thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Nghĩ về Võ Phiến

 

(Bài phát biểu vào buổi ra mắt sách Cuối Cùng của Võ Phiến do tạp chí Thế Kỷ 21 và nhật báo Việt Herald tổ chức tại Westminster, Nam California, ngày 6 tháng 2, 2010).

 

Kính thưa Ông Bà Võ Phiến, kính thưa liệt quý vị, kính thưa quý bạn,

Hôm nay tôi rất hân hạnh được nói vài lời về nhà văn Võ Phiến mà tôi vô cùng quý mến.

Võ Phiến là một nhà văn lớn. Rất nhiều bài nghiên cứu, phê bình văn nghiệp đồ sộ của Võ Phiến được đăng tải trên các tạp chí văn học trong nước trước 1975, và hải ngoại sau 1975, trong một thời gian kéo dài hơn nửa thế kỷ. Gần đây, còn có hai cuốn sách khá dày và giá trị, một của Nguyễn Hưng Quốc nhan đề Võ Phiến, xuất bản năm 1996 tại California, một của John C. Schafer, viết bằng tiếng Anh, do Đại Học Northern Illinois University xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2006 nhan đề Võ Phiến and the Sadness of Exile (tạm dịch Võ Phiến và Nỗi Buồn Lưu Đày). Ngoài ra, ta có thể kể thêm luận án tiến sỹ văn chương Pháp của bà Trương Thị Liễu trình năm 2001 tại Đại Học Sorbonne, Paris, và hai luận án Cao Học trình tại Đại Học Mỹ, cũng với đề tài sự nghiệp văn học Võ Phiến.

Nêu những chi tiết vừa rồi, tôi muốn nói lên nỗi lo âu của tôi khi luận bàn về nhà văn lớn này. Những gì mình muốn nói có lẽ đã được đề cập rồi. Không khéo lại giẫm chân lên những con đường mòn. Tôi cũng xin nói thêm rằng tôi không có tham vọng đánh giá toàn bộ văn nghiệp Võ Phiến, đó là nhiệm vụ của những nhà phê bình chuyên môn, tôi chỉ là một độc giả vừa giở ra đọc lại một số trang sách của ông, rồi cao hứng nêu lên dăm ba ý kiến thô thiển.

Võ Phiến sinh năm 1925 tại Bình Định, năm nay được 85 tuổi. Vì lý do thời cuộc và hoàn cảnh gia đình, hầu như suốt thời thơ ấu và niên thiếu ông sống với mẹ, rồi với bà nội tại quê nhà, học trường làng, rồi trường tỉnh. Sự gắn bó với xóm làng từ thuở bé đã hằn lên những dấu ấn rất sâu đậm trong văn nghiệp của ông, càng về già những hồi ức về tuổi nhỏ càng tha thiết. Gần đây trong lần tôi gặp ông, ông bảo: “Độ này trí nhớ của tôi bết bát lắm. Chuyện mới xẩy ra hôm qua, hôm kia cũng quên, nhưng chuyện của năm bảy mươi năm trước đây thì nhớ. Nhớ xóm nhớ làng, nhớ con đường, nhớ bụi tre, nhớ nét mặt tiếng nói người quen. Nhớ lắm. Nhưng tôi không về, mà dù có về liệu còn thấy được gì. Đã mất hết rồi”. Nỗi nhớ ấy ta có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm của Võ Phiến, và ngay cả trong tạp bút Cuối Cùng vừa xuất bản, qua các bài “Hình Bóng Cũ”, “Mai Sau” , “Mộc Mạc”.

Năm 17 tuổi (1942) ông ra Huế học. Là một học sinh xuất sắc, ông được ông Đào Duy Anh, một nhà văn hoá nổi tiếng, và là người thầy rất thương mến ông, mời về nhà ở và dạy kèm mấy người con. (Sau này, ông Đào Duy Đức, con của ông Đào Hùng, cháu nội của cụ Đào Duy Anh, khi qua Mỹ du học có đến nhà thăm ông bà Võ Phiến). Những năm 1945, 1946 đầy biến động của lịch sử cận đại cũng là thời gian ông chạy đua nước rút với thời cuộc: đi bộ đội, ra Hà Nội học, trở về quê sinh hoạt văn hoá kháng chiến, lập gia đình với bà Viễn Phố (thật tình tứ, bút hiệu của ông là chữ nói lái tên của bà), rồi chống cộng, bị bắt, bị tù. Ở tù hai năm, nhờ có hiệp định Genève 1954, ông được phóng thích nhưng bị quản chế. Ông trốn ra Huế, được người bạn cũ giới thiệu làm việc với chính quyền Việt Nam quốc gia.

Đây là bước ngoặt lớn trong cuộc đời của ông, từ đó ông hoàn toàn thoát ly chế độ Cộng Sản, dần dà xin đổi hẳn vào làm việc tại Sài Gòn. Ngoài nhiệm vụ của một công chức, ông viết rất nhiều, và tham gia những hoạt động văn hoá đang phát triển mạnh mẽ, sau đó kiêm thêm việc dạy văn chương tại Đại Học Hoà Hảo tại Long Xuyên, Đại Học Phương Nam tại Sài Gòn. Di tản sang Mỹ tháng tư năm 1975 lúc 50 tuổi, ông lại làm công chức liên tục cho đến khi về hưu năm 1994 ở tuổi 69. Trong thời gian sống lưu vong, ông vẫn không ngừng sáng tác, trước tác. Ông miệt mài viết, bà miệt mài đánh máy.

Vậy là suốt cuộc đời của Võ Phiến, trừ thuở thiếu thời, ông đã làm việc toàn thời gian với tư cách một công chức cần mẫn, thường trực. Thế ông lấy thì giờ ở đâu để có thể xây dựng một công trình văn học giá trị và đồ sộ đến thế, với gần 50 tác phẩm? Câu trả lời có thể là: Ông có biệt tài, đọc nhiều, hiểu rộng, viết đều, viết nhanh, viết trong những thì giờ lẻ. Nói thế chưa đủ. Còn phải có lòng yêu thương tha thiết tiếng mẹ đẻ, phải có mối đam mê cùng cực với chữ nghĩa, phải theo sát sinh hoạt văn học nghệ thuật trong nước, ngoài nước để cập nhật hoá, phải có quyết tâm xây dựng và bảo tồn nền văn học nước nhà, và phải tinh tế, bén nhạy, sáng tạo.

Ông viết nhiều thể loại, truyện ngắn, truyện dài, tuỳ bút, bút ký, tiểu luận, tạp bút, tạp luận, khảo cứu và phê bình văn học, dịch thuật, loại nào cũng xuất sắc. Ông cũng có cho in một tập thơ.

Kính thưa quý vị, như đã thú nhận, tôi không có tham vọng đánh giá toàn bộ sự nghiệp Võ Phiến. Tôi chỉ xin nêu lên vài ba ý kiến.

Trước hết, thể loại phê bình chẳng hạn. Lấy trường hợp phê bình thơ Tô Thuỳ Yên làm thí dụ, ông nghiêng về đồng hoá tác giả với tác phẩm hơn là dùng văn bản làm cơ sở. Ông viết: “... nhận định về một tác giả là nhận định về một tâm hồn, chứ không phải về một kỹ thuật, một chủ đề, một tư tưởng.” Ông lại vốn không ưa lối diễn tả cường điệu, cho nên vừa khen ngợi Tô Thuỳ Yên, vừa không giấu được sự khó chịu. Ông viết:

... Nói Tô Thuỳ Yên dừng lại ở mỗi phút giây không phải là bảo ông nhỏ bé đâu. Trái lại... gốc mít nứt nở vỏ nói với ông bao điều thầm lặng lớn mà trí ta không đủ lực đo lường; goá phụ khóc chồng, ông kêu em khóc làm chi lẽ diệt sinh; tiếng chó tru ông thấy thăm thẳm ngây thiên địa... Tâm hồn ông tưởng chừng có kích thước vũ trụ. Ông từng bảo: Hoàng hôn xô bóng ta trên cát/ Ta lớn lao và ta cô đơn.

Sau này, khi nhìn lại, có lẽ ông cảm thấy lời phê bình trước kia có đôi chỗ gay gắt, nên ông đã viết trong Cuối Cùng về Tô Thuỳ Yên:

... bài “Ta Về” dài 124 câu. Say sưa, ngây ngất. Thơ Việt Nam cho đến đây chưa từng có dịp biết cái khả năng kích động tận cùng của nó. Người Việt Nam chợt nhận thức ra tầm cỡ lớn lao của tâm hồn mình. (Còn riêng tôi, tôi nẩy ra cái nết nói năng ba hoa không ai chịu thấu).

Quả là ông đã thẳng thắn chỉnh lại vài ý kiến cũ. Đó là một cử chỉ đẹp!

Bàn về thơ tự do, cũng thế, trước hết ông dị ứng với những lời tuyên bố của Mai Thảo khi cổ vũ “nghệ thuật hôm nay” bằng những chữ như ném chất nổ, phất cờ, xuống đường, ra sông, ra biển, và, tiếp đến, ông cho rằng một thể thơ, trước khi đạt đến hình thức hoàn chỉnh như thể lục bát chẳng hạn, đều bắt đầu bằng những quờ quạng rất 'tự do'. Phá phách xong, có thể cho ra thêm một đôi hình thức mới, có thể lại riu ríu trở về các hình thức cũ với một vài cải cách. Ông nêu trường hợp Thanh Tâm Tuyền thoạt đầu phát huy cái hay của thơ tự do, về sau, cuối đời, trở lại làm thơ cũ.

Tôi nghĩ khác. Theo tôi, vần điệu êm đềm, từ tốn, hiền lành của thơ lục bát, đều đặn, chững chạc của thơ bảy chữ, tám chữ khó có thể diễn tả đến tận cùng những quay cuồng, điên đảo, phi lý của nhịp sống bây giờ thường là quá nhanh và đầy bất ngờ, bất trắc. Thơ tự do, thơ xuôi, trong tình huống ấy, có thể thể đóng vai trò thích hợp hơn. Nhưng vấn đề là làm sao viết được một bài thơ tự do hay. Với những thể loại cũ, người ta nếu có tài sẽ đẻ ra những tuyệt tác, nếu không tài cũng có thể viết những câu đọc lên nghe xuôi tai nhờ vần, luật. Nhưng thơ tự do thì khác. Một bài “thơ tự do dở” không phải là thơ, mà chỉ là mớ chữ ngô nghê, lộn xộn, vô nghĩa, lập dị. Ngoài ra những nhà thơ tự do đều có thể làm thơ theo khuôn khổ cũ, nhưng họ còn muốn tiến xa hơn nữa trong khám phá, trong diễn đạt, trong nghệ thuật. Tôi liên tưởng đến Picasso. Trước khi nổi danh là một hoạ sĩ lập thể vĩ đại của thế kỷ, Picasso đã từng là một danh hoạ thuộc Thời Kỳ Xanh Của Ông(His Blue Period), rất chân phương, rất trữ tình. Nhưng tại sao thời gian trong tù và cuối đời, Thanh Tâm Tuyền trở lại vần điệu cũ như Võ Phiến đã nói? Theo tôi, vào thời gian ấy, Thanh Tâm Tuyền cũng có làm thơ tự do, nhưng rất ít so với thời trẻ. Lý do có thể là thơ tự do khó làm cho hay như đã nói, nó đòi hỏi sự độc đáo, tinh thần sáng tạo, cảm hứng dồi dào, kỹ thuật cao, và nhất là sự táo bạo, hăng say của tuổi trẻ. Khi đã già yếu, mệt mỏi, thôi thì trở về lối cũ có sẵn cho đỡ nhọc nhằn.

Cũng về mặt phê bình, vài ý kiến cho rằng Võ Phiến chủ quan và thiên vị. Chủ quan chăng? Thì ai mà chẳng chủ quan, hay nói một cách dè dặt hơn, một cây viết có ý thức sẽ cố gắng khách quan trong hệ thống tư tưởng, tình cảm của mình, mà có người gọi là khách quan chủ quan tính (xin tạm dịch chữ objectivité subjective). Thiên vị chăng? Dù không tâm đắc cung cách của một số người trong nhóm Sáng Tạo do Mai Thảo chủ trương, và rất ngưỡng mộ Nhất Linh, người khai sinh ra nhóm Văn Hoá Ngày Nay (ông viết: Nhất Linh không phất cờ, không ném 'chất nổ', không tung đao to búa lớn. Ông có một phong cách cố tình giản dị và một nụ cười tủm tỉm.) Thế nhưng Võ Phiến đã nhận định rằng “cái tính cách của hai mươi năm văn học Miền Nam có nhiều chỗ gần gũi với Sáng Tạo hơn là với Văn Hoá Ngày Nay.”

Những cây bút phê bình thường có giọng văn nghiêm trang, rắn rỏi. Tuy nhiên có hai trường hợp ngoại lệ, đó là Hoài Thanh và Võ Phiến. Hai vị này giống nhau ở nhận xét tinh tế, độc đáo, khám phá được những điểm nổi bật của mỗi nhà văn, nhà thơ, có khi viết như tuỳ bút, và viết thật hấp dẫn, lôi cuốn người đọc không ngừng. Nhưng cũng có khác nhau. Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam nghiêng về lối viết thi vị, rung động, đầy ấn tượng, và chủ ý tìm cái hay mà thôi, vì theo ông, “Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ ở trong những bài hay.” Võ Phiến thì viết linh động, uyển chuyển, thường pha những nét bỡn cợt, dí dỏm. Ngoài ra, lẽ dĩ nhiên ông xưng tụng cái hay, cái đẹp, nhưng không quên phê phán cái dở, cái xấu.

Kính thưa quý vị, tôi vừa nêu lên một vài khác biệt, nhưng trong sinh hoạt chữ nghĩa, sự khác biệt thường không mang ý nghĩa đúng hay sai, trái lại chỉ nhằm mục đích mở rộng đối thoại.

Võ Phiến là nhà văn hàng đầu của văn học Miền Nam trước 1975. Đến khi di tản qua Mỹ vào tháng tư, 1975, ông vẫn tiếp tục viết nhiều, đều, hay, và vẫn giữ ngôi vị hàng đầu. Đó là chuyện hiếm thấy. Ngòi bút của ông kiêm bị nhiều lãnh vực, và nhiều người cho rằng ông sở trường nhất về tuỳ bút. Ông viết tuỳ bút tuyệt hay: thơ mộng, bay bướm, duyên dáng, dí dỏm, tinh tế; tuy nhiên ta vẫn gặp những bài tuỳ bút, và cả nhiều truyện ngắn, toát ra cái buồn mênh mang, buồn vì những mất mát, những đau thương của kiếp người, những hư hao vô phương cứu chữa. Có thể nói rằng ông bi quan. Sau này khi xa quê hương, cùng với nỗi buồn cũ là cái hoang mang, bỡ ngỡ, phiền muộn. Trong tuỳ bút “Một Mùa Xuân An Lành” chẳng hạn, ta tưởng ông hài lòng với cuộc sống đầy đủ về vật chất, êm đềm, không lo âu, không tiếng súng, không sợ chuyện bất trắc. Cuối cùng thì ra, như ông đã viết: “Từ nay riêng mình chỉ có những mùa xuân an lành. An lành một cách xót xa... Chao ơi, cái an lành của một cuộc đời không tương lai.” Và, cũng như trong các truyện ngắn, truyện dài, tuỳ bút của ông thường mở rộng ra nhiều chân trời, mang nhiều mối bận tâm của kiếp nhân sinh khiến người đọc băn khoăn, suy nghĩ, thay vì chỉ được thưởng thức cái hay, cái đẹp, như khi đọc những thiên tuỳ bút khác của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, chẳng hạn. Xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu. Đây, nỗi lòng người về trong “Về Một Xóm Quê”:

Còn mươi đám ruộng nữa thì tôi về đến nhà, gặp ông tôi và đứa cháu vừa mất mẹ. Tôi không thấy có gì buồn thảm lắm, mà chỉ thấy một cảm giác dã dượi. Trước cảnh chiều, lòng tôi thản nhiên, nguội lạnh như trước một cảnh điêu tàn đã quen thuộc. Con suối khô, cát dưới chân kêu rào rạo, còn giữ hơi nóng âm ấm. Một đường nước con, không ngập khỏi mắt cá chân, chảy ngoằn ngoèo giữa suối. Trước khi tôi trèo lên khỏi bờ suối bên kia, một con mèo từ trong bụi bước ra cách tôi vài mươi thước tây. Nó nghẻo đầu lại nhìn một lát bằng cặp mắt buồn rầu, rồi như thấy rằng tôi không phải là một nhân vật đáng quan tâm, nó tiếp tục đi thẳng.

Và đây, tiếng ve lạ lùng ở Gia Nghĩa trong “Đô Thị Hoang Sơ”:

Tiếng ve vào cái giờ ấy bên dòng suối Dak Ut mới thật lạ lùng. Nó rỉ rả, thâm trầm. Như vừa kêu vừa suy ngẫm. Nó âm thầm, thu lắng. Bắt đầu phát ra riu rỉu, vươn dần lên; đến một lúc, tự thấy sắp trở nên ồn ào, nó giật mình tự hãm lại, rồi bắt đầu một đợt khác rỉ rả. Như một dòng suy tưởng hết sức khiêm tốn, suy tưởng miên man, tự phán về một thân phận hẩm hiu.

Kính thưa quý vị, dù say mê tuỳ bút của ông, tôi vẫn không thể sao nhãng những truyện dài, và nhất là truyện ngắn Võ Phiến. Theo tôi, truyện ngắn Võ Phiến còn giá trị hơn tuỳ bút. Ở truyện ngắn, tài năng của Võ Phiến đã phát huy đến cực độ – tài quan sát, mô tả, thuật sự, phân tích tâm lý, xây dựng không khí, khung cảnh, chọn lựa chi tiết, tính hài hước, chất thơ, và tạo nhân vật. Hầu hết các nhân vật của ông đều rất có cá tính, lại rất điển hình nên đã sống lâu dài trong thời gian. Đó là chưa kể truyện ngắn ông luôn luôn mang một nỗi niềm xa xôi, kín đáo nào đó khiến người đọc sau khi buông cuốn sách ra sẽ tự hứa rằng phải đọc đi đọc lại. Có khi ông phóng bút qua biên giới của tuỳ bút. Trong nhiều truyện ngắn, ông dụng ý rất cao, kết cấu bất ngờ, và biểu lộ lòng yêu thương bàng bạc ra mọi nơi, yêu cả người, cả cảnh, cả thú vật. Truyện “Quanh Mình” là một thí dụ. Viết truyện ngắn, ông như chim sổ lồng bay vút lên trời cao, như cá gặp nước vẫy vùng ngang dọc. Nhà điêu khắc người Pháp, Auguste Rodin, vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 được người đời cho rằng có hai bàn tay phù thuỷ, đụng phải vật gì, cục đất, hòn đá, khúc cây, là rút ra được ngay cái bí ẩn sâu kín và đẹp đẽ của nó, là nắm bắt ngay cái thần thái của nó, để tạo nên những tác phẩm bất hủ. Võ Phiến cũng không khác. Những gì quanh ta dù lớn, dù nhỏ, hoặc có vẻ ù lì, tầm thường, khó nhận diện, qua cái nhìn đầy khám phá của Võ Phiến, sẽ có ngay một linh hồn, một sức sống. Đó là ngoại cảnh. Ông lại không ngừng đi dò tìm thăm thẳm vào nội tâm con người. Trong bài viết ngắn này, tôi chỉ xin nhìn lướt qua vài truyện.

Trước hết “Thác Đổ Sau Nhà” . Đó là một kiệt tác, nó có vóc dáng của một truyện dài đề cập đến rất nhiều vấn đề, vẽ ra một bức tranh toàn cảnh của một thời, và nén lại còn khoảng 50 trang giấy. Những mảnh đời đầy bão tố trong một quãng thời gian đầy biến động của lịch sử nước nhà cũng như lịch sử thế giới, những hiểu biết sâu xa về con người cộng sản, chế độ cộng sản, những xung đột gay gắt về ý thức hệ, về chính trị, những trăn trở thầm kín của con người bề ngoài tưởng như sắt đá, những lo âu, băn khoăn, ray rứt của những người có ý thức sống sót bên cạnh những kẻ vô tâm chỉ biết hưởng thụ, tất cả đều được soi rọi bằng một cái nhìn xuyên suốt, biện chứng, và được phản ảnh một cách linh động, mô tả một cách tinh tế, thuật sự bằng một giọng văn buồn buồn, lắng đọng, đầy cảm khái. Phạm vi của “Thác Đổ Sau Nhà” rộng lớn quá khiến tôi khó lòng chọn lựa đoạn nào cho thích đáng để trích dẫn. Đành phải trích ra đây hai đoạn ngắn cuối cùng của truyện gọi là để gợi lại một lần nữa nỗi xúc cảm của tôi đối với truyện ngắn kiệt tác này:

Lúc đó tôi mới thấy rằng trong cái xã hội xao động dữ dội này vẫn còn có những chỗ lặng yên một cách ghê sợ phũ phàng, tôi thấy rằng mình đã bị đày đi xa cảnh thái bình an lạc và lạc mất đường về. Tôi nghĩ đến cuộc đời lao đao của Kha như một an ủi. Tôi ngồi nghĩ về Kha.
 
Qua màn nước mắt, tôi ngồi nhìn xuống màu khói xanh mù mù bàng bạc khắp sườn núi, nhìn vài con chim sẻ mổ lung tung vào mái chòi, rỉa một đôi hạt thóc khô còn dính trên đuôi rạ, tôi ngồi nghĩ đến cuộc đời lao đao của chúng tôi, của Kha và của tôi. Vâng, tôi nghĩ về Kha, và Kha là nhà tôi hiện giờ.

Các truyện ngắn khác cũng xuất sắc, mỗi truyện hay một cách. Nếu “Thác Đổ Sau Nhà” mở rộng ra cả một thời đại, thì truyện ngắn “Quanh Mình” chẳng hạn lại chỉ khép kín vào tâm hồn của một người đàn bà còn trẻ tên là Lộc, hiền dịu, đoan trang, mong chờ một tấm chồng, nhưng sắp phải giã từ tất cả. Trong “Quanh Mình” vẫn chỉ vài chi tiết nhỏ nhặt, ông đã làm nổi bật những đặc tính và thói quen của những con vật ta thường bắt gặp quanh ta, nhìn nhưng không thấy, đó là những con gà, con vịt, con mèo, con chó, cùng với sự quyến luyến của chúng đối với nàng. Tài quan sát có lẽ chưa đủ, phải có một tấm lòng mới nắm bắt được những điều không thể thấy bằng mắt. Nhưng không phải chỉ có chó mèo gà vịt mà thôi, có cả đứa bé ngây thơ đứng xa nhìn nàng, hoặc lảng vảng đợi nàng lúc đi lúc về. Nếu chỉ có thế cuộc đời của nàng đã được ấp ủ trong bầu không khí ấm áp, êm đềm. Bỗng dưng một người đàn ông đã có vợ xuất hiện với những ánh mắt lén lút, những câu nói lập lờ mà có sức ngấm đáng sợ, nó ngấm dần, ngấm dần. Thế là, tác giả đã kết thúc câu chuyện thật bất ngờ, thật ý nhị, mà cũng thật đau đớn, nàng quyết định về ở với mẹ thu xếp lại cuộc đời như thu xếp cảnh hạ màn, như thấy mình sắp mất một quê hương yêu dấu, và quê hương ấy là tuổi thanh xuân.

Những năm gần đây, ông dù tuổi già, sức yếu, trí nhớ mòn mỏi, vẫn rất minh mẫn, thỉnh thoảng làm dăm ba câu thơ, và mới đây thôi, ở tuổi 84 (2009), ông còn viết một tuỳ bút ngắn “Cái Sống Hững Hờ” . Xin trích dẫn vài câu:

Năm tháng trôi qua. Quá bát tuần, tôi lén lút hướng một chút tưởng tượng về cái kết thúc của đời mình. Chắc là gần thôi. Liếc mắt phớt qua tí ti, sợ gì? Liếc qua xong rồi liếc lại, tôi ngạc nhiên không nhận thấy một xúc động bất thường nào xảy ra cả. Cuộc sống đang tiếp diễn vẫn tiếp diễn đều đều.

Vẫn những ý tưởng sâu sắc, những nhận xét tinh tế, vẫn chút dí dỏm, bỡn cợt. Của một nhà văn lớn, một nhà văn đầy tính nhân bản. Thật đáng phục, đáng quý!

Kính thưa quý vị, trong một bài viết ngắn, tôi không thể nói hết những gì muốn nói, không thể trích dẫn nhiều. Tôi chỉ xin nói thêm rằng có người, trong đó tất nhiên có Bùi Giáng, cho rằng thi ca Việt Nam đã đạt đến tầm vóc quốc tế, còn văn xuôi thì chưa. Nhưng theo tôi, truyện ngắn của Võ Phiến xứng đáng đứng ngang hàng với các truyện ngắn nổi tiếng trên thế giới của mấy nhà văn hiện đại như Somerset Maugham (1874-1965), Robert Olen Butler (sinh năm 1945) chẳng hạn, dù mỗi người có một phong cách riêng. Nhà văn Võ Phiến là một cái vốn vô cùng quý giá của văn học Việt Nam, của quê hương đất nước.

Kính thưa ông bà Võ Phiến, kính thưa liệt quý vị. Trước khi chấm dứt, tôi xin phép được kính chúc ông bà Võ Phiến sức khoẻ, thêm nhiều tuổi thọ, kính chúc quý vị được an khang, nhân dịp xuân Canh Dần sắp đến.

Xin cám ơn và kính chào quý vị.

 

6/2/2010

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018