thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Ý nghĩ về nước Nga | Hai đứa trong một căn phòng | Tây Nam | Ngọn gió ngột ngạt | Những từ những từ | Linh miêu
 
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
 
 
 
VIKTOR KRIVULIN
(1944-2001)
 
Victor Borisovich Krivulin [9.7.1944, Krasnodon, Ukraina - 17.3.2001, St. Petersburg] là một nhà thơ, nhà phê bình văn học và nhà hoạt động chính trị nổi tiếng của nước Nga. Ông bắt đầu quen với Anna Akhmatova từ năm 1960, trước khi sinh hoạt trong một nhóm các nhà thơ gồm Joseph Brodsky, Elena Shvarts, Sergey Stratanovsky — được gọi thuộc Trường phái thơ Leningrad mới. Ông học tiếng Ý và tiếng Anh tại Đại học Leningrad từ 1961 đến 1967 trước khi chuyển qua chuyên khoa Văn học Nga [Hiện đại], cũng là năm ông công khai từ bỏ Đoàn Thanh niên Cộng sản, cũng đồng thời từ bỏ mọi chuyện học hành và sự nghiệp, quyết chọn lựa một cuộc sống ngoài lề. Ông biên tập cho tập san 37 [tên đặt theo số nhà căn chung cư của vợ chồng ông][*] và thời gian này [1975-1981], hoạt động bên cạnh vợ là nhà nghiên cứu triết Tanya Goricheva, ông tổ chức nhiều cuộc hội thảo không thuộc khuôn khổ nhà nước,[**] tham gia biên tập nhiều báo và tạp chí chính trị, văn hoá, tôn giáo và triết học lưu hành ngoài luồng như Severnaia Pochta, Obvodnyi Kanal, hay Chasy... đồng thời cho xuất bản những bài viết về văn hoá và văn học trên các tạp chí hàng đầu ở St. Petersburg và Moscow. Sau thời đổi mới, ông bắt đầu hoạt động chính trị, và phụ trách phân khu St, Petersburg của đảng Dân chủ Nga, cùng hoạt động với nhà cải cách Galina Starovoitova. Sau khi bà này bị thủ tiêu [1998], ông lên tiếng tố cáo và mặc dù bị hăm doạ, ông vẫn tỏ thái độ cương quyết chống những kẻ theo chủ nghĩa dân tôc cực đoan. Krivulin từng sống ở Paris khoảng một năm (1988-1989 — thời gian ông thực hiện / đạo diễn cuốn phim tài liệu dài 5 tiếng về đời sống của cộng đồng người Nga ở Paris cho đài TV Leningrad), làm phóng viên chiến trường ở Bosnia (1995) và là hội phó phân hội Văn Bút [Pen Club] Petersburg.
 
Cho đến năm 1986 là năm xuất bản tuyển tập Nhóm [“Kruge”] của “Klub-81” mà ông là một thành viên nửa đầu những năm 80, sách Krivulin không hề được phép xuất bản ở Nga. Tuy nhiên từ 1974, những bài viết của ông xuất hiện bằng tiếng Nga đều đặn trên báo chí người Nga ở hải ngoại: trong số mười bốn tập thơ và tiểu luận của ông, phần lớn đều được ấn hành tại Paris, St. Petersburg, London, Helsinki, Belgrade và Frankfurt. Tuy là một trong những nhà thơ hiếm hoi sáng tác thơ bằng nhiều thứ tiếng: Nga, Đức, Estonia, Phần Lan, Serbo-Croate, và tiếng Anh, thơ Krivulin cũng như nhiều bài tiểu luận của ông từng được dịch qua tiếng Anh, Pháp, Đan mạch, Thụy điển, Phần lan, Ý, Tây ban nha, Nhật, tiếng Serbo-Croate, và nhiều ngôn ngữ khác.
 
Krivulin là một trong những gương mặt sáng chói nhất của nước Nga, một nhà báo lãnh đạo đấu tranh cho dân chủ và tự do ngôn luận kiệt xuất, và từng được biết là người đóng vai canh thức, là linh hồn của ngôi nhà Nga, một domovoi [***] bảo vệ cho tự do không chỉ trong hoạt động văn học underground ở Leningrad/St Petersburg từ cuối những năm 60 đến cuối những năm 80, mà cả trong thời hậu Xô viết những năm 1990. Thơ ông được coi là một kết hợp độc đáo các tính trí thức, tinh thần,thẩm mỹ và khổ luyện. Các Giải thưởng: Giải Andrei Bely [1978], Giải Vers libre Festival ở Kaluga [1989], Giải Pushkin [Hamburg, Topfer Foundation, 1990].
 
_________________________

[*]Căn phòng ông tại chung cư này ở Petersburg không những là một câu lạc bộ đúng nghĩa của văn nghệ sĩ Leningrad, mà còn là trung tâm gặp gỡ và sinh hoạt của các nhà văn và hoạ sĩ từ Moscow đến, đặc biệt cũng là nơi phát xuất những ấn phẩm samizdat.

[**]Hai loại hội thảo tổ chức thường xuyên hay được nhắc đến là “Văn hoá đầu thế kỷ XX và ý thức hiện đại”, “Tôn giáo trong thế giới ngày nay”...

[***]Trong “truyện kể dân gian slave”, domovoi [домовой] dùng để chỉ thần linh trong một ngôi nhà, với hình ảnh tóc tai phủ đầy, râu um tùm màu xám, vẻ mặt láu lỉnh nhưng nhân từ – thực tế là rất giống ngoại hình của Krivulin.

 
________
 

Ý nghĩ về nước Nga

 
Cây cối, ngập chìm dưới lớp tuyết xám,
và hai con quạ lẻ loi...
Ý nghĩ của tôi về nước Nga, tới mức độ tôi có thể
với ý thức vượt quá khỏi
những ngọn đồi trọc bằng phẳng, như đầu của người tù,
trần trụi trước kẻ thù, có vẻ thế —
cái ý nghĩ ấy về nước Nga không nằm đâu đó trong trí óc,
không nằm trong một thứ miền thần linh nào,
mà ở đây, trọn vẹn trước mắt, ở những miền đất xa xôi bát ngát,
kề cận mà đầy hiểm nguy cho linh hồn,
vì linh hồn không sao biết được những biên giới nằm ở đâu,
cái gì là cái của riêng mình và đâu là chỗ bắt đầu của người khác.
 
 
 

Hai đứa trong một căn phòng

 
Bạn không thể viết. Bạn không thể mở một tờ tạp chí.
Đâu đâu sự thật cũng phơi bày trước mắt,
và không có gì đúng — như thể là tôi đã nắm được
tay một kẻ nào đó, nhưng không nhìn được mặt hắn,
 
và chúng tôi sống bên nhau, như những đứa trẻ trong bóng tối,
hai đứa trong một căn phòng, bám dính vào nhau,
và chúng tôi rình bắt nhau (ôi Thượng đế, chữ nghĩa
nói ra nào có đúng!). Cái điện thoại vỡ toang
 
đã tuột khỏi cái móc của nó. Những giọng nói từ xa
reo vang từ dưới bàn tay đã bị chộp bắt.
 
 
 

Tây Nam

 
Bị bỏ mặc trên cỏ,
những chiếc xe đạp màu cam —
tựa như những khoảng rực rỡ của cây trái
sáng chói và phát triển
đã đâm chồi, ngược với thiên nhiên, giữa mùa thu,
trên mảnh đất của Michurin[1] và một tờ báo mới toanh,
giữa cảnh băng giá, phế tích của những khu rừng ngoại ô,
nơi những khu nhà tập thể rải rác
và những lô cao tầng hợp tác xã
mọc lên – đã qua khỏi vòng quay bánh xe,
qua xa lộ, vùng đất khe núi...
 
Quả đúng thế, thành phố đang mở rộng,
và những hòn đảo nhỏ của thiên nhiên,
bị vướng giữa vòng quay của đất trời,
mỗi lúc càng ảm đạm hơn. Từ Nga “sputnik”[2] của ta
có thể áp dụng cho bất cứ gì, cả cho chính tôi đây,
khi tôi nhìn đăm ra cửa sổ và trông thấy:
những vòng tròn màu cam, tay đạp xe nằm lăn ra
trên đám cỏ nâu đỏ, mớ tóc hoe vàng.
Mặt trời chiếu gắt lên con người ấy.
Mới hôm qua anh ta vừa từ trại ra, ngày mai đã lại đến trường.
Cái toà nhà thấp trũng kia, đàng sau hàng cây,
trông giống như một nhà tù... Tội nghiệp quá, mành sáo ngăn
không cho ta nhìn ra ngoài để thấy một viễn cảnh mới
mở ra ở đầu góc phố...
Một ngôi nhà, có lẽ... còn gì khác hơn?... chỉ là một ngôi nhà.
Một điều kỳ diệu, nếu đấy từng là một chái lều bẩn thỉu!
 
 
 
Ngọn gió ngột ngạt
 
ngọn gió ngột ngạt giữa đám mây ngoặc
chiếu xuống những mặt hồ vô hình
đó chính là cái có thể kéo dài hàng thế kỷ:
tiếng rì rầm tiếng bập bềnh khuấy động thì thầm
 
giông bão sẽ không nổi lên ngay cả khi nó nổi lên
mưa tạt mạnh lên các vách tường mưa
còn quá sớm để ngủ quá sớm để chết
ngày xuất hiện sớm trên ao hồ trong rừng rậm
 
bạn không có mặt ở đấy như trong giấc mơ mọi thứ đều khác đi
chúng tôi chưa từng có mặt ở đấy dưới tấm bạt ướt sũng
che phủ mặt đê của một ngôi biệt thự nhà nước
khi bầu trời chồm mình khi nó tan rã
 
sự đối xứng ngắn ngủi và nỗi buồn chán
có vẻ như không đuôi không đuôi cũng không đầu
sự im lặng ta chỉ nhận ra khi va chạm
con chim gõ kiến hay va chạm con cá búa
 
giông bão không nổi dậy chồm mình lên mái nhà
nó đóng khắn ánh chớp lên mặt gỗ dán sơn nhũ vàng
giữa tưng bừng cuộc lễ cổng vào to tướng
cắm đầy những sao trời
 
 
 

Những từ những từ

 
Những từ tiếng Nga đã biến thành
những hàng dương mùa đông
đen hơn cả đất của hố trũng
nằm ngay cái miệng tối mù
 
con người đi lại giữa các từ đó trong bùn
phát âm lên là thấy lạnh
trong khi rảo bước về nhà
giữa thứ cú pháp khập khiễng
 
 
 

Linh miêu

 
Con Linh miêu mắt vàng kia, chúng ta không để ý
khi nó nhìn lên Mặt trời,
hay nói đúng, nó nhìn đám đông,
mắt chảng nhấp nháy...
họ tụ lại và đứng yên
như chính sự im lặng sâu thẳm
những kẻ bảo vệ tất cả những loài bò, hoặc bơi,
hoặc bước đi trên đất khô, hoặc bay trên...
nhưng bây giờ thì đã muộn... và đêm lạnh dần...
và ai nấy sắp tản ra mỗi người một nơi
 
 
_________________________

[1]Ivan Vladimirovich Michurin [1855-1935] chuyên gia về cây trồng với học thuyết lai giống được nhà nước Liên xô nhìn nhận và tuyên dương, bất chấp sự đánh giá và bác bỏ về mặt khoa học của thế giới.

[2]vệ tinh nhân tạo.

 
 
-----------------------
“Ý nghĩ về nước Nga”, “Hai đứa trong một căn phòng” và “Tây Nam” dịch từ bản tiếng Anh “The Idea of Russia”, “Two in a Room” và “Southwest” của Anna Barker và Daniel Weissbort trong Twentieth-Century Russian Poetry, do John Glad và Daniel Weissbort biên tập (University of Iowa Press,1992). “Những từ những từ” và “Ngọn gió ngột ngạt” dịch từ bản tiếng Pháp “Des mots des mots” và “Vent suffocant” của Hélène Henri, một chuyên gia lỗi lạc về văn chương Nga hiện đại, trong tạp chí Poésie 1/Vagabondages số 28, tháng 12. 2001 – số đặc biệt về “Thơ Nga hiện đại / 16 nhà thơ Saint-Pétersbourg”. “Linh miêu” dịch từ bản tiếng Anh “The Lynx” của Anatoly Kudryavitsky trong A Night in the Nabokov Hotel – 20 Contemporary Poets from Russia (Dublin: Dedalus Press, 2006) và của Thomas Epstein trong Crossing Centuries: The New Generation in Russian Poetry (New Jersey: Talisman House Publishers, 2000).
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018