: ‘Tôi mơ thấy những ngọn tháp đang bay!’

“Tôi liền tháo bức tranh để nằm ngang trên giá vẽ, nói: có khó gì, phải như thế này không?

— Không phải. Như thế thì bay sao được!

— Vậy thì để nằm nghiêng?

— Cũng không phải!

— Vẽ thêm cánh?

Cô lắc đầu buồn chán:

— Cứ tưởng hoạ sĩ các người vẽ được tất cả, không ngờ cũng rất nghèo nàn tăm tối !

— Vậy thì đầu óc trong sáng của các cô thấy cái tháp nó bay như thế nào?

— Trước hết nó không nặng nề như tranh của ông, cả ngàn tấn gạch như thế thì bay sao được. Nó phải nhẹ như mây trời. Mây trút nước xuống ngập lụt cả ruộng đồng, nhưng ông thấy đấy, nó vẫn bay.

— Đó là do hàng triệu hạt nước nhỏ cùng bay. Chẳng lẽ phải cho hàng triệu viên gạch này tách rởì ra để bay lên?

— Tôi không biết. Nhưng muốn bay được là phải thật nhẹ. Và điều này nữa, nó dịu dàng mềm mại chứ không phải cứng nhắc như thế! Nhưng có lẽ để vẽ được nó, thì ít ra ông cũng phải biết nằm mơ.

— Nằm mơ thì có khó gì, nhưng tôi chỉ nằm mơ thấy toàn ác mộng. Có bao giờ cô thấy mình mơ đi xe lửa chưa?

— Nằm mơ thấy đi xe lửa thì mơ làm gì!

— Tôi luôn mơ thấy mình đang đi trên những chuyến xe lửa kinh hoàng. Nó nghiêng qua ngả lại mà vẫn cứ vun vút lao qua cầu, qua những vách đá cheo leo. Kinh hoàng ở chỗ, nó chạy mà không có đường ray!

— Hay thật đấy, vậy là ông cũng biết nằm mơ và trong mơ thì mọi sự đều thật kỳ diệu phải không?

— Tôi chẳng thấy kỳ diệu chút nào, chỉ thấy toát mồ hôi và tim như ngừng đập. Cũng may là khi tỉnh lại tôi thấy mình còn nằm trên giường.

— Một con tàu không có đường ray mà vẫn chạy băng băng, một ngọn tháp nặng như thế mà vẫn bay được, thế mà ông vẫn bảo là không kỳ diệu! Ông còn muốn thế nào nữa? Thảo nào, xem tranh ông cứ như xem một đống gạch!

“Thật hết sức bất ngờ. Chính cái điều tôi khổ tâm xấu hổ nhất, phải bao nhiêu năm mới nhận ra được thì, chỉ với một cái nhìn, cô đã thấy hết cả gan ruột của tôi. Cô cứ như người nhà trời và cái cách cô nói giống như đang đi trên cầu vồng bảy sắc.

“Tôi bỗng nhớ đến các bức hoạ của các hoạ sĩ bậc thầy. Chẳng phải là mơ sao mà đồng hồ báo thức lại mềm hẳn ra như sắp chảy, một con dê mà cũng biết kéo vĩ cầm... Đột nhiên tôi thấy mình ngộ ra: vẽ, không phải kỳ khu như một thợ thủ công mà phải biết chơi với sắc màu như đứa bé chơi đùa trên cát. Lâu nay tôi đã làm một việc vô bổ là đi xây những cái tháp trên vải hay trên giấy. Giờ đây, với những ý tưởng tươi mới của cô bé, tôi tin là có thể vẽ được những ngọn tháp trong mơ. Tôi nói:

— Tôi hiểu ra rồi. Chính cô đã vẽ được những cái tháp trong mơ nhưng không thể vẽ được trên giấy hay trên vải, phải không nào?

— Đúng như vậy, và ông sẽ giúp tôi?

— Chẳng phải giúp, mà tôi và cô cùng vẽ. Cô sẽ kể cho tôi những giấc mơ, những hình, những dáng, những sắc, những màu. Cô có đầu óc biết mơ mộng, còn tôi có bàn tay biết cầm cọ, chúng ta sẽ xây những cái tháp theo cách riêng của chúng ta, phải vậy không?

— Rất phải. Xin cảm ơn ông.

“Từ buổi chiều hôm ấy, chúng tôi đã là những người bạn. Cô ấy ngoan ngoãn đi theo tôi như một đứa em nhỏ, lại để tôi sai vặt như một chú tiểu đồng. Chúng tôi thường tìm đến những bìa rừng, những bãi cát nhỏ trên sông, hay leo lên những ngọn đồi im vắng. Sau khi bày giá vẽ, chúng tôi hoặc nằm dài trên bãi cỏ, hoặc ngồi tựa lưng vào gốc cây và cô kể cho tôi nghe những cái tháp trong mơ. Khi thì phơi phới như một tà áo lụa, khi thì nhàu nhò đẫm nước mắt, khi há miệng ra cười lớn, khi nằm dài trên mặt nước như một con thuyền... những cái tháp cứ như thế dần dần hiện ra trên vải dưới cái nhìn rất ngây thơ của cô. Theo cô, chúng vẫn đang lớn lên, vẫn nói vẫn cười và cô tin chúng sẽ lấy nhau để đẻ ra những đứa tháp con!

“Như một vị thầy khó tính, cô luôn bảo sửa chỗ này, xoá chỗ nọ. Cô thường nói: ‘Điều cần nhất là ông không được vẽ những đường thẳng, cũng không vẽ cái màu u tối cho dù là trong đêm mưa. Ông cũng phải bỏ cái cách phối màu quen thuộc, không có chuyện màu nóng màu nguội gì ở đây cả. Màu hiện lên rất bất ngờ, hệt như lúc mặt trời vừa ra khỏi một cơn giông.’

“Tôi đã học hội hoạ ngần ấy năm, cầm cọ đến vài chục năm, vậy mà vẫn thấy những bài giảng của cô ấy thật mới lạ, hấp dẫn. Không một chút tiếc nuối, tôi đã phá bỏ hết những bức tranh cũ để dồn hết tâm trí và niềm say mê vào những bức tranh mới. Mỗi bức tranh là một giấc mộng mà những kẻ thô lậu quê mùa như tôi không thể nào mộng thấy được cho dù là nằm mộng giữa ban ngày. Những bức tranh ấy là tất cả tuổi thơ của cô. Hay đúng hơn, chính cô ấy là tác giả.

“Nói thì dễ, nhưng không phải chúng tôi chỉ trong một vài tháng là vẽ xong hơn 50 bức tranh kia. Bởi vì không phải đêm nào cô gái cũng nằm mơ và không phải giấc mơ nào cũng giống hệt nhau. Cô cũng thường gặp ác mộng. Đó là những hôm cô mơ thấy ngọn tháp ngã sụm xuống lòng sông hay nổ tung như một ngọn núi lửa. Cô bảo rằng những lúc ấy cô đã hét lên, và bao giờ cũng vậy, cô muốn quên đi, nhưng sự đổ nát, sự tan vỡ vẫn cứ ám ảnh cô rất nhiều đêm. Dĩ nhiên, những giấc mơ như thế không khi nào cô muốn vẽ lại.

“Chúng tôi xây những cái tháp biết bay đó trong hơn ba năm. Và trong ba năm đó, chúng tôi gặp nhau chỉ là để chơi nhiều hơn vẽ. Chúng tôi rảo khắp các vùng quê, đồi núi có thể đến được. Có lần lính Mãnh Hổ tưởng chúng tôi vẽ bản đồ cho địch. Bọn họ định bắt chúng tôi đem về trại, nhưng khi thấy những bức vẽ kỳ dị, họ đã ôm bụng mà cười. Chúng tôi cũng rất liều lĩnh khi ở lại đêm trên tháp Phú Cốc. Cơn mưa bất chợt đã khiến chúng tôi gần nhau hơn. Chúng tôi ngồi dựa lưng vào tháp và trong giấc ngủ chập chờn, cô công chúa nhỏ của tôi đã mơ thấy những người dân Chiêm đang xây nên cái kiệt tác của cả một dân tộc.

“Sáng hôm sau, cô đã kể cho tôi nghe giấc mơ mà cô cho là đẹp nhất. Đó là những Chiêm nương đội những viên gạch đi thành hàng dài với những bước chân khoan thai. Lớp đi lên đồi, lớp đi xuống núi, rất nhịp nhàng và uyển chuyển. Rồi khi tháp đã lên cao, họ chất củi xung quanh và đốt. Ngọn lửa cao đến nỗi làm cháy sém cả một mảng lưng của trời. Khi lửa tàn, ngọn tháp hiện ra trong tiếng hát, đỏ thắm như một trái tim khổng lồ. Tôi đã thử đem tất cả tài nghệ của mình cố vẽ lại những cảnh ấy, nhưng vẽ mãi mà vẫn không thành. Lần nào, cô cũng lắc đầu bảo không phải, những dân Chiêm vui tươi hoan lạc như thế kia sao ông lại vẽ họ khốn khó như những nô lệ. Tranh của ông chỉ thiếu ngọn roi da là tả được cảnh địa ngục!

“Cả tháng trời, tốn bao nhiêu màu, bao nhiêu vải, vẫn chỉ vẽ được có mỗi ngọn tháp đỏ rực như một trái tim mà thôi. Đó là bức thứ 51 và cũng là bức cuối cùng.”

 

Nói đến đây, hoạ sĩ dừng lại, xin phép chủ nhân được vào thăm phòng tranh. Ông ngồi một mình rất lâu trước bức vẽ cái tháp chúc đầu xuống đất. Đó là bức trái tim mà cô gái cho là đạt nhất. Cô đã từng buột miệng bằng câu thơ mượn của Nguyễn Du: ấm như hạt ngọc Lam Điền mới đông!

Rất nhẹ nhàng, Tiểu Lan đến sau lưng ông, hỏi nhỏ bên tai:

— Rồi sao nữa? Ông và nàng yêu nhau phải không?

— Không! Chỉ có tôi yêu nàng! Nhưng đó là một tình yêu tràn ngập lòng biết ơn. Trong ba năm đó tôi thấy mình lớn lên rất nhiều. Tôi đã hiểu được thế nào là cái Đẹp. Và với những xúc cảm tinh khiết như thế, tươi non như thế, nàng đã cho tôi nhiều thứ hơn là tình yêu đôi lứa. À, cô chủ nhỏ, nếu cô không bất bình thì tôi xin được vẽ tặng cô một bức truyền thần. Cô sẽ treo giữa khán phòng này vì cô là chủ nhân.

— Sao tôi lại có thể bất bình, thưa ông. Tôi rất vui được ông có nhã ý tuyệt vời như thế. Tôi sẽ thưa lại với cha tôi và tôi tin người còn vui sướng hơn cả tôi. Ông cũng biết đấy, cha tôi không hề tiếc tiền cho cô con gái nhỏ của mình.

— Tôi chưa vẽ truyền thần cho ai ngoài tiểu công chúa của tôi và cô, dĩ nhiên không có chuyện bạc tiền!

— Ông có vẽ truyền thần cho nàng sao? Bức vẽ ấy chắc đẹp lắm! Hiện giờ nàng ở đâu? Tôi muốn xin được một lần chiêm ngưỡng bức chân dung ấy.

— Đây là một câu chuyện khác, một bí mật khác cũng được. Tôi chưa có thể nói gì với cô về điều ấy. Tôi chỉ muốn nói điều này. Đó là một sự trùng hợp kỳ lạ giữa một người là chủ của những giấc mơ và một người là chủ của những bức tranh mà tôi quý còn hơn cả máu thịt của mình.

 

Một tuần sau, lão hoạ sĩ mang giá vẽ và sơn, cọ đến biệt thự Hoàng Yến. Người mẫu, Tiểu Lan, ngồi trên một gộp đá nhìn ra biển. Hoạ sĩ chưa vẽ vội, ông chỉ ngồi lặng yên ngắm nàng. Khung tranh đã được căng toan phản chiếu ánh mặt trời như một tấm gương. Và cũng như tấm gương, ông nhìn thấy khuôn mặt xinh xắn đáng yêu của nàng dần hiện lên mà không cần đụng tới một nét vẽ nào. Một giờ sau, ông bảo: đủ rồi, cô cứ việc vui chơi. Có thể là một tuần sau, cũng có thể một tháng sau, tôi sẽ mang tranh đến tặng cô.

Biết tính khí kỳ quặc và tin ở tài của ông, nên cả cha và Tiểu Lan, không một ai hỏi nói gì thêm.

Nhưng rồi một tuần sau, một tháng sau và cả một năm sau cũng không hề thấy tăm hơi lão hoạ sĩ. Không ai nghĩ rằng ông đã quên lời hứa. Cha con Tiểu Lan lo sợ ông có thể đã qua đời. Một ông lão trên 70 tuổi sống cô độc cho dù là ngồi trên đống tiền vừa bán tranh vẫn không thoát khỏi cái chết. Đôi lúc, họ sợ rằng ông có thể bị bọn cướp đoạt tiền rồi giết chết ông. Nhưng các nhật báo và tuyền hình không có tin tức về một vụ cướp nào như thế. Chỉ có một lão hoạ sĩ bị mất trộm trên 300 bức ký hoạ, nhưng sau nghe ra là đã lú lẫn để quên.

Mãi đến một ngày cuối năm của thiên niên kỷ thứ hai, giữa lúc mọi người vừa hồi hộp lo sợ vừa sung sướng đón mừng cái thời khắc có một không hai trong đời, thì ông lại đến. Ông già hơn rất nhiều, râu tóc đều trắng như cước. Tiểu Lan tuy ríu rít nói cười vẫn không ngăn được những giọt nước mắt. Nàng muốn ngả vào lòng ông mà khóc như đã từng ngả vào lòng của cha. Đặt hộp tranh lên bàn, ông nói chậm rãi:

— Xin lỗi cô chủ nhỏ, tôi đã không giữ được lời hứa. Chắc là cô buồn giận tôi lắm.

— Thưa hoạ sĩ, tôi đâu dám thế. Được gặp lại ông là tôi vui quá rồi.

Khi chân dung của Tiểu Lan được tháo khỏi hộp đựng tranh, bọn gia nhân quên cả phép tắc cùng chạy ùa đến xem. Nàng đang tuổi dậy thì, đẹp như trăng mới mọc, nhưng bức vẽ còn đẹp hơn. Nó sinh động đến nỗi ai cũng tưởng như chính hai con mắt trong tranh nhìn thẳng vào mình chứ không phải là người xem đang ngắm một đôi mắt đẹp. Tiểu Lan ngây ngất như muốn bay lên. Nhà triệu phú thì nhẹ nhàng bảo gia nhân hãy bày tiệc rượu. Ông nói, cái mừng này còn hơn cả mừng được sống đến năm hai ngàn mà không phải tận thế.

Bức chân dung được treo giữa những cái tháp bay càng làm cho căn phòng trở nên dịu êm, ấm áp. Cha con Tiểu Lan rất bối rối vì không chuẩn bị kịp một món quà để tặng lại ông. Cả hai người đều chỉ biết thốt lên: “Đẹp quá, kỳ diệu quá!” Khi tiệc rượu được bày ra, chủ nhân ngôi biệt thự nâng cốc nói trong xúc động:

— Thưa hoạ sĩ, cha con chúng tôi rất biết ơn ông. Quả thực cái tài của ông đã ngang tầm với các đại danh hoạ mà tôi được biết. Không phải ngầm khen con gái tôi, nhưng bức hoạ La Joconde khi được trưng bày lần đầu, thiết nghĩ cũng chỉ làm cho người xem xúc động đến như thế này mà thôi. Thực quá khiếm nhã nếu cha con chúng tôi muốn tặng ông một món quà theo như ý thích của ông. Mà khó thay, không biết ông thích gì!

— Tôi không dám nhận một món quà nào khác ngoài một cốc rượu. Ông và cô chủ nhỏ không việc gì phải áy náy. Ông và cô có biết tôi đã vui đến thế nào khi ngồi một mình vẽ chân dung cho cô. Tôi đã sống lại cái thời khắc đẹp nhất của đời mình. Ấy là lúc tôi vẽ tiểu công chúa của tôi, tức là nữ chủ nhân của những giấc mơ mà các vị đã biết.

Rồi ông kể:

“Sau khi đã ghi lại được gần như tất cả những ngọn tháp nhìn thấy trong mơ, một hôm tiểu công chúa bảo đã đến lúc cô phải đi. Hỏi vì sao, cô bảo vì hai lẽ. Thứ nhất cô không còn mơ thấy những ngọn tháp nữa. Thứ hai, cô phải bước hẳn vào đời sống, không thể cứ lửng lửng lơ lơ mãi được. Nói rõ hơn là cô phải lấy chồng, sinh con. Để ghi lại bóng hình của một thời chỉ biết nằm mơ thấy những cái tháp, cô muốn tôi vẽ giúp cô một bức hoạ chính nhan sắc đang đẹp dần lên của cô. Tôi rất buồn, nhưng cũng rất vui vì được vẽ chính cô, một ngọn tháp xinh đẹp nhất trong mọi ngọn tháp.

“Một buổi chiều trời đẹp, chúng tôi lên tháp Phú Cốc; và trong ánh hoàng hôn, cô đã ngồi chắp tay trước ngực để cho tôi vẽ. Thực ra là để cho tôi ngắm rồi sau đó về nhà ngồi vẽ một mình. Tôi không như những người khác phải mất rất nhiều giờ mới vẽ được. Tôi đã học được cách vẽ những giấc mơ của nàng và vì vậy tôi có thể đễ dàng thể hiện nàng lên tranh. Có một điều tôi và chắc các vị cũng không thể ngờ là nàng để tôi vẽ khoả thân. Khi nàng vào trong tháp để thay áo, tôi cứ tưởng nàng sẽ mặc một chiếc áo đẹp hơn. Đến lúc nàng buông tấm khăn choàng xuống đất, tôi sững sờ đến nỗi không nói được lời nào. Cứ như mặt trời vừa khuất sau rặng núi bỗng quay trở lại, rực rỡ đến chói loà.

“Tôi chưa bao giờ vẽ khoả thân. Đó là một nghệ thuật mà cái đẹp lúc nào cũng bị lợi dụng làm cho méo mó. Các hoạ sĩ thời Phục Hưng thì trau chuốt đến độ người ta có cảm giác là tác giả đang ve vuốt, sờ mó cái đẹp chứ không phải tái hiện cái đẹp. Các hoạ sĩ lập thể, như để cố tình che giấu cái dục vọng của mình nên biến cái đẹp thành những hình những khối bị cắt xẻ, nhìn vào cứ tưởng là những cái lưỡi cày.

“Lúc học ở trường, chúng tôi cũng có những bài tập về cách vẽ khỏa thân. Dĩ nhiên không có một cô gái hay người đàn bà nào chịu ngồi làm mẫu ngoài những ả giang hồ. Vì vậy, tranh không ra tranh. Vẫn những đường cong tuyệt mỹ mà tạo hoá ban cho nguời phụ nữ, nhưng cái đẹp đã qua tay hàng trăm người trở nên nhàu nhò tàn úa, chẳng còn ai thiết ngắm nhìn ngoài những con mắt bắt buộc phải nhìn của người học vẽ.

“Cái khó của người hoạ sĩ khi vẽ khoả thân, cho dù là với tinh thần nghệ thuật trong sáng vẫn không ngăn được những đợt sóng âm u cứ chực tràn vào bức tranh. Tôi biết mình không có đủ trí lực để thay mặt tạo hoá làm cái việc gọi là sáng tạo ấy. Tôi đi tìm cái đẹp trong các ngọn tháp. Vậy mà, vẽ mãi cũng chỉ được mấy mươi cái tháp trong mơ mà thôi.

“Nàng ngồi xếp bằng như toạ thiền, hai tay chắp lại che một phần ngực, mắt nàng nhìn xa xăm như đuổi theo ánh mặt trời đang lặn. Một sự thánh thiện kỳ lạ như ánh hào quang toả ra trên người nàng. Cái mùi hương thanh thanh mà nhà thơ vẽ được bằng chữ viết sao sánh bằng hoạ sĩ vẽ được bằng sắc màu. Tôi dám đoan chắc là các vị sẽ cảm nhận được cái mùi hương ấy, mùi hương của đồng lúa trỗ khi xem tranh. Nàng chưa bao giờ thanh khiết như thế và tôi cũng chưa bao giờ cảm thấy mình trong sạch đến như vậy khi tập trung tất cả trí lực và thần lực để thu nhiếp cái Đẹp.”

 

Lão hoạ sĩ tháo khung đựng tranh, và như một thác nước, người con gái khoả thân sáng ngời cả căn phòng. Nàng như nữ thần Shiva với bầu ngực tươi thắm chứa chan tình yêu khiến người ta ngưỡng mộ chứ không dám xúc phạm.

Giống như con bướm đã thoát xác để lại cái vỏ kén vàng rực, nàng đã bay về trời, không bao giờ trở lại.

Chìm đắm trong sự thán phục tận đáy lòng, Tiểu Lan có cảm giác như đã từng gặp ngưởi trong tranh ở đâu đó trong những giấc mơ của riêng mình.

Hai người đàn ông đều trầm ngâm như đang lửng lơ giữa mộng và thực. Mộng, là thiếu nữ ngồi tĩnh toạ trước cái tháp đổ dài như cái bóng của nàng. Và thực, là Tiểu Lan đang ngồi yên lặng nhìn tranh qua làn nước mắt. Gió chiều cứ xô mãi vào phòng làm cho mặt toan rung động, như người trong tranh đang thở phập phồng. Nếu nàng bất ngờ đứng dậy và bước ra khỏi bức tranh, thì cũng không làm ai ngạc nhiên. Lão hoạ sĩ lại lên tiếng:

“Suốt 30 năm chờ đợi mà vẫn không gặp được nàng, tôi đã định mang bức tranh này theo tôi đi vào thế giới bên kia. Tôi đã viết sẵn di chúc cho người thân rằng hãy dùng bức tranh làm khăn liệm. Nhưng khi gặp Tiểu Lan, tôi linh cảm có một điều gì đó rất huyền diệu. Tôi tin một cách mãnh liệt rằng tâm hồn của hai người giống nhau như một. Khi cô tiểu chủ bảo những bức tranh của tôi vẽ giống như những ngọn tháp cô đã thấy trong những giấc mơ thì tôi xúc động đến sững sờ như đã gặp lại nàng. Và khi tôi cố thu nhiếp hình ảnh của Tiểu Lan, rồi một mình trong yên lặng ngồi vẽ lại, tôi khóc đến ướt cả toan. Tôi không cách gì vẽ được. Mãi đến những ngày gần đây, cảm thấy cái hơi lạnh của thiên thu đã ngấm vào từng đường gân thớ thịt, tôi mới có đủ trí lực và thần lực để vẽ. Bởi vì vẽ được là giải thoát được.

“Đã đến lúc tôi cũng phải từ biệt tất cả để ra đi. Những bức tranh tôi yêu quý nâng niu và cả cái trần gian khốn khó này. Tôi rất mừng là đã được ông và cô không tiếc tiền, giữ hộ tôi những bức tranh. Tôi cũng xin dâng tặng bức tranh này cho Tiểu Lan, cô xứng đáng được gặp người chủ của những giấc mộng. Tôi xin gửi lời chào vĩnh biệt đến tất cả, những bức tranh, ông chủ lớn cùng cô chủ nhỏ.”

 

Và, ông lão đi ra, nhanh đến nỗi thoáng cái đã mất hút như tan vào bọt sóng.

 

Khuất Đẩu
Thu sơ, năm 2007
Hiệu đính 2012

 

 

---------------------------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2014