thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Người đàn bà với cây trung hồ cầm và những con chồn | Thăm viếng | Nhà chiêm tinh dưới đất ngầm | Bình minh
 
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
 
 
ANDRZEJ BUSZA
(1938~)
 
Andrzej Busza sinh ngày 17 tháng 11 năm 1938 ở Krakow, Ba-lan, là một nhà thơ, một dịch giả, nhà nghiên cứu và phê bình văn học hiện sống ớ Canada. Sau Thế chiến II, gia đình ông rời Ba-lan (1939) qua ngả Rumani, đến định cư ở nước Anh, và trong khi tham gia các sinh hoạt trong giới những người Ba-lan hoạt động văn chương ở quốc gia này trong thời hậu chiến,[*] ông theo học và tốt nghiệp St. Joseph College, và University College, London. Năm 1965 ông dọn qua sống ở Canada là nơi sau đó ông đã giảng dạy văn chương Anh nhiều năm tại University of British Columbia, Vancouver. Bên cạnh viết lách, làm thơ, dịch văn chương Ba-lan, đóng góp đáng kể nhất của Andrzej Busza cho văn học Anh là công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Joseph Conrad[**]: có thể nhắc đến The Revolution of Things (Washington, D.C., 1974, với B. Czaykowski), Gathering Time: Five Modern Polish Elegies (Mission, B.C., 1983) và đặc biệt là chuyên khảo Conrad’s Polish Literary Background (Rome/London, 1966), và Joseph Conrad: The Rover (cùng với J.H. Stappe, Oxford, 1992).
 
Những bài thơ đầu tiên của Andrzej Busza xuất hiện trên tạp chí tiếng Ba-lan Kontynenty ở London trong những năm 1950, đồng thời cũng xuất hiện trên các tạp chí ở Ba-lan và nhiều nước trên thế giới từ 1958, cũng như được đưa vào các tuyển tập Ryby na piasku (London, 1965), Opisanie z pamięci (Warsaw, 1965), Neue polnische Lyrik (Darmstadt, 1965) và Nach der Sintflut: eine Auslese neuer polnischer Lyrik (Munich, 1968). Tập thơ đầu tay của ông xuất bản ở Paris là Znaki wodne (có thể tạm dịch là "Ngấn nước” - Institut Littéraire, 1969), tiếp theo là tập thơ song ngữ Astrologer in the Underground ("Astrolog w Metrze”, 1970/1079 do Ohio University Press ấn hành, với các bản dịch tiếng Anh của Jagna Boraks và Michael Bullock), Glosy i refleksje (do nhà thơ B. Czaykowski dịch từ tiếng Anh, Berlin, 2001), Scenes from the life of Laquedem (Toronto/Berlin, 2003). Bên cạnh nhiều bài thơ, tiểu luận và tác phẩm dịch thuật đăng rải rác trên những ấn phẩm văn chương, văn hoá và học thuật khắp thế giới như Kultura (Paris), Fraza (Rzeszow-Ba-lan), Strumien (Vancouver), Akcenty (Lublin) v.v. có thể nói các tác phẩm trên đã làm phong phú sự nghiệp của một nhà thơ và nhà nghiên cứu Ba-lan, một đại diện của thế hệ các nhà thơ trẻ Ba-lan thoát ra được phần đất quê hương bị Đức Quốc xã chiếm đóng, sống ở hải ngoại và không ngừng đóng góp cho văn học nước nhà. Với chủ đề là những thăng trầm muôn thuở của con người, thơ Busza độc đáo ở cách chọn lựa những dòng ngắn, những hình ảnh sinh động đầy cảm xúc và một thứ sức mạnh bùng nổ nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ "kiểm soát” của một cái nhìn chủ yếu nặng hình thức và một thứ ngôn ngữ tiết chế tối đa, không thường thấy nơi các nhà thơ thế hệ ông.
 
Andrzej Busza là thành viên danh dự của Viện Lịch sử Ba-lan tại La-mã, đồng thời còn là hội viên Hội Quốc tế các Giáo sư Anh ngữ, từng đoạt Giải Koscielski Foundation (1962) và từng nhận Canada Council Doctoral Fellowship để hoàn thành luận văn về mối liên hệ của nhà văn gốc Ba-lan Joseph Conrad với văn học Nga (University of London).
 
_________________________

[*]Ông là thành viên của nhóm các nhà thơ Ba-lan có tên là Kontynenty hoạt động ở London những năm 1958-1962.

[**]Joseph Conrad (Józef Teodor Konrad Korzeniowski, 1857-1924) là một tiểu thuyết gia hàng đầu có quốc tịch Anh gốc Ba Lan, với các tác phẩm nổi tiếng như Lord Jim, The Rover, Heart of Darkness, Typhoon, v.v... có ảnh hưởng lớn nơi nhiều nhà văn hiện đại trên thế giới.

 
 
______________
 
 
Thơ ANDRZEJ BUSZA
 
Người đàn bà với cây trung hồ cầm
và những con chồn
 
ở ngã tư đường
một người đàn bà đứng bất động
 
đợi chờ
cây táo
trổ hoa lần nữa
 
bà ép chặt một cây trung hồ cầm đen
vào bắp đùi
 
và run lên khi những hợp âm
tuôn tràn khắp thịt da mình như bầy kiến
 
ba con chồn
mỗi con một màu thu khác nhau
 
bốc mùi máu
trên những sợi gió rung
 
 
 

Thăm viếng

 
bạn sẽ đến với ta
băng qua tuyết
qua sương muối
qua những hàng cây trụi lá
 
ta sẽ nghe tiếng bước chân
trong những mảng tuyết gió cuốn
ta sẽ nghe tiếng nghiến
của chiếc chìa khoá đánh thức
 
bạn sẽ đứng lặng thinh
bên trong tấm gương soi
 
ở ba phía góc đêm
hoa hồng sẽ nổ tung
đỏ đen và vàng óng
dưới bầu trời buốt lạnh
 
 
 

Nhà chiêm tinh dưới đất ngầm

 
với một tiếng ầm dửng dưng
chiếc xe lửa
biến mất
trong đường hầm
 
trên chỗ đứng vắng vẻ ở đầu toa
một pháp sư râu bạc xám
tính toán
giao hội hiểm độc
của sao Hoả
và sao Kim khắc nghiệt
 
lão sư bận tâm gì
về cô thiếu nữ
đã biến thành một bài ca màu ngọc bích
đôi vú cô căng phồng bọc vỏ
một tia nắng li ti
đậu trên bắp đùi màu bạch dương
 
 
 

Bình minh

 
Tôi đứng trên một đảo nhỏ
vây quanh
là một màu ngọc bích yên tĩnh
những niềm vui
từ trung tâm địa cầu
đâm thủng tôi
như những mũi tên
bản thánh ca trần thế
của những vòm cung Gothic
những mũi thuyền muối mặn
lặng lẽ xé toạc
màn lụa trên mặt hồ
mỗi giác quan
nổi cơn thịnh nộ
trong ngọn lửa của vết sắt nung
tràn vào huyết mạch
với luồng sáng lân quang
và tôi biết
ngay bấy giờ
cánh cổng ấm ầm đe doạ đánh đổ
và thiên đàng hé mở những khe vào
 
 
 
-------------------
“Người đàn bà với cây trung hồ cầm và những con chồn”, “Thăm viếng” và “Nhà chiêm tinh dưới đất ngầm” dịch từ bản tiếng Anh “Woman With Cello and Foxes”, “Visit” và “Astrologer in the Underground” của Jagna Boraks & Michael Bullock trong tập thơ song ngữ Astrologer in the Underground [Astrolog w metrze] của Andrzej Busza (Ohio University Press, 1970). “Bình minh” dịch từ bản tiếng Anh “Break of Day” của Jagna Boraks trong tạp chí OASIS, số 6 - 1972.
 
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018