thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Văn học trong một nền văn hoá điện tử

 

Trong năm cuốn sách đã in của tôi, bản thảo hai cuốn đầu được viết tay, cuốn thứ ba bằng máy đánh chữ, hai cuốn cuối bằng computer. Tôi không biết những phương tiện khác nhau ấy có ảnh hưởng gì đến cách viết của tôi hay không, song có điều, với tư cách là một người đọc, chủ yếu là người đọc tác phẩm của chính mình, những sự thay đổi vừa nêu dường như không để lại dấu ấn nào đáng kể. Từ trước đến sau, dù là viết tay hay đánh lộp cộp trên máy chữ hay gõ rào rào trên bàn phím computer, tôi vẫn là đệ tử trung thành của nền văn hoá in ấn. Đọc bản thảo viết tay, thấy chữ của mình bay lượn tung hoành trên trang giấy, ừ thì cũng thích, nhưng đó là cái thích trước một cái gì gần gũi, thân mật, như đọc một lá thư hay mấy trang nhật ký. Vậy thôi. Thích, hơn nữa, thương, nhưng không phải là ngưỡng mộ. Có cảm giác, dù hay đến mấy, nó vẫn chưa phải là một tác phẩm. Cho nên, lần nào cũng thế, viết xong là nôn nao được in. Và lần nào cũng thế, nhận được cuốn sách hay tờ báo có bài viết của mình, bao giờ tôi cũng đọc lại ngay. Một lần. Có khi, hai lần. Thấy bài viết của mình lạ hẳn. Dưới hình thức chữ in, bao giờ nó cũng có vẻ hay hơn. Và nhất là, sang hơn. Có lẽ phần nào nó cũng giống cảm giác của những người miền quê lần đầu tiên được mặc bộ quần áo lớn: tự ngắm mình trong gương mà cứ ngỡ như ngó một ai khác. Từ đó, tôi hiểu được lý do tại sao bao nhiêu người quần quật làm việc để chắt chiu từng đồng hầu in ra một tập thơ hay một tập truyện ngắn, cho dù chỉ để chất đống trong góc nhà: trong văn hoá của chúng ta, cho đến nay, tác phẩm là những gì được in. Chưa in, chưa phải là tác phẩm. Chưa in, chưa thể nào có được cảm giác ngây ngất khi đọc và khi ngắm đứa con tinh thần của mình.

Trong những năm từ 1994 đến 1996, tôi viết hai cuốn Võ PhiếnThơ, v.v... và v.v... trực tiếp trên computer. Mỗi lần viết xong một chương hay một đoạn dài, tôi lại in ra để đọc. Dĩ nhiên, trong quá trình viết, tôi vẫn đọc và sửa ngay trên màn ảnh. Nhưng lúc ấy, tôi có cảm tưởng đọc trên màn ảnh và đọc trên trang giấy là hai điều hoàn toàn khác nhau. Đọc trên màn ảnh là cái đọc của một người nghiên cứu cốt để phân tích, để tìm hiểu chỗ nào đúng và chỗ nào sai, chỗ nào cần thêm và chỗ nào cần bớt. Một cách rất tỉnh táo. Chỉ trước trang giấy, tôi mới đọc như một người thưởng thức. Bằng tất cả tâm hồn của mình. Tôi không những theo dõi được lập luận mà còn nghe được cái hơi văn chạy từ đoạn trên xuống đoạn dưới, nghe được tiếng ngân của chữ, độ trầm bổng của thanh điệu, cái nhịp ngắt dài hay ngắn của từng dấu chấm và dấu phẩy, cái ngập ngừng của các dấu ba chấm nối đuôi nhau kết thúc một câu dài, v.v... Tất cả những yếu tố ấy - những yếu tố, theo tôi, làm nên văn chương - chỉ có thể được cảm nhận từ trang giấy chứ không phải từ màn ảnh. Bởi vậy, đọc tin tức của các tờ báo điện tử, tôi đọc thẳng trên màn ảnh; nhưng muốn đọc các bài viết liên quan đến văn chương, dù là một bài thơ, một truyện ngắn hay một bài phê bình và lý luận văn học, nhất là khi muốn đọc một cách nghiêm túc, bao giờ tôi cũng in ra.

Trong suốt thời gian ấy, thỉnh thoảng tôi nghe đâu đó người ta nói đến sách điện tử (e-book). Nghe, lòng đầy hoài nghi. Như nghe một chuyện khoa học viễn tưởng. Hoặc ơ hờ: nếu sách điện tử, một ngày nào đó, tràn ngập thị trường, thì trong số độc giả của nó, hẳn sẽ không có mình, kẻ lỡ sinh ra trong nền văn hoá in ấn, suốt một đời nâng niu trên tay những cuốn sách bằng giấy thơm nồng mùi mực.

Nhưng chỉ mấy năm sau, tôi biết là tôi lầm. Lầm to.

Chính trong thời gian viết thẳng trên computer hai cuốn Võ PhiếnThơ, v.v... và v.v..., hằng ngày phải đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại sáng tác của mình trên màn ảnh, tôi dần dần làm quen với cách đọc các văn bản văn học trên computer. Để, một hai năm sau, khoảng 1997 hay 1998 gì đó, viết những bài báo tập hợp trong cuốn Văn học Việt Nam, từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại này, tôi hoàn toàn không còn thấy có nhu cầu phải in ra giấy nữa. Chỉ đọc trên màn ảnh. Là đủ. Cũng thấy được mạch văn chạy. Cũng nghe được tiếng thở phập phồng của từng con chữ, lời tình tự âm thầm giữa các con chữ với nhau. Cũng nghe được cả âm hưởng của từng dấu câu, chẳng hạn, dấu chấm này hơi gắt, dấu chấm kia ngọt ngào, dấu chấm nọ, ở cuối một đoạn dài, có cái gì như thể ngẩn ngơ. Với con mouse trên tay, tôi lướt từ đoạn này qua đoạn khác, lòng bồi hồi không nguôi theo từng triều văn như sóng vỗ lúc nhịp nhàng lúc ào ạt. Trước màn ảnh computer hay trước trang sách in, tôi cũng đều là một độc giả văn học trọn vẹn. Gần như không có gì khác nhau. Gần như không có mất mát nào khi chuyển từ trang sách đến màn ảnh.

Những sự thay đổi ấy khiến cho tôi càng ngày càng tin là một lúc nào đó, những cuốn sách điện tử hoặc những tác phẩm chỉ phổ biến qua hệ thống internet hoàn toàn có khả năng thay thế những cuốn sách bằng giấy mềm mại mà nhân loại từng cầm đọc cả năm sáu trăm năm nay.

Nhất là, không còn hoài nghi gì nữa, với tốc độ phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, hình thức sách điện tử sẽ càng ngày càng hoàn hảo; và càng hoàn hảo, nó càng tiện lợi: người ta có thể bỏ trong túi, có thể nằm đọc trên giường hay trên bãi biển, bất cứ ở đâu, trong bất cứ điều kiện nào. Nó sẽ không khác một cuốn sách theo kiểu truyền thống. Mà lại có vô số các ưu điểm khác hơn hẳn sách truyền thống, chẳng hạn, trong một kích thước nhỏ gọn như một cuốn sách bình thường, nó lại có sức chứa bằng cả trăm cuốn sách bình thường. Lại là những cuốn sách hết sức thú vị, ở đó, nói như Michael Joyce, chúng ta có quyền tự chọn cho mình một cách đọc và "những sự chọn lựa của chúng ta làm thay đổi hẳn bản chất của những gì chúng ta đọc,"[1] nói cách khác, ở đó, chúng ta thực sự là những đồng tác giả, những kẻ tham gia vào một quá trình tương tác đúng nghĩa với tác giả. Chưa hết. Trời tối hay do tuổi già mắt kém ư? Đơn giản lắm, chỉ cần nhích con mouse thay đổi size chữ, từ 10 lên 12 hay 14 là có thể đọc được dễ dàng. Mùa hè nóng nực, trong lòng hơi có chút khó chịu ư? Thì đổi màu nền trên màn ảnh thành màu xanh da trời cho dịu mắt. Lâu lâu, máu hoài cổ nổi dậy, muốn cầm trên tay những trang giấy quen thuộc ư? Thì nối sách điện tử với printer trong nhà để vài phút sau là có ngay một tập sách như ý muốn. Vân vân.

Hơn nữa, nên nhớ là độc giả chủ yếu của sinh hoạt văn học trong vài chục năm sau không phải là chúng ta, những kẻ đã mài mòn đời mình trên các trang giấy in mà là những đứa bé đang - hoặc, trong trường hợp của Việt Nam, sẽ - suốt ngày mải mê trước computer. Để chơi games. Để tìm tài liệu cho các bài tập trong lớp. Để viết essay. Để thư từ liên lạc với bạn bè. Chúng là sản phẩm của một nền văn hoá khác: nền văn hoá điện tử.

Trong nền văn hoá điện tử ấy, dĩ nhiên sách in dưới hình thức cổ điển vẫn còn; những người một mực khăng khăng đọc mỗi một loại sách duy nhất là sách in trên giấy chắc chắn vẫn còn. Cũng như, cho đến nay, sau hơn cả một trăm năm sống trong nền văn hoá in ấn, vẫn còn vô số người Việt Nam tiếp tục sống với tâm thế hoài niệm nền văn hoá truyền khẩu vốn kéo dài cả hàng ngàn năm xa xưa: từ đọc đến viết, họ đều thích những gì đơn tuyến và đơn nghĩa, những gì du dương và ngân nga, theo kiểu ca dao, dân ca và truyện cổ tích. Trong sinh hoạt văn hoá của nhân loại, nếu một hình thức mới ra đời không dễ dàng thì một hình thức cũ cũng chết một cách cực kỳ lâu lắc. Do đó, chúng ta không cần đọc điếu văn cho sách in vội. Chúng vẫn còn, chắc chắn một thời gian khá lâu, có khi cả hàng trăm năm nữa.

Còn, nhưng có điều gần như chắc chắn là sách in sẽ chỉ còn như một hiện tượng thứ yếu trong sinh hoạt văn học và văn hoá của nhân loại mà thôi. Sẽ dần dần chiếm vai trò chủ đạo trong nền văn hoá điện tử là các văn bản điện tử, hoặc dưới hình thức sách điện tử hoặc dưới hình thức internet. Nhưng dù không phải là đồ đệ của thuyết kỹ thuật tất định luận (technological determinism), chúng ta cũng biết là trong lãnh vực văn học, cũng như trong cả lãnh vực nghệ thuật, khi hình thức thay đổi thì bản chất của cái gọi là văn học nghệ thuật ấy cũng thay đổi theo.

Sự thay đổi ấy hẳn sẽ lớn lao hơn những sự thay đổi do ảnh hưởng của ti vi, điều mà nhiều học giả, theo chân của Marshall McLuhan,[2] đã nghiên cứu khá tường tận suốt mấy chục năm vừa qua.[3] Về phương diện văn hoá, ti vi, nói như Marshall McLuhan, biến cả hoàn cầu thành một cái làng bằng cách làm cho mọi người ở hầu khắp hang cùng ngõ hẻm trên mặt đất có thể xem cùng một hình ảnh, nghe cùng một bản tin, chịu sự tác động của cùng một cách nhìn, và do đó, có cùng một phản ứng.[4] Hơn nữa, ti vi còn góp phần tạo nên chiến thắng của cái hình (figure) trên cái ngôn (discourse), tạo nên những hiện thực ảo (virtual reality), khiến con người bị vây bọc bởi cái Jean Baudrillard gọi là simulacra,[5] những bản thế vì của hiện thực, những hình ảnh của hình ảnh của hình ảnh, những hyper-reality;[6] từ đó, cùng với nhiều yếu tố khác, dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa hậu hiện đại trong triết học cũng như trong các ngành nghệ thuật, trong đó có văn học. Riêng trong phạm vi văn học, ti vi làm giảm hẳn số lượng độc giả; làm khuynh hướng giải trí phát triển mạnh; làm gia tăng hình thức đối thoại trong tiểu thuyết; làm câu văn ngắn gọn và đơn giản hơn; làm nhịp văn và nhịp truyện thay đổi nhanh hơn và gấp hơn, v.v...[7] Những ảnh hưởng ấy lớn, rất lớn, nhưng đều là những ảnh hưởng gián tiếp, phần chủ yếu oằn nặng xuống loại văn học bình dân. Đối với văn học thường được gọi là cao cấp, ảnh hưởng của ti vi khó thấy hơn. So sánh các cuốn tiểu thuyết trong nửa đầu thế kỷ 20 với các cuốn tiểu thuyết trong nửa sau thế kỷ 20, lúc ti vi đã bành trướng rộng rãi trong xã hội, người ta nhận thấy có một số khác biệt trong ngôn ngữ cũng như trong kỹ thuật, nhưng dù sao chúng cũng vẫn là tiểu thuyết. Chứ không phải là một cái gì khác.

Computer và cùng với nó, internet cũng như sách điện tử thì khác hẳn. Ảnh hưởng của chúng lớn lao đến độ rất nhiều nhà nghiên cứu xem đó như một cuộc cách mạng lớn thứ ba trong lịch sử văn hoá nhân loại, sau sự xuất hiện của chữ viết và sự xuất hiện của máy in.[8] Nếu sự xuất hiện của chữ viết chuyển nền văn hoá truyền khẩu sang nền văn hoá ký tự thì sự xuất hiện của máy in với chữ đúc rời vào giữa thế kỷ 15 đã góp phần chuyển nền văn hoá dựa trên thần quyền sang nền văn hoá có tính chất thế tục, làm tiền đề từ đó lịch sử chuyển từ thời trung đại sang hiện đại. Nếu sự ra đời của chữ viết đã tạo điều kiện để con người phát huy khả năng tư duy trừu tượng, nâng cao óc phân tích và tổng hợp từ đó làm nở rộ các thể văn xuôi nghị luận và triết lý thì sự ra đời của máy in và sự phổ cập của sách báo đã làm văn học vừa phát triển theo chiều rộng, trở thành một thứ sinh hoạt đại chúng, vừa phát triển theo chiều cao, thành một nghệ thuật đặc tuyển, in đậm dấu vết của từng cá tính sáng tạo, từ đó, đẩy mạnh những nỗ lực tìm tòi và thử nghiệm, khiến sinh hoạt văn học ngày càng độc đáo và càng phong phú.[9] Có thể nói chính sách in đã góp phần quyết định trong việc hình thành tư tưởng cá nhân chủ nghĩa cũng như tinh thần duy lý: đọc sách bao giờ cũng là một hoạt động thầm lặng, nơi con người một mình đối diện với trang sách và với lòng mình, ở đó, người ta phải vận dụng trí thông minh của chính mình để giải quyết những chỗ phức tạp, bí hiểm và mâu thuẫn trong cuốn sách hoặc giữa các cuốn sách; và ở đó, việc nhìn cuốn sách như một hiện hữu cụ thể, gắn liền với một tên tuổi nhất định, đã dần dần làm nảy nở ý thức về bản sắc, về phong cách và cùng với chúng, ý thức về cái tôi.

Đặc điểm nổi bật nhất của cuộc cách mạng thứ ba trong lịch sử văn hoá nhân loại, nói như Robert Coover, được đánh dấu bằng "sự tận cùng của các cuốn sách",[10] khi văn bản được chuyển từ trang giấy lên màn ảnh. Sự thay đổi về không gian ấy sẽ kéo theo sự thay đổi trong bản thân khái niệm "văn bản". Nếu văn bản theo nghĩa cổ điển, trên sách in, chủ yếu là một công trình ngôn ngữ với sự kết hợp giữa các yếu tố từ vựng và một ít các yếu tố phi từ vựng, từ các dấu câu đến cách trình bày trên trang giấy như cách ngắt dòng hay cách sắp dòng thì văn bản dưới hình thức điện tử vừa là một công trình ngôn ngữ vừa là một công trình phi ngôn ngữ, trong đó, có thể có cả âm thanh, hình ảnh, hay các sự chuyển động mà internet có thể làm được. Nếu văn bản cổ điển có một trung tâm quy chiếu rõ ràng với một cấu trúc vững chãi dựa trên cách phân bậc chặt chẽ giữa các điểm chính và các điểm phụ, điểm trước và điểm sau thì văn bản trong môi trường điện tử lại là một cái gì phi tâm, không có điểm khởi đầu cũng như điểm kết thúc, gắn liền với một liên mạng đa phương và đa tầng, ở đó, mọi mối quan hệ đều hết sức dân chủ. Nếu văn bản cổ điển được thiết kế theo một trật tự tuyến tính (linearity), từ câu thứ nhất đến câu thứ nhì, từ đầu trang đến cuối trang, từ trang trước đến trang sau thì văn bản điện tử, ngược lại, có tính chất phi tuyến tính (nonlinearity), ở đó, người đọc được tự do chọn các điểm nối (link) để có thể chuyển mạch văn hay mạch truyện theo một chiều hướng khác, không nhất thiết phải theo một kết cấu nào cố định. Cuối cùng, nếu văn bản theo nghĩa cổ điển là cái gì tĩnh tại, cố định, hay nói như Jay David Bolter, "đông lạnh"[11] thì văn bản điện tử có thể biến hoá liên tục tuỳ theo cách tiếp cận của mỗi người đọc, thậm chí, của mỗi lần đọc. Nói một cách tóm tắt, văn bản điện tử là loại văn bản phi tuyến tính, liên văn bản, đa tâm, bất định và bất liên tục, nặng tính chất tương tác cũng như tính chất trình diễn.[12]

Những kiểu văn bản như thế, thật ra, không phải hoàn toàn mới lạ. Trong các văn bản cổ điển, các cước chú và phụ chú thật ra cũng là những điểm nối có tính chất liên văn bản, dù chỉ ở mức độ khá thô sơ. Tính chất phi tuyến tính và liên văn bản cũng xuất hiện, với những mức độ khác nhau, trong thơ đa-đa, thơ siêu thực, thơ cụ thể, thơ hình hoạ cũng như truyện ngắn và tiểu thuyết của James Joyce (Ulysses, và Finnegans Wake), Julio Cortazar (Hopscotch), George Perec (La vie: mode de emploi), Italo Calvino (If On a Winter's Night a Traveler), Milorad Pavic (Dictionary of the Khazars) và Jorge Luis Borges ("Library of Babel" và "Garden of Forking Paths"), v.v... Về phương diện lý thuyết, người ta cũng có thể biện chính cho loại văn bản điện tử với rất nhiều điểm nối ngang như thế bằng quan niệm văn bản khả tác (writerly text) của Roland Barthes; quan niệm về tính liên văn bản của Jacques Derrida cũng như các nhà giải cơ cấu ở Mỹ; quan niệm về tính lắp ráp (bricolage) của Claude Lévi-Strauss, và cả quan niệm về tính tương thoại (dialogism) trong tiểu thuyết của Mikhail Bakhtin, v.v...[13]

Có thể nói, từ góc độ lý thuyết cũng như từ góc độ thực tiễn sáng tác, hình thức văn bản điện tử mà hiện nay chúng ta quen gọi là hypertext vừa là một quá trình tiến hoá lại vừa là một cuộc cách mạng của nền văn học hậu hiện đại. Là một sự tiến hoá, văn học hypertext, trên nguyên tắc, vẫn là những văn bản mang tính văn học, là những văn bản văn học. Là một cuộc cách mạng, văn học hypertext có khả năng làm đảo lộn mọi điển phạm, mọi mô thức và mọi ước lệ văn học hiện có. Nó có khả năng làm thay đổi cách chúng ta đọc cũng như cách chúng ta viết. Nó có khả năng làm thay đổi không những quan hệ giữa độc giả với văn bản mà còn làm thay đổi quan hệ giữa tác giả với văn bản: nếu người đọc có quyền tham gia vào công cuộc định hình tác phẩm, vào việc thay đổi trật tự của tác phẩm, có thể "lướt" từ tác phẩm này qua tác phẩm khác một cách dễ dàng và cực kỳ nhanh chóng thì tác giả không còn là một tiếng nói độc nhất có thẩm quyền trên tác phẩm của chính hắn. Nói cách khác, văn học hypertext có khả năng khai tử hẳn tác giả, điều vốn đã được Roland Barthes dự báo từ mấy chục năm trước, trong bài "Cái chết của tác giả".[14] Chúng ta nên nhớ, như Michel Foucault đã từng nhắc nhở, khái niệm "tác giả" không phải là cái gì tự nhiên hay vĩnh cửu, ngược lại, nó chỉ là một sản phẩm của lịch sử: có những giai đoạn rất dài loài người vẫn đọc và vẫn thưởng thức văn học mà không hề một chút băn khoăn về sự hiện hữu, đừng nói là bản sắc, của tác giả.[15] Trong văn học điện tử, những giai đoạn lịch sử ấy không chừng sẽ được lặp lại. Nhưng khi vai trò của tác giả bị khai tử hoặc, nhẹ nhàng hơn, bị mờ nhạt, thì ý niệm về phong cách văn học cũng có nguy cơ bị triệt tiêu. Khi ý niệm về phong cách bị triệt tiêu thì bảng giá trị văn học vẫn thường được dùng lâu nay trong đó tôn vinh sự độc đáo và độc sáng cũng bị lung lay theo, và hậu quả là ngay chính cái gọi là tính văn chương hay các quan niệm về cái hay và cái đẹp của văn chương cũng không còn được hiểu như trước được nữa.

Trước đây, trong quan niệm của Roland Barthes, cái chết của tác giả đồng nghĩa với sự ra đời của người đọc. Sự ra đời của người đọc thực chất là sự ra đời của quyền tự do diễn dịch văn bản. Chính vì thế, lời khai tử tác giả của Roland Barthes đã góp phần đẩy mạnh xu hướng phê bình căn cứ trên sự hồi ứng của người đọc và đồng thời đẩy mạnh mọi hoạt động phê bình nói chung: một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong sinh hoạt văn học những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 là sự nở rộ của những văn bản về văn bản, những văn bản bình luận về các văn bản khác. Thế nhưng, trong nền văn học điện tử, mặc dù người đọc được tuyên xưng như những kẻ đồng hành với tác giả trong việc thăm dò bản đồ văn học của các văn bản, vai trò của phê bình có khả năng đánh mất những chỗ dựa cố hữu của nó. Chẳng hạn, như George P. Landow đã phân tích trong bài viết "What's a Critic to Do?: Critical Theory in the Age of Hypertext", khác với văn học truyền thống tồn tại trên những văn bản cố định theo đó nhà phê bình có thể nghiền ngẫm và phân tích, nền văn học điện tử chỉ có những văn bản với nhiều khả thể khác nhau, thay đổi theo những cách đọc khác nhau, vậy thì làm thế nào hắn có thể đọc hết các khả thể ấy và làm thế nào hắn biết là người khác đang đọc cùng một văn bản như hắn?[16]

Xin lưu ý cụm từ "có khả năng" trong các câu văn trên. Chỉ là "có khả năng" chứ chưa phải là hiện thực. Lý do quan trọng nhất là vì dòng văn học trong môi trường điện tử, đặc biệt dòng văn học khai thác tối đa các kỹ thuật điện tử, văn học hypertext, chỉ mới manh nha trong hơn một thập niên vừa qua mà thôi. Vì mới manh nha và vì phải dựa trên nhiều yếu tố kỹ thuật cho nên hầu như nó chỉ tập hợp được một số cây bút có tài về kỹ thuật hơn là có tài về văn học. Bởi vậy, ngay trong phạm vi toàn thế giới, số lượng những tác giả hypertext tiêu biểu vẫn còn khá hiếm hoi. Những tác phẩm được xem là thành công của họ lại càng hiếm hoi. Hơn nữa, chúng lại dễ bị lỗi thời trước tốc độ phát triển dữ dội của kỹ thuật điện tử. Riêng bằng tiếng Việt, phần lớn các tác phẩm đăng tải trên mạng lưới vi tính toàn cầu vẫn được viết theo những kỹ thuật và những văn phong khá cũ, có khi, rất cũ: trên các siêu xa lộ thông tin cực kỳ hiện đại chỉ mới xuất hiện lác đác mấy chiếc xe ngựa và một số những chiếc xe đạp với những vạt áo dài và những mái tóc bay phất phơ. Rất thôn làng và cũng rất yểu điệu thục nữ.

Chưa có thực tiễn sáng tác làm chỗ dựa, mọi nhận định về nền văn học hypertext hay văn học trong môi trường điện tử nói chung vẫn chỉ là những phỏng đoán. Nhưng, một thái độ dấn thân nghiêm túc trong văn học lại không cho phép chúng ta ngồi chờ. Kinh nghiệm cho thấy trong những giai đoạn văn học có nhiều chuyển biến lớn lao và mau lẹ, quy luật đào thải thường rất khốc liệt: ở Việt Nam, trong những năm 1930; ở miền Nam, cuối thập niên 1950; trong cả nước, giữa thập niên 1980, số lượng những tác giả đột ngột bị đẩy vào cảnh hưu non trong văn học nhiều vô cùng. Thoắt một cái, chỉ trong vòng mấy năm, vô số người đang tương đối có chút danh tiếng bỗng khám phá ra là tác phẩm của mình bị xem là cũ mèm và không-thể-nào-đọc-nổi, từ đó, không thể viết tiếp được nổi. Đó là những cuộc "đổi đời" trong cộng hoà văn chương. Cuộc "đổi đời" khi xã hội bước hẳn vào nền văn hoá điện tử và văn học điện tử chắc sẽ còn triệt để hơn nữa. Có thể đó sẽ là sự thay đổi hoàn toàn trong bản chất mỹ học của văn học. Nó mở ra không phải là một chương mới mà là một cuốn sách mới trong lịch sử văn học.

Theo tôi, thử thách lớn nhất của giới cầm bút hiện nay, không riêng gì của Việt Nam, là phải tiên liệu và tìm cách thích nghi với những thay đổi mà nền văn hoá điện tử sẽ mang lại, trong tương lai. Có khi là một tương lai rất gần. Đâu đó.

 

19.6.2000
(Trích từ cuốn Văn Học Việt Nam từ Ðiểm Nhìn H(ậu H)iện Ðại , California: Văn Nghệ, 2000)

 

_________________________

[1]Michael Joyce (1997), "Nonce Upon Some Times: Rereading Hypertext Fiction", Modern Fiction Studies 43.3 (1997). Tôi đọc theo bản in trên internet, trong Project Muse.

[2]Marshall McLuhan (1911-1980), tác giả của The Gutenebrg Galaxy (1962) và Understanding Media: The Extensions of Man (1964), là người đi tiên phong và cũng là người đặt những nền tảng lý thuyết cho việc nghiên cứu ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông, từ máy in cho đến báo chí, sách vở, ti vi, điện thoại, truyền thanh, v.v... đến tâm lý con người và văn hoá của thời đại.

[3]Xem chương "Technology and Literature: Book Culture and Television Culture" in trong cuốn The Death of Literature của Alvin Kernan, Yale University Press, New Haven, 1990, tr. 126-151; chương "Hình ý, ý hình" trong cuốn Viết của Võ Phiến, nxb Văn Nghệ, California, 1993, tr. 207-236.

[4]Xem bài "From Global Village to Global Mind" của Derrick de Kerckhove, đăng trên UNESCO Courier số tháng 2.1995.

[5]Jean Baudrillard (1983), Simulation, Semiotext, New York.

[6] Hoàng Ngọc-Tuấn, trong bài "Viết: từ hiện đại đến hậu hiện đại" đăng trên tạp chí Việt số 5 (đầu năm 2000) dịch chữ "hyper-reality" là "hiện thực thậm phồn".

[7]Trong bài "The dump-down" đăng trên báo The Nation số ra ngày 17 tháng Ba năm 1997, Todd Gitlin, một giáo sư về Văn hoá, Báo chí và Xã hội học tại New York University đã nghiên cứu mười cuốn tiểu thuyết được báo The New York Times xếp loại bán chạy nhất trong tuần lễ đầu tiên của tháng Mười của các năm 1996, 1976, 1956 và 1936. Ông khám phá thấy cách dùng văn đối thoại từ năm 1936 đến năm 1996 tăng lên 40%. Cũng trong thời gian ấy, chiều dài của câu văn giảm xuống 27% và số lượng các dấu câu giảm xuống 55%. Phân tích kỹ hơn, Todd Gitlin nhận thấy sự thay đổi diễn ra nhanh nhất là trong khoảng thời gian từ 1956 đến 1976. Trong hai mươi năm này, câu văn trong các cuốn tiểu thuyết bestsellers càng ngày càng ngắn lại và đơn giản dần. Nếu trong năm 1956, chiều dài trung bình của câu văn là 17.75 từ thì năm 1976 là 13.55 từ; nếu trong năm 1956, số lượng các dấu câu là 1.5 thì năm 1976 là 0.85. Todd Gitlin cho đó không phải là điều ngẫu nhiên. Thời gian này trùng hợp với sự phát triển của ti vi. Và dưới áp lực của ti vi, các cuốn tiểu thuyết bình dân đã được viết như một thứ kịch bản phim: câu văn ngắn gọn và giản dị, phần lớn là đối thoại, ít có những tư tưởng sâu xa và phức tạp.

[8]George P. Landow (1992) Hypertext: The Convergence of Contemporary Critical Theory and Technology, The Johns Hopkins University Press, Baltimore. Có thể xem thêm một số bài viết ngắn khác như "Drafting an Alphabet for the Digital Tradition" của Ashley Dunn trên The New York Times on the Web (ngày 18.12.1996); "Is It Really Gutenberg All Over Again?" của Bruno Giussani trên The New York Times on the Web (ngày 6.1.1998), hay "The Internet and Gutenberg" của Robert J. Samuelson trên Newsweek ngày 24.1.2000.

[9]Về ảnh hưởng của chữ viết đối với văn hoá, có thể xem cuốn A Preface to Plato của Eric Havelock, Cambridge xuất bản năm 1963; cuốn The Death of Literature của Alvin Kernan, Yale University Press xuất bản năm 1990, đặc biệt các trang 126-143.

[10]Robert Coover (1992), "The End of Books?", New York Times Book Review 21.6.1992. (Xem trên internet: http://www.nytimes.com/books/98/09/27/specials/coover-end.htm)

[11]Dẫn theo David S. Mial, trong bài "Trivializing or Liberating? The Limitation of Hypertext Theorizing" đăng trên Mosaic (Winnipeg) số tháng 6.1999. (Nguyên văn cách nói của Bolter là: "frozen structure of the printed page".)

[12]Xem Sven Birkerts (1996), The Gutenberg Elegies, the Fate of Reading in an Electronic Age, Faber & Faber, London; George P. Landow (biên tập) (1994), Hyper / Text / Theory, The Johns Hopkins University Press xuất bản tại Baltimore; Robert Kendall (1995), "Writing for the New Millennium" đăng trên Poets & Writers Magazine số tháng 11 & 12. 1995. Bằng tiếng Việt có thể xem thêm bài "Về văn học hypertext" của Nguyễn Minh Quân và bài "Văn học hypertext: phác hoạ về một thể loại văn học mới" của Đức Thuần trên tạp chí Việt số 6 (giữa năm 2000).

[13]Xem bài "Virtual transformations: the evolution of publication media" của Kenneth Arnold đăng trên Library Trends, Spring 1995; "Cybernetic esthetics, hypertext and the future of literature" của Molly Abel Travis đăng trên Mosaic (Winnipeg), 12.1996; "The state of the art (novelists and novel writing) của John Barth đăng trên The Wilson Quarterly, vol. 20, 03.01.1996; "Nonce Upon some times: rereading hypertext fiction" của Michael Joyce, đăng trên Modern Fiction Studies 43.3 (1997); "Trivializing or Liberating? The Limitation of Hypertext Theorizing" của David S. Mial, đăng trên Mosaic (Winnipeg) số tháng 6.1999.

[14]Roland Barthes (1977), "The Death of the Author", in trong tập Image, Music, Text, Stephen Heath dịch và biên tập, Hill & Wang xuất bản tại New York, trang 146-148.

[15]Michel Foucault (1979), "What is an Author?", in trong tập Textual Strategies: Perspectives in Post-Structuralist Criticism, Josué V. Harari biên tập, nxb Methuen, London.

[16]In trong cuốn Hyper / Text / Theory, George P. Landow biên tập, The Johns Hopkins University Press xuất bản tại Baltimore, 1994, tr. 34-35.


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018