thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Sự diễn cảm

 

Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn

 

MARIO BENEDETTI

(1920-2009)

 

Mario Benedetti (tên thật là Mario Orlando Hamlet Hardy Brenno Benedetti Farugia) sinh tại Paso de los Toros, Uruguay, là một trong những cây bút hàng đầu của châu Mỹ La-tinh. Ông đã xuất bản 8 cuốn tiểu thuyết, 7 tập truyện ngắn, 8 tập thơ, 2 kịch bản và 1 cuốn tiểu luận. Từ năm 1973 đến 1985, vì không chấp nhận chế độ độc tài quân phiệt ở Uruguay, Benedetti đã rời bỏ quê hương và sống lưu vong tại Argentina, Peru, Cuba, và Tây-ban-nha. Khi chế độ độc tài quân phiệt đã kết thúc, ông hồi hương. Sau đó, ông sống và làm việc tại Montevideo (Uruguay) và Madrid (Tây-ban-nha). Benedetti đã được trao tặng bằng Tiến Sĩ Danh Dự về Văn Chương tại các trường đại học như Universidad de la República (Uruguay), và Universidad de Alicante (Tây-ban-nha). Năm 2005, Benedetti được trao tặng giải thưởng văn chương Premio Menéndez Pelayo. Ông qua đời tại Montevideo ngày 17 tháng Năm, 2009.
 
Bức ảnh trên đây được chụp năm 2005, trong khi Mario Benedetti đang đọc truyện “La expresión” [Sự diễn cảm] trong phòng thu âm tại Bộ Giáo dục và Văn hoá Uruguay. Cuốn băng này dài 2 phút 33 giây, đã được lưu trữ vĩnh viễn trong Museo de la Palabra [Viện Bảo tàng Ngôn ngữ] để phổ biến miễn phí trên toàn thế giới.
 
Mời độc giả bấm vào link này để thưởng thức giọng đọc của chính tác giả lúc ông đã 85 tuổi.

 

________

 

 

SỰ DIỄN CẢM

 

Milton Estomba đã từng là một thần đồng. Bảy tuổi, chàng đã có thể chơi Sonata No.3, Op.5, của Brahms,[1] và mười một tuổi, chàng đã được cả khán giả và giới phê bình đồng thanh ca ngợi sau một loạt những buổi trình tấu tại các đô thị lớn của châu Âu và châu Mỹ.

Tuy nhiên, khi chàng tròn hai mươi tuổi, người ta có thể nhận thấy một sự thay đổi rõ rệt nơi người nhạc sĩ dương cầm trẻ. Chàng bắt đầu lo lắng quá mức về những cử chỉ khoa trương, những nét cảm xúc trên khuôn mặt, những cái nhíu mày, ánh mắt xuất thần, và những biểu hiện tinh tế khác. Chàng gọi tất cả những thứ này là “sự diễn cảm” của chàng.

Dần dần, Estomba trở thành một chuyên gia về “sự diễn cảm”. Chàng có một lối diễn cảm riêng cho bản Patética,[2] một lối khác cho bản Niñas en el jardín,[3] và một lối khác cho bản Polonesa.[4] Trước mỗi buổi trình tấu, chàng nhìn vào tấm gương để tập luyện diễn cảm, nhưng khán chúng nhiệt tình lại cứ tưởng những lối diễn cảm ấy là ngẫu nhiên và đón nhận chúng bằng những tràng pháo tay điên đại, những tiếng reo hoan hô, và những tiếng dậm chân ầm ĩ trên sàn.

Triệu chứng bất an đầu tiên xuất hiện trong một buổi trình tấu vào đêm thứ Bảy. Đám đông nhận ra một điều gì lạ lùng đang xảy ra, và trong khi họ vỗ tay, họ cảm thấy bị choáng ngợp bởi cảm giác kinh ngạc. Sự thật là: Estomba đã chơi bản Catedral Sumergida [5] với lối diễn cảm của bản Marcha Turca.[6]

Tai nạn lặp lại một lần nữa chỉ trong vòng ba tháng sau đó, và được bác sĩ chẩn đoán là một khoảnh khắc mất ký ức. Những khoảnh khắc mất ký ức này tương ứng với những bản nhạc. Chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ đồng hồ, chàng quên tất cả những bản dạ khúc, dạo khúc và cầm tấu khúc mà chàng đã sở đắc trong vốn âm nhạc quảng bác của chàng.

Điều đáng kinh ngạc, điều thực sự đáng kinh ngạc là chàng không hề quên bất cứ một cử chỉ khoa trương hay một nét cảm xúc nào gắn liền với những bản nhạc mà chàng đã từng trình tấu. Mặc dù chàng không còn bao giờ có thể chơi dương cầm được nữa, chàng vẫn còn niềm an ủi này. Cho đến bây giờ, vào mỗi đêm thứ Bảy, những người bạn trung thành nhất của chàng vẫn đến nhà chàng để tham dự một cuộc trình tấu im lặng của những “sự diễn cảm” của chàng. Trong tất cả những “sự diễn cảm” đó, mọi người đều nhất trí rằng bản Appasionata [7]hay nhất.

 

 

------------
Dịch từ nguyên tác “La expresión” trong Mario Benedetti, La muerte y otras sorpresas (México: Siglo XXI, 1981 [ấn bản thứ 16]) 45-46.

 

_________________________

Chú thích của người dịch:

[1] Sonata No.3, Op.5, cung Fa thứ, cho dương cầm độc tấu, do Johannes Brahms sáng tác năm 1853.

[2]Patética (tiếng Tây-ban-nha) tức là bài Sonata No.9, Op.13, cung Đô thứ, cho dương cầm độc tấu, do Ludwig van Beethoven sáng tác năm 1798. Bản này thường được gọi là Sonata Pathétique.

[3] Niñas en el jardín (tiếng Tây-ban-nha) tức là bài “Jeunes filles au jardin”, do Federico Mompou sáng tác năm 1918. Đây là bài số 5 trong tập Scènes d'enfants (1915-1918).

[4] Polonesa (tiếng Tây-ban-nha): chắc hẳn Mario Benedetti muốn nói đến một trong những bài Polonaise của Frédéric Chopin.

[5] Catedral Sumergida (tiếng Tây-ban-nha) tức là bài La cathédrale engloutie do Claude Debussy sáng tác năm 1910.

[6] Marcha Turca (tiếng Tây-ban-nha): Mario Benedetti muốn nói đến chương 3 (Alla Turca) trong Piano Sonata No.11, K331, cung La trưởng, do Wolfgang Amadeus Mozart sáng tác vào khoảng năm 1783. Chương “Alla Turca” này có tiết tấu vui nhộn, trái ngược hẳn với phong cách ấn tượng (impressionistic) thơ mộng và u ám của bài La cathédrale engloutie của Claude Debussy.

[7] Sonata No.23, Op.57, cung Fa thứ, cho dương cầm độc tấu, do Ludwig van Beethoven sáng tác vào khoảng năm 1803-1806. Bản này thường được gọi là Sonata Appasionata.

 

 

------------

Đã đăng:

Người tù đó chiêm bao thấy mình đang ở trong tù. Cố nhiên, các giấc chiêm bao cũng có những chi tiết và kiểu thức. Thí dụ, trên bức tường trong giấc chiêm bao treo một tấm bích chương in tại Paris; còn trên bức tường ở thực tại chỉ thấy một vết ố vì nước thấm... [Bản dịch của Hải Ngọc] (...)
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018