thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Quyền-lực và Tự-zo [§18]

 

Zựa trên nguyên-tác tiếng Anh Power and Freedom (2008-2009), Nguyễn Quỳnh.

 

Hơn bốn trăm năm trôi qua, tư-tưởng trong triết-học Tây-fương, chủ iếu là Anh và Đức đã đóng góp rất nhiều cho sự hiểu biết của con người về mặt chính-trị, xã-hội và đạo-đức; ảnh hường rất lớn vào sự thay đổi văn-hoá, khoa-học, kĩ-thuật, chính-trị và kinh-tế toàn cầu. Kể từ gần hai trăm năm lại đây, triết-học thực-tiễn của Hoa-kì, coi hành-động là điểm khởi-hành trước khi tiến về lí-thuyết. “Philosophy is a point of actions, NOT a point of interpretations.” Quan-niệm này đã từ từ đẩy triết-học Âu-châu (continental philosophy) vào hậu-trường. Triết-học nào — Âu-châu hay Hoa-kì — sẽ júp con người thức-tỉnh hơn và can-đảm hơn để tiếp-tục đi lên? Chương cuối của chuyên-luận sẽ bàn đến triết-học hiện-đại (contemporary/post-modernism) và xã-hội con người trong đó Mĩ, Việt và Tầu là ba thực-tại chính-trị và xã-hội được tác-jả khai-thác nhiều nhất vì chúng ta đang chứng-kiến quyền-lực và tự-zo trong hai thái-cực: Vòng biện-chứng mở rộng biên-cương của bá-quyền (circle dialectics), và vòng biện-chứng ngịch-đảo (negative dialectics) để júp chúng ta hiểu vì sao có những thể-chế đang trở về man-rợ.
 
Nguyễn Quỳnh

 

 

 

§18.

 

FẦN THỨ-HAI

 

Trước khi tiếp-tục thảo luận fần thứ-hai về í-niệm hoà-bình vĩnh-cửu của Kant, chúng ta nên quay trở lại bàn thêm về í-ngĩa jải-fóng (liberation) và tự-zo (freedom).

Theo tư-zuy về chính-trị và thuật-ngữ chuyên chở tư-zuy ấy, chúng ta thấy có sự khác biệt giữa Fáp và Anh-Mĩ. Người Fáp trọng tinh-thần zuy-lí (rationalité) thường cho rằng lập-luận (raisonnement) khởi đi từ lí (raison) là cỗi-nguồn. Cho nên, những từ ngữ: libération, liberté, libre chuyên-chở í-ngĩa jải-fóng và tự-zo, được coi như trọn-vẹn và đầy đủ í-ngĩa, không cần bàn cãi. Nếu còn thắc-mắc, chỉ cần nhìn vào zụng ngữ, ví-zụ: Libération des femmes: Jải-fóng fụ-nữ. Liberté de pensée: Tự-zo tư-tưởng.

Thực ra, chuyên-luận về hoà-bình vĩnh-cửu của Kant bắt đầu với những vấn-đề cụ-thể, trước hết liên-quan tới hoà-bình jữa con người trong một nước, rồi mới tới hoà-bình jữa các quốc-ja hay tiểu-quốc. Kant nhận thấy rằng hoà-bình jữa con người sống chung với nhau không jống bản-chất thiên-nhiên. Đúng ra hai chữ “thiên-nhiên” ở đây chính là bản-năng (a state of nature) của con người. Bản-năng này là bản-năng hiếu-chiến (a state of war). Ngay cả khi bản-năng hiếu-chiến này chưa sinh-ra hiềm-khích, nó vẫn luôn luôn manh-nha chinh-chiến. Zo lẽ ấy, hoà-bình fải được thiết-lập rõ-ràng và chặt chẽ bởi vì ngưng thù-hận không có ngĩa là bảo-đảm hoà-bình. Trừ fi người A cam-kết với người B về hoà-bình, nếu không người B vẫn coi người A là kẻ thù. Trên thực-tế, nhiều zân-tộc thiếu tinh-thần đoàn-kết trong thời bình đến độ thời-bình trở thành một bãi hư-vô thê-thảm hơn cả thời-chiến. Xét về liên-hệ hoà-bình của hai nước, và theo sách-sử, lời thề Lũng-nhai jữa Lê Lợi và Vương-thông chỉ có já-tri tạm thời vì bản-chất bá-quyền (a state of nature) của Tầu không bao jờ thay đổi — nó vượt qua tính-chất của triều-đại — hay nói một cách khác, triều-đại chỉ là sự thay đổi hệ-thống chính-trị, trong khi ấy mưu-đồ xâm-lăng là bản-chất cố-hữu của Tầu. Zo lẽ đó, lời cam-kết Lũng-nhai chỉ là một cuộc ngưng-chiến, và người Việt bắt buộc fải hiểu Tầu là kẻ-thù truyền-kiếp.

Tuy nhiên, nếu có một fép lạ cho các anh-hùng zân-tộc Việt ngày xưa trở lại nhìn người Việt ngày nay — trong cũng như ngoài nước — chắc các vị đó fải thở zài vì hết “thuốc chữa”. Tại sao? Trong nước thì côn-đồ cai trị, trong zân-jan thì quá nhiều “bốc fét” và hiềm-khích lẫn nhau. Lúc nào cũng ngồi đợi Tầu “cải mả”, từ miếng ăn, từ lời nói, và từ cái thú tiêu khiển hằng ngày. Nói tóm lại, “không có mùi Tầu không hay.”

Như vậy, câu hỏi về tinh-thần lãnh-đạo của một zân-tộc không chỉ liên-quan tới người tài, mà bản-chất là zân-tộc ấy có óc tiến-thủ và đoàn-kết hay không. Nói cách nào chăng nữa, chúng ta không thể quên một điều: “Luôn luôn có một mẫu số chung jữa jai-cấp lãnh-đạo và zân.” Người lãnh-đạo không fải đến từ một hành-tinh xa lạ. Những jì đang xảy ra ở Việtnam, cũng như ở những nước đang mở mang đã chứng tỏ nhiều lần trong lịch-sử. Quyết-tâm jiết chết con “ma lịch-sử” là một việc làm táo-bạo của tất cả mọi người. Để làm được điều táo-bạo ấy, chính-quyền và zân fải biết liêm-sỉ. Liêm-sỉ không fải là một í-niệm, nó fải là một hành-động cụ-thể, thành-thực, và zấn-thân. Có liêm-sỉ ta là người. Không liêm-sỉ ta không fải là người.

Để có hoà-bình vĩnh-cửu, Kant đưa ra ba điều-khoản chính và hai tu chính-án, như sau:

 

Điều Một

Hiến-fáp của mọi quốc-ja hội-viên (chữ “states” trong bài này không fải là “tiểu-bang”) fải zựa trên nền-tảng Cộng-hoà. Hiến-fáp Cộng-hoà có ba nguyên-tắc sau đây:

Nguyên-tắc thứ nhất

Tự-zo zành cho mọi người trong xã-hội [Liên-bang].

Nguyên-tắc thứ hai

Tinh-thần độc-lập của mỗi người [fải] zựa trên luật-fáp chung zuy-nhất.

Nguyên-tắc thứ ba

Quyền bình-đẳng cho mọi người, khi những người đó là công-zân của một nước.

Ba nguyên-tắc kể trên rút từ tinh-thần xã-ước nguyên-thuỷ để thiết-lập luật-fáp ngiêm-chỉnh cho một zân-tộc. Cho tới lúc này tư-tưởng cộng-hoà là nền-tảng chính-thống cho mọi điều-khoản của hiến-fáp lấy zân làm chủ. Chỉ còn một câu hỏi là tư-tưởng cộng-hoà và hiến-fáp ấy có khả-năng đưa tới một nền hoà-bình vĩnh-cửu hay không.

 

Điều Hai

Quyền của mọi Quốc-ja [trong Liên-bang] fải đặt trên nền-tảng

Liên-bang (Federation) của những Quốc-ja có Tự-zo đó (Free States)

Zân trong những Quốc-ja hội-viên có thể được coi như những người sống trong một nước (a state of nature), không bị chi-fối bởi luật-fáp ở ngoài Liên-bang. Liên-bang của những zân-tộc (Federation of Peoples) này không fải là một vấn-đề quốc-tế (international state), vì vấn-đề quốc-tế rất khác. Theo quốc-tế, mỗi quốc-ja có hai cơ-cấu: thượng-tầng cơ-cấu là người cẩm-cân nẩy-mực (the legislator) còn hạ-tầng cơ-cấu là zân fải biết tuân theo luật-fáp. Trong khi ấy, một số quốc-ja tạo nên một liên-bang để trở thành một nước zuy-nhất. Điều này ngịch với jả-thiết ban đầu vì chúng ta quan-niệm quyền của mọi quốc-ja, chứ chúng ta không muốn thấy một liên-minh đòi tự-zo nhưng vô luật-fáp. Chúng ta mong ước một liên-bang của những zân-tộc văn-minh. Mỗi nước trong liên-bang này hiểu rõ quyền tối-thượng của mình (majesty) và không để cho luật-fáp bên ngoài kiềm-toả.

Khi nhận xét về đặc-điểm của những nước còn mang tính man-rợ hay thú-tính (savage), Kant so sánh hai trường-hợp ở Mĩ-châu và Âu-châu. Tại Mĩ-châu các bộ-lạc bản-xứ (Native Americans) bị thú-tính của con người chinh-fục ăn tươi nuốt sống. Trong khi ấy, ở Âu-châu kẻ chinh-fục biết cách zùng zân bị-trị để nâng cao tổng-số zân trong nước. [Đây là thời của Kant]

Kant nhận-định rằng, í-niệm về quyền theo tổ-chức quốc-tế sẽ vô-ngĩa NẾU í-niệm về cái quyền ấy (right) được zùng để gây một cuộc chiến-tranh [không fải chiến-tranh tự-vê]. Chiến-tranh ở Iraq và ở Afganistan tuy có mang í-ngĩa quốc tế vì có liên-minh iểm-trợ, và nhân zanh cho zân-chủ, tự-zo của zân hai nước ấy, nhưng trên thực-tế, cái gọi là quốc-tế thì ngịch lại hiến-fáp tự-nhiên của con người. Nó chính là một bàn cờ-thế để bảo-vệ và bành-trướng quyền-lực. Thế thì, í-niệm quốc-tế, trong trường-hợp này i như tiên-đoán của Kant, đã được zùng để tiêu-ziệt kẻ khác. Vì í-niệm quốc-tế này không fải là í-muốn của các quốc-ja, nên nó không fải là í tốt cho một thế-jới cộng-hoà.

 

Điều Ba

Quyền của Cộng-đồng Quốc-tế (Cosmopolitan Right)

fải được jới-hạn theo những Điều-kiện Chung zành cho Người Nước-ngoài.

Từ-ngữ “Hospitality” thường có ngĩa là “Tính hiếu-khách”, “Sự đón-tiếp xã-jao nồng-hậu” đối với người ngoài. Ở đây, Kant muốn nói rõ rằng “Tính hiếu-khách” hay “Xã-jao ấy” tuy là cái quyền người nước-ngoài được hưởng, nhưng quyền đó fải có jới-hạn khi khách đặt chân vào một quốc-ja khác. Người nước-ngoài có thể không được fép nhập-cảnh, không bị hại, nhưng không thể được đón-tiếp nồng- hậu. Như vậy, sẽ không có vấn-đề gọi là “quyền của người khách”, đặc biệt không có quyền chiếm-ngụ đất-đai của quốc-ja khác. Tuy-nhiên, theo Kant, khách có quyền ở tạm (a right of resort) như khi ta tới một nơi ngỉ mát trong một khoảng thời-jan.

Cộng-đồng nhân-loại chỉ có quyền bành-trướng lãnh-thổ ở những nơi không có người cư-ngụ. Theo Kant sự bành-trướng ấy là “quyền sống tự-nhiên và hợp-lí của con người trên mặt địa-cầu.” Tuy nhiên, zân sống trên hải-đảo cướp thuyền của zân khác ở vùng lân-cận, hay bắt người đi-biển làm nô-lệ, đều là những việc làm trái lẽ tự-nhiên của con người. Lẽ tự-nhiên của con người jới-hạn trong cái quyền “được đón-tiếp xã-jao” cho fép người nước-ngoài đến xin jao-hảo với zân bản-xứ. Trong í-ngĩa này con người ở những đại-lục xa xôi zần zần tiến lại gần nhau trong liên-hệ hoà-bình, sống chung trong luật-fáp để tạo-thành cộng-đồng quốc-tế có hiến-chương rõ rệt (a cosmopolitan constitution).

Hiến-chương Liên-hiệp Quốc ra đời jữa thế-kỉ 20 nằm trong í-ngĩa hoà-bình vĩnh cửu của Kant cho nhân-loại. Tuy nhiên, trên thực-tế vẫn còn xa-xôi lắm. Lúc Kant viết luận-cương hoà-bình, ông chỉ mới có một vài gi-nhận lịch-sử. Nước Tầu chỉ cho fép ngoại-nhân jao-thương tại bến-cảng, nhưng không được vào đất liền. Nước Nhật chỉ kí thương-ước với Hoà-lan (Holland) mà thôi. Những jì xảy ra sau Kant là những bi-kịch kinh-hoàng. Bát-quốc Liên-minh, trong đó có Nhật, tiến chiếm Bắc-kinh, uy-hiếp chủ-quyền quốc-ja của Tầu. Sự-kiện này đã đưa tới Chủ-ngĩa Thực-zân trên thế-jới và những nước nạn-nhân như Việtnam, Ấn-độ và Fi-luật-tân là những ví-zụ hãi-hùng.

Fải nói thẳng những trang lịch-sử zơ bẩn ấy là mưu-đồ man-rợ của Thực-zân và Vatican. Cả hai zựa vào nhau để thực-hiện mộng bá-vương. Chẳng fải ở Âu-châu nơi fát xuất ra chính-sách Thuộc-địa, ở Á-châu cũng có chuyện như thế từ lâu. Tầu không ngừng jấc mộng thôn-tính Việtnam, mặc zù có lần Houang Fou trong cuộc-họp nội-các chiến-tranh với Thượng-tướng (Générallissime) Vương-thông đã gi-nhận trong sách-sử từ Hán, đến Nguyên rồi đến Tống đều thất-bại khi xâm-lăng man-zi Việtnam.[1] Sau cái chết của Thượng-tướng Liễu-thăng và hai Thượng-tướng khác tại ải Chi-lăng, Vương-thông fải zâng sớ về Bắc-kinh xin được ngị-hoà với Việtnam vì theo ông zù có nhiều quân, với bảy tám tướng tài cỡ Trương-fụ, thì có thắng chăng nữa cũng chẳng làm được trò jì.[2] Lúc đó Nguyễn Trãi đã ra lệnh sửa-soạn tiến chiếm Đông-quan tức Thăng-long hay Hànội ngày nay.

Kant nói rõ, con đường buôn bán tơ-lụa với Tầu fải qua Tibet. Người Tầu gọi “Vàng” là “Kim/Kin”, người Tây-tạng gọi “Vàng” là “Ser”. Ngôn-ngữ và fong-tục rất khác nhau thế mà Tầu cướp Tibet jữa ban ngày sau khi Hiến-chương Liên-hiệp Quốc đã ra đời! Tầu cũng còn đang xâm chiếm đất đai và hải-fận Việtnam trong khi đó cả hai đều là hội-viên của Liên-hiệp Quốc, và khôi hài hơn nữa Tầu lại có quyền fủ-quyết!

Như thế Liên-hiệp Quốc là cái jì?

1. Liên-hiệp Quốc là một tổ-chức chính-trị cho hoà-bình của kẻ mạnh và để cho các nước hội-viên iếu được vào nhưng fải biết điều để sống.

2. Liên-hiệp Quốc là một tổ-chức chính-trị júp người za-trắng biết đoàn-kết thành một khối, sau Thế-chiến Thứ Hai, chống lại bất kì thế-lực nào đang lên và có thể đe-zoạ an-ninh và sống còn của khối thịnh-vượng chung za-trắng, chứ không fải để bảo-vệ những nước thấp-hèn. Cho nên, zù Việtnam có kêu trời là đang bị Tầu xâm-lấn, Liên-hiệp Quốc cũng chỉ lắc đầu.

Cuộc chiến ngắn-ngủi jữa Việt và Tầu năm 1979 là một ví-zụ. Tầu ngưng chiến vì Đặng Tiểu-bình thấy can-qua với Việtnam lúc ấy không có lợi. Trong khi đó, Chính-sách Đổi-mới để Tầu trở nên cường-quốc mới là quan-trọng. Khi đã mạnh thì Tầu chỉ cần trừng mắt, Việtnam đái ra quần. Đó là chưa kể có hai sự-thật mà Đảng Cộng-sản Việtnam thừa biết: a) Có những tên Cộng-sản Việtnam sẵn sàng làm tôi-tớ cho Tầu, tức là bán-nước; và b) Ở vào hoàn-cảnh gay cấn nhất (mà Nietzsche gọi là Chaos), zân Việt sẽ bất hợp-tác với chính-quyền, để mặc cho Tầu xâm-lăng Việtnam. Đây là điều Tầu mong mỏi, zựa vào lịch-sử của những triều-đại trước ở Việtnam. Khi zân đã chán Đảng như “chó chán cứt” thì lúc đó mọi já-trị đã không còn. Cả một xã-hội đã vong-thân. Tình-trạng này trưng ra bản-chất thực và cũng chính là nỗi buồn thấm-thía của zân Việt. Chúng ta sẽ bàn thêm ở những đoạn sau.

Theo Kant, bằng cách này hay cách khác, để có hoà-bình, các zân-tộc trên địa-cầu đang tiến tới một cộng-đồng chung (universal community) để nhân-loại biết rằng ở đâu đó nhân-quyền đang bị vi-fạm. Thế thì, í-niệm về một liên-minh (cosmopolitan) hay liên-bang (federation) không fải là chuyện hoang-tưởng (fantastic: capricious/extravagantly fanciful). Nó sẽ bổ-túc cho quyền-lợi chính-trị và quốc-tế chưa một lần thành văn-tự. Có thế, quyền chung của nhân-loại mới rõ ràng. Chỉ khi nào quyền chung của nhân-loại đã rõ ràng thì nhân-loại mới có hoà-bình trường-cửu. Có thật không đấy? Vì đây là chuyện của con người. Có lẽ biết vậy, nên Kant bàn thêm vào chuyên-luận Hoà-bình Vĩnh-cửu của ông với những lí-zo như sau:

1. Hoà-bình Vĩnh-cửu fải zo chính bàn-tay điệu-ngệ khéo sắp đặt của bản-năng tự-nhiên (Nature) nơi con người. Kant ví bản-năng tự-nhiên này như máy huyền-vi có mục-đích tạo ra hoà-bỉnh cho hết thẩy mọi người theo luật của bản-năng mà chúng ta không hiểu được. Luật đó Kant gọi là định-mệnh (fate). Định-mệnh này, theo Kant là minh-triết biết tới lí-tưởng (cause) cao hơn. Nhờ lí-tưởng này thế-jan tiến-bộ. Tiến-bộ ấy Kant gọi là sự bảo-vệ (providence) tự-nhiên, tuần-tự ziễn ra theo định-luật tiến-hoá, khởi đi từ thủa ban-đấu.

Tuy rằng Kant khuyên ta chớ có nhảm-nhí bàn về sự bảo-vệ tự-nhiên ấy, nhưng chính ông lại bàn thế này: Trước tiên, theo bản-năng, con người thích đâu ở đó. Nhờ lí-trí, con người biết bổn-fận mình, ngĩa là bản-năng của con người thúc-đẩy con người tiến về mục-đích có luân-thường đạo-lý (moral purpose). Con người fải có mục-đích này rõ ràng trong ba lãnh-vực: quyền trong chính-trị, trong liên-hệ quốc-tế, và trong liên-hệ liên-bang, để quyền tự-zo không đi quá trớn. Sau đó bản-năng cho fép con người zùng chiến-tranh để bành-trướng lãnh-thổ. Kant nhận thấy chỉ có tinh-thần cộng-hoà mới júp con người hiểu được quyền của họ. Ông nhận-định rằng: “Để cho con người biết fải trái sống chung với nhau họ cần những đạo-luật chung (universal laws). Nhưng vì mỗi cá-nhân cứ ngấm-ngầm theo đuổi mục-đích riêng nên chiến-tranh không fải là động-cơ thúc-đẩy (motivation), mà là bản-chất tự-nhiên của con người, zựa vào những já-trị con người gọi là “zanh-zự” và “lòng zũng-cảm”.

Tại sao Tầu cứ muốn thôn-tính Việtnam? Có hai lí-zo đáng để chúng ta suy-ngĩ: 1) Zanh-zự và lòng zũng-cảm của họ bị gây tổn-thương bởi Việtnam trong cả ngàn năm, từ thời-đại này sang thời-đại khác; 2) Tầu thấy rõ thực-sự người Việt, trong tinh-thần, văn-hoá, và suy-tư chỉ là nô-lệ của Tầu, ngay trong thời-bình. Như vậy, tại sao Tầu lại thua Việt, và tại sao không thôn-tính Việt?

Một iếu-tố nữa là tình-hình chính-trị, kinh-tế và xã-hội Việtnam hiện nay càng ngày càng suy-thoái. Lòng zân trong nước chán đảng Cộng-sản lắm rồi. Nhưng đứng trước một thực-tại là không có một khả-năng nào, trong và ngoài nước Việt, có thể đương-đầu được với một đảng độc-tài, có khoảng một triệu quân hiện-zịch và hàng triệu đảng-viên sẵn sàng cầm súng bảo-vệ quyền-lợi của họ, chứ không bảo-vệ quốc-ja zân-tộc. Như vậy, một cuộc xâm-lăng khéo léo của Tầu có thể xảy ra và thành-công như những lần đã xảy ra trong lịch-sử. Người Việt rất đau lòng vì ngoại xâm, nhưng có lẽ không còn cách nào để cho đảng Cộng-sản Việtnam tan đi. Đây không fải là chuyện “cõng rắn về cắn gà nhà” mà là định-mệnh tang-thương của zân Việt, vì người Việt không khôn-ngoan và không biết thương nhau và xây-zựng quê-hương, ngay trong thời bình.

Theo Kant, hiểu được bản-chất (nature) trong liên-hệ với cứu-cánh (end) là nhờ vào lí-trí biết fải-trái của con người. Hiểu được điều này là hiểu được trọn-vẹn mục-đích có luân-lí (đạo-đức) của mình. Kant nói rõ, ông không hề luận rằng bản-chất muốn chúng ta làm theo bổn-fận. Bổn-fận chính zo tinh-thần khôn-ngoan, minh-triết của con người (practical reason), nó ở trong lòng mình chứ không hề bị ảnh-hưởng bên ngoài.

2. Kant đưa ra tiền jả-thiết (presupposition) về quyền-lợi của quốc-tế. Quyền này để-í đến sự hiện-hữu riêng của những nước hội-viên, “hoà-nhi bất-đồng”. Như vậy, trên thực-tế, chiến-tranh sẽ xảy ra nếu không có một liên-bang có khả-năng ngăn-ngừa thù-ngịch. Nếu một liên-bang (amalgamation) đặt zưới quyền độc-tôn của một nước thì liên-bang đó là một thể-chế quân-chủ rất lớn, trong đó các nước nhỏ, vì fải tuân-theo luật-fáp của nước lớn, nên không còn ảnh-hưởng. Khi chính-sách liên-bang mở rộng, thì liên-bang đó trở-thành một thứ độc-tài cai-trị (despotism). Sau khi đã đập-tan tính-thiện, liên-bang đó sẽ rơi vào hỗn-loạn (vô chính-fủ). Khốn thay, nước nào cũng muốn có hoà-bình vĩnh-cửu để cùng nhau sống ở thế-jan.

Song le, bản-chất cho chúng ta thấy khác. Thứ nhất, theo bản-chất, các quốc-ja khác nhau; và thứ hai, không có chuyện fa-trộn ngôn-ngữ và tôn-jáo.

Chính vì hai điều này mà thù-hận và chiến-tranh đôi lúc đã xảy ra. Thế nên, con người cần fải từ từ fát-triển những nguyên-tắc chung sống hoà-thuận với nhau bằng cách tạo nên một hoà-bình được bảo-đảm theo thế quân-bình về quyền-lực và đối-ngịch [chấp-nhận sự hiện-hữu của đối-ngịch/ hostility].

Điều này đã khiến một số triết-ja quan-niệm rằng một nền hoà-bình chung chỉ có thể có bởi các nước cùng nhau chuẩn-bị chiến-tranh. Sự đoàn-kết của các nước za trắng — đặc biệt Nga và Mĩ, zù luôn luôn fải có bất-đồng — để sửa soạn jao-chiến với một kẻ thù không fải za trắng — nói thẳng ra là Tầu, là một chiến-thuật được fát-triền từ jữa thập-niên tám-mươi. Điều này cắt ngĩa cho sự “sụp-đổ” của khối Nga, trong đó vấn-đề kinh-tế thường được coi như chính-iếu. Kế lâu zài không fải là thế. Fòng-tuyến của Nga-Mĩ ở Đông và Đông Nam-Á, cũng như ở những nước nhỏ sát cạnh fía Tây nước Tầu cho thấy rõ vòng đai đang thắt chặt, và người Mĩ qua Hillary Clinton đã nói rõ đây là quyền-lợi của Hoa-kì. Putin hiểu rõ Hoa-kì và thoả-thuận ngầm, qua câu nói của Puttin, “Hoa-kì cần Nga, hơn là Nga cần Hoa-kì!”

Câu hỏi tôi luôn luôn muốn người lãnh-đạo Tầu trả lời: “Nếu nước nào cũng có quyền mạnh và tiến-bộ vì tự-zo, hoà-bình và độc-lập, thì tại sao chính-sách của Tầu luôn luôn tìm cách đàn-áp Việtnam?” Người Tầu đang zẫm mãi vào vết lầy của Tây-fương. Như thế, tuy mạnh nhưng không khôn. Thực sự, chẳng nước nào ở Á-châu muốn hợp-tác với Tầu trong í-ngĩa hoà-bình. Như vậy, trong chiến-tranh với za trắng, Tầu đừng hi-vọng có liên-minh Châu-Á.

Để kết luận fần này, tôi xin tóm tắt lời Kant, chúng ta đừng hi-vọng các triết-ja sẽ là vua, vì khi có quyền-lực trong tay thì không tránh khỏi đánh mất trí-khôn để hiểu rõ tự-zo. Nhưng, những cơ-cấu nắm quyền cai-trị chớ có lưu-đầy hay bắt các triết-ja fải câm mồm khi họ bàn nói với quần-chúng điều jì. Bàn với nhau chỉ là để júp nhau hiểu tường-tận vấn-đề. Bởi bản-chất, triết-ja không có khả-năng lập fe này nhóm nọ, và cũng không có khả-năng đánh trống khua chiêng.

 

[Hết đoạn §18]
Kì tới: Quyền-lực và Tự-zo trong Triết-học của Hegel

 

_________________________

[1]“Comme les Barbares ont vaincu jadis nos anciennes dynasties, les Hans, les Songs, les Yuan. Eux aussi maîtrisaient soi-disant la situation. Eux aussi privilégiaient le militaire sur le politique. Voyez où cela les a menés!” Eveline Féray, Dix Mille Printemps, Julliard, Paris, 1989, p.630.

[2]“Gardons-nous, écrivait le Genéralisssime Wang T’oung, poussés par la convoitise d’un morceau de territoire, d’imposer à nos troupes les fatiques d’une expédition lointaine. Si nous avions autant de soldats qu’au début six, sept, huits généraux de la valeur de Tchang Fou, peut-être aurions-nous la victoire. Mais même vainqueurs, it nous serait impossible de garder ce pays, etc.” Eveline Féray, op.cit., p. 631.

 

 

Đã đăng:

Quyền-lực và Tự-zo [§1]  (tiểu luận / nhận định) 
Quyền-lực và tự-zo là sức-mạnh và khát-vọng, quyết-định định-mệnh của vũ-trụ và con người. Chúng có mặt từ thủa khai-thiên lập-địa, và được í-thức (intellectus) bởi con người trước khi có sử... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§2]  (tiểu luận / nhận định) 
... Một bản-thể có suy-tư là một con người biết rõ đường-hướng của mình, không chờ cho đến khi có ai bảo tốt hay xấu mới theo. Đây không fải chỉ là chuyện cá-nhân. Nhiều zân-tộc không có chí-hướng rõ rệt, fải ngồi chờ zân-tộc khác tiên-fong, rồi mới hiểu vấn-đề. Đó là những zân-tộc đê-hèn, mang máu nô-lệ từ nhiều thế-kỉ... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§3]  (tiểu luận / nhận định) 
... Napoléon, trong những ngày đi tù biệt xứ, chắc chắn hiểu rằng ông đã mất tự-zo, và câu “Tổ-quốc là Ta!” trở nên viển-vông vì quyền-lực của ông thiếu cái khôn ngoan của trí-tuệ (mind). Cũng vậy, câu nói, “Iêu nước là iêu Đảng” là một câu nói thiếu trí-tuệ, vì quyền-lực trong câu nói ấy nhắm đến í-thức hệ đấu tranh chính-trị để động-viên và hăm zoạ người iêu nước... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§4]  (tiểu luận / nhận định) 
... Một người có tự-zo là người có khả năng thấy rõ sự lựa chọn trí-tuệ của mình, biết rõ hành-động của mình có hay không, đúng hay sai. Người ấy thấy rõ có thứ tự-zo cao hơn cả í-chí vươn tới của mình, biết rõ tự-zo nào nằm trong khả-năng hay quyền-lực của mình. Tóm lại, con người tự-zo là con người hiểu thứ tự-zo nào có thể tiêu biểu cho, hoặc làm nên người đó... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§5]  (tiểu luận / nhận định) 
... Thường thì chúng ta chỉ thấy và fê-bình những người ngiện-ngập vì người ấy hiện ra zưới mắt chúng ta. Song le, chúng ta không có con mắt để nhìn ra những vấn-đề “ngiện” nằm trong trí-tuệ. Chúng ta, vì thiếu minh-triết, hành-động như con vẹt nói tiếng người (parrotting). Một con vật khôn ngoan biết nge lời chủ, bảo sao làm đó, và làm một cách ngoạn-mục, nhưng con vật ấy không có tự-zo... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§6]  (tiểu luận / nhận định) 
... Khi Lê Quí-li (hay Hồ Quí-li) nhận thấy áp-lực của những người Việt trung-thành với Tầu và áp-lực nhà Minh đang đè nặng lên ông, ông fải xuống nước, và cũng là sự-thật khi ông nói: “Áo-mũ này cũng của Thiên-triều!” Năm 1972, một kĩ-sư Tầu còn trẻ từ Đài-loan đứng trước lăng-tẩm nhà Nguyễn ở Huế, đã mừng rỡ, nói rằng: “Rất Tầu (Very Chinese)!” Người nge iên-lặng vì đó là sự-thật... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§7]  (tiểu luận / nhận định) 
... Người Tầu nên hiểu rằng, ngay trong nước Tầu ngày xưa, những thiên-tài như Hàn-tín, Trương-lương, Tuân-tử, Ngũ Tử-tư, Hạng-võ không fải Hán. Ngược lại, con người ngu, hèn và jảo-hoạt nhất thế-jan chính là Lưu-bang, coi như tổ của Hán-tộc. Như vậy, tập-đoàn xưng tụng Đại Hán là một tập-đoàn điếm đàng, rất jỏi về fương-fáp “ngu zân để trị”... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§8]  (tiểu luận / nhận định) 
... Chúng ta cần fải đọc kĩ cuốn đạo-đức của Aristotle để tránh hiểu lầm. Theo Aristotle, cá-nhân hay tập-đoàn làm chính-trị fải có tài-năng và đức-độ cao, nếu không, người lãnh-đạo sẽ là ma-quỉ, và xã-tắc sẽ rơi vào hoả-ngục... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§9]  (tiểu luận / nhận định) 
... Nhà nước có í-thức và muốn sống còn fải quán-triệt điều này: Khi nhà nước không zo zân mà ra thì nhà nước đó rất có thể mãi mãi là một đơn-vị kì-lạ và kinh-hoàng với zân, mặc zù ở những lúc ban đầu, cả hai có những lí-zo tương trợ lẫn nhau, zo hoàn-cảnh từ bên ngoài đưa tới khiến cho đơn-vị nhà nước và zân fải đoàn-kết. Đúng theo tinh-thần luận-lí, hai đơn-vị này khác nhau, zo đó hoạt-động của A và B trong tinh thần tương-trợ X chỉ tồn-tại trong hoàn-cảnh Y. Cho nên, khi hoàn-cảnh Y không còn, sự tương-trợ trở thành một câu hỏi lớn, đặc biệt khi A đặt để ra đường-lối chỉ đạo để ép buộc B. Làm như thế A quên rằng A đang đi vào con đường cô-độc... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§10]  (tiểu luận / nhận định) 
... Một xã-hội chỉ có một đảng trong đó các đảng-viên thay nhau cai trị là một cơ-chế chính-trị fản tiến-bộ, không nhân-bản và bệnh-hoạn. Fản tiến-bộ và không nhân-bản vì quần-chúng và nhà nước không có đối-thoại. Như thế không fải là một xã-hội con người, mà đúng là một xã-hội tôi-mọi... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§11]  (tiểu luận / nhận định) 
... Khi nhân-quyền không có thì nhiều nhóm ngoài công-ước fải đứng lên đòi hỏi công-lí. Nhà nước fải ngồi xuống lắng nge và tìm hiểu ngọn nguồn. Không được zùng công-an và quân-đội đàn áp zân. Không được nguỵ tạo chứng cớ để bắt zân. Mọi người fải được xét xử công minh, và fải có luật-sư tranh tụng cho họ. Họ chỉ bị khép tội khi có minh-chứng hiển-nhiên trước một fiên-toà công-lí, chứ không fải do những cánh tay mang zanh fáp-luật nhưng vi-hiến của chính-quyền... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§12]  (tiểu luận / nhận định) 
Khó có thể bàn về fải trái với cường-quyền, vì cường-quyền — vua chúa hay đảng fái — coi jang-sơn là của họ và quần-chúng fải tuân lệnh họ. Cường-quyền cai trị bằng bạo-lực và nhà tù. Những chính-quyền ấy không có đối-thoại với zân, không chia sẻ quyền-lực với ai hết trừ những người trong fe nhóm họ. Trong chính-thể chuyên-chế (totalitarian) không có quyền tự-zo ngôn-luận, và không có xã-ước... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§13]  (tiểu luận / nhận định) 
... Ngày nay, đảng Cộng-sản lạm zụng chiêu bài “quân-đội nhân-zân” và “cán-bộ nhân-zân”, không fải để bảo-vệ zân và tổ-quốc, mà chính là để bảo-vệ Đảng. Cho nên, đã có hồi Đảng Cộng-sản Việt Nam lên mặt tuyên bố rõ ràng: “Iêu nước là iêu Đảng.” Như vậy, zụng-tâm của đảng Cộng-sản Tầu và Việt nhằm fục-hưng Nho-jáo đã rõ ràng. Họ zùng lễ-ngĩa ngu-zân để trói buộc zân. Làm cho zân mất tính người là một lối thống trị man rợ. Chắc chắn, ở một thời điểm nào đó, quân-đội và cán-bộ nhân-zân fải thức-tỉnh đặt ra câu hỏi: “Có thật chúng ta từ zân và vì zân hay không?” ... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§14]  (tiểu luận / nhận định) 
... Jean Tardieu nhận định rất đúng, chính-sách thuộc-địa của Fáp đã nhét những cái ngu-xuẩn vào đầu zân Việt. Nếu người Fáp thực tình muốn júp người Việt, thì người Fáp fải cùng người Việt sánh bước mà đi, chứ không thể bắt người Việt fải theo fương-hướng của mình. Sau gần một thế-kỉ xa cách, Việtnam ngày nay khá jống xã-hội thuộc-địa Fáp ở Việtnam thời Jean Tardieu, và rất oái-oăm, vì nhà nước và zân rất khác nhau. Bây jờ người Việt chỉ thấy độc-tài, tham-nhũng và khủng-bố. Bẽ bàng hơn nữa khi người ta zuy-trì một Hoả-lò ở Hànội để nhớ đến vết hằn trên lưng nô-lệ, thì người ta lại có vô số “hoả lò”, quỉ-quyệt, man-rợ và kinh-hoàng như một xã-hội không có hoà-bình... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§15]  (tiểu luận / nhận định) 
... Một trong những nỗ-lực song song với biên soạn cuốn sử fổ-thông là chúng ta cần zùng kĩ-thuật ấn loát tối tân ngày nay, in ra những công-trình vĩ-đại của người Việt để fát không cho quần chúng, cũng như cho các trẻ em mới đến trường. Đảng Cộng-sản Việtnam đã fí-fạm rất nhiều tiền để nhét vào đầu zân Việt những thứ u-mê, như việc xây lăng và ướp xác ông Hồ. Có linh thiêng jì đâu! Tiền bạc ấy nên zành cho những việc ích quốc lợi zân, mà cụ thể nhất là ngay bây jờ fải in ra những cuốn sử fổ-thông, fát không cho quần-chúng... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§16]  (tiểu luận / nhận định) 
... Marx và Angels khi viết Tuyên-ngôn đã thiếu nền-tảng kinh ngiệm xây-zựng thực-tế cho cuộc cách-mạng vô-sản, nên đảng Cộng-sản ở bất kì nơi nào có lá cờ của nó cũng gây kinh-hoàng và thất bại thê-thảm trong thời bình. Nó thất bại ngay trong vòng biện-chứng xã-hội chủ-ngĩa. Có thể nói Tuyên-ngôn Đảng Cộng-sản là những lời nói xúc-động nhưng không bao jờ có mặt trong cách-mạng... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§17]  (tiểu luận / nhận định) 
... Rõ ràng, những xảo-thuật chống kẻ thù chung trước kia hiện đang được zùng để chống lại quốc-ja và zân-tộc, và những jì gọi là tệ-đoan thối nát bị fỉ-nhổ trong thời chiến hiện đang được tích-cực khai thác vô bờ bến – ngay trong thời-bình. Thế thì Hoà-bình ấy chính là môi-trường thối-nát. Cuộc cách-mạng đi tới Hoà-bình ấy không có cơ-sở vững vàng, tệ hơn cả ngọn-cờ của Từ-hải. Tức là chẳng qua cũng là một nhóm côn-đồ đáng sợ... (...)
 
 
———————-
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018