thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Buồn nôn, Sartre thơ thẩn trước cổng chùa [kỳ 2]

 

BÀI 1

[tiếp theo]

Đã đăng: [kỳ 1]

 

MỘT: Lý do hiện hữu – Ý nghĩa – Phi lý / Vọng chấp – Hý luận

 

. Đi vào vấn đề

 

Sartre: Hiện hữu là có đó, giản dị như vậy thôi; các thể vật hiện hữu xuất hiện, chúng để cho ta gặp gỡ, nhưng không bao giờ ta diễn dịch được chúng.

Đoạn văn cho thấy, khi bất ngờ đối diện với sự vật, công việc đầu tiên của Sartre là cố gắng diễn dịch sự hiện hữu của nó. Bởi có cố gắng diễn dịch nên mới thấy rằng nó không thể nào diễn dịch được. Diễn dịch là nỗ lực nhằm diễn giải, giải thích. “Hiện hữu là có đó”. Đây là một ghi nhận, không phải là giải thích. Nhưng vì nguyên do gì và lý do gì mà thình lình sự vật xuất hiện và có đó? Nó không có đó không được sao? Đâu có gì bắt buộc nó nhứt thiết phải có đó. Vậy mà nó vẫn ngang nhiên có đó, ù lì, câm nín. Không tìm được giải thích, Sartre ớn lạnh. Và buồn nôn.

Jean Vioulac: Kinh nghiệm đó cho thấy rằng hữu thể chẳng là gì khác hơn là sự hiện diện thuần tuý ù lì và không nghĩa lý, cái “chất bột” của sự vật nó có đó, giản dị như vậy, không nguyên do (cause), và không lý do (raison) [...] Như vậy, ngay từ trong yếu tính của mình, hữu thể là phi lý (absurde).

Khi đặt vấn đề nguyên do và lý do là ta muốn giải thích cái hiện hữu của sự vật: “Nó từ đâu đến? Đến để làm gì? Và đi về đâu?” Đại để là như vậy. Những câu hỏi muôn đời. Và mỗi người đáp một cách.

Trước hết, cần minh định một điều: Khi đặt câu hỏi, khi đặt vấn đề mà không có giải đáp, có thể là đã đặt sai câu hỏi, hoặc đã ngụy tạo ra vấn đề ngay từ đầu. Triết học và siêu hình có rất nhiều vấn đề ngụy tạo. Chẳng hạn hỏi: “Tại sao (vũ trụ) khởi đầu lại có một cái gì, thay vì không có gì hết?” Đáp: “Phải có một cái gì để cho ông mới có chuyện để mà hỏi!” Cũng giống như “To be or not to be, that’s the question”, thay vì “that’s not the question”. Phải “to be” thì ông mới có “question” chớ.

“Từ đâu đến?” Theo Thiên Chúa: “Con người đến từ cát bụi, và trở về với cát bụi.” Theo đạo Phật: “Con người lẩn quẩn trong luân hồi.” Hỏi: “Cái rễ cây này từ đâu đến?” Nó đến từ hạt mầm của cây. Hỏi: “Sartre từ đâu đến?” Sartre đến từ bụng mẹ. Nếu cứ hỏi tiếp và phăng ngược trở về nguồn, trở về khởi điểm, thì ta sẽ gặp cái “Big Bang”, một trong những thuyết về sự sáng tạo của vũ trụ. Đây là một giải đáp về nguyên do của hiện hữu.

“Đến để làm gì?” Đó là chất vấn về cái lý do hiện hữu (raison d’être) của sự vật. “Cái rễ cây có đó để làm gì? Sartre có đó để làm gì?” Đó là chất vấn về cái “lẽ sống”, cái ý nghĩa của hiện hữu. Nếu có ai đó cắc cớ hỏi Sartre: “Sartre có mặt trên đời này để làm gì? Cái lẽ sống, cái lý do hiện hữu của ông là như thế nào?” Chắc chắn Sartre sẽ nhíu mày và quắc mắt: “Từ từ đã nào. Chuyện đâu còn có đó. Anh phải để cho tôi sống hết cuộc đời của tôi đã, rồi mới biết tôi hiện hữu để làm gì, mới biết cái lý do hiện hữu của tôi là cái gì chớ.” Bởi lẽ đó, cái lý do để hiện hữu đầu tiên và trước tiên chính là hiện hữu chớ chẳng là gì khác. “L’existence précède l’essence”, Sartre cũng không nói gì khác hơn. Hỏi “Để làm gì?”, hỏi lý do hiện hữu là đặt cái cày trước con trâu! Ta thường tìm kiếm một cái gì bên ngoài hiện hữu để giải thích, để minh chứng, để ban ý nghĩa cho hiện hữu. Theo quan điểm của người viết: “Ý nghĩa của đời sống, chính là đời sống. Lẽ sống của “sống”, chính là sống. Cái lý do để hiện hữu chính là hiện hữu.”

Khi hỏi Đến để làm gì?” và ban cho hiện hữu một ý nghĩa, thiết tưởng cái điều này chỉ có chính đương sự mới trả lời cho hiện hữu của mình được mà thôi. Còn như nếu trông mong vào tôn giáo, thì phải chờ đợi cho đến lúc cuộc đời ta hoàn toàn kết thúc, phải đợi đến phán xét cuối cùng của Thượng đế mới biết được. Khi đi từ cái rễ cây không lý giải được mà sang đến cái kết luận phổ quát: “Hữu thể là phi lý ngay từ trong yếu tính của nó”, Roquentin đã kết luận một cách hấp tấp, chủ quan, và cường điệu. Roquentin không phải là Thượng đế. Sartre cũng vậy.

“Đi về đâu?” Quo vadis? Cái thắc mắc và giải đáp cho thắc mắc này thuộc lãnh vực tôn giáo và siêu hình, xin miễn bàn. Một điều chắc chắn: Cuối cùng, mọi người đều đi về nghĩa địa, hoặc là giàn hoả. Không bàn chuyện siêu hình. Ở đây chỉ bàn những chuyện có hình. Dù biết rằng cái hình tướng đó chỉ là giả tướng. Có bàn, càng bàn, càng thấy nó là giả tướng.

 

. Khoa học nói gì?

 

“Hữu thể có đó, không nguyên do, không lý do.” Tranh luận trong lãnh vực trừu tượng là tranh luận bất tận, và rất thường khi, lúc tạm kết, không thể nhứt quyết là ai có lý, và ai thắng ai bại rõ rệt như hai đội túc cầu trong một trận đá bóng. Bởi lẽ đó, trước hết nên bàn cãi trong lãnh vực cụ thể: khoa học. Đối với khoa học thì khi một vật có đó, là nó có nguyên do và lý do để có đó. Có điều là trong khả năng hiện tại (dụng cụ quan sát, đo lường, phương pháp khảo sát...), đôi khi ta chưa giải thích được, chưa biết được vì lý do nào mà nó có đó. Ta chưa giải thích được tại sao (pourquoi?), và như thế nào (comment?) mà nó có đó. Cái “như thế nào” còn mong có ngày biết được. Còn cái “tại sao” có lẽ ta sẽ không biết được bao giờ. Nhưng cái sự kiện ta không biết không có nghĩa là nó không có. Bằng chứng hiển nhiên: sự vật có đó. Vậy thì giải thích làm sao đây? Đáp: “Chưa giải thích được!” Và tạm đặt tên cho nó là bí ẩn (énigmes). Trong trời đất, trong cõi người, có những bí ẩn từ hàng trăm hàng ngàn năm nay, cho tới giờ vẫn còn là bí ẩn. Người ta gọi là bí ẩn chớ không gọi là phi lý. Kiên nhẫn thì gọi là bí ẩn. Hấp tấp thì la lên phi lý! Nếu tuyên bố vội vàng “Hữu thể là phi lý”, thì cũng không có thể kiên nhẫn mà nhủ thầm “Hữu thể là bí ẩn”. Cũng đâu có sao.

Những tình trạng “chưa giải thích được” này cũng không hiếm trong hai lãnh vực thiên văn và vật lý. Thiên văn: Trong vũ trụ người ta quan sát được những thiên thể và những hiện tượng mà tạm thời không lý giải được với những thuyết hiện có (thuyết tương đối, nhiệt động, điện từ, cơ khí lượng tử...). Vật lý: Có những hạt tử và hiện tượng nguyên tử mà khoa học, tuy rằng đã quan sát được, nhưng chưa hiểu được nguyên do và lý do xuất hiện của nó. Ngược lại, cũng có những vật chất, tuy rằng trên lý thuyết nó có, nhưng mà ta vẫn chưa quan sát được, như vật chất đen (matière noire), phản vật chất (antimatière)... Tuy nhiên, trong tinh thần khoa học thì không có gì có thể là ex nihilo, nghĩa là từ hư vô mà xuất hiện.

Nhân nói về vật chất, chính vật lý là khoa chuyên nghiên cứu về vật chất, hiện nay cũng không biết vật chất là cái quái gì hết. Hỏi các nhà vật lý đã đoạt giải Nobel: “Vật chất là gì?”, các nhà bác học trứ danh này cũng ú ớ luôn. Vật chất là những hạt tử nhỏ li ti? Hay là một làn sóng? Hay là năng lượng cô đọng lại? Hay chỉ là một ảo tưởng do nhiều hiện tượng (nhiều nhân duyên) trong Trời Đất hiệp lại mà tạo ra? Một cái maya, một cái ảo tưởng, nói theo Phật ngữ. Hơn nữa, chính cái “sự thật khoa học” xưa nay được coi như là vững chắc nhứt, bây giờ cũng trở thành nghi vấn. Bởi lẽ các thuyết khoa học cũng đã “trợt vỏ chuối” nhiều phen. Trở lại cái rễ cây của Roquentin, tới khoa học cũng còn chưa biết nó là cái quái gì, mà bây giờ Sartre lại nói về cái bản chất, cái yếu tính và phán rằng “nó không có lý do để hiện hữu” thì quả thiệt là... phiêu lưu văn nghệ (hay triết lý? hoặc siêu hình?). Cái có hình còn chưa biết được, ở đó mà...

Hư vô (néant) khác với chơn không (vide). Hư vô (theo nghĩa của Sartre?) là cõi không còn gì hết, đi vào đó là biến mất tuyệt đối, “tiêu tùng” vĩnh viễn. Còn chơn không (phần nào hiểu theo nghĩa Phật giáo và Lão tử) là cõi không có giới hạn và cũng không có gì, vật chất lẫn không vật chất, nhưng lại có tiềm năng tái tạo hiện hữu (chơn không diệu hữu). Tiềm năng của chơn không nó vô biên. Một bằng chứng cụ thể: chơn không chứa được hết muôn vật, muôn loài, muôn pháp. Theo nghĩa này thì chơn không là “Mẹ của tất cả”. Thí dụ: không có chơn không thì lấy gì mà chứa đựng vũ trụ? Lấy đất mà chứa sắt, phỏng đặng chăng? Ngay cả cho rằng quặng sắt “nằm trong” lòng đất đi nữa (thiệt ra thì sắt và đất trộn lẫn nhau, hoặc nằm cận kề bên nhau), thì lấy một chất khác (như không khí) mà chứa thì lại hỏi tiếp: “rồi lấy gì mà chứa?” rồi lại vân vân... vân vân...

Ngay cả Đấng Sáng tạo là Người (?) đã tạo ra vũ trụ (và muôn loài), nhưng thử hỏi Đấng Sáng tạo đứng ở đâu để mà tạo tác? Chẳng lẽ Thượng đế “vô gia cư”? Nếu cho rằng chính Đấng Sáng tạo đã tạo ra chơn không, thì cái chuyện này ai cũng có thể khoanh tay mà làm được. Mà thôi, bàn cái chuyện nầy chỉ là hý luận. “Bất khả tư nghì”. Không thể nghĩ bàn.

 

. Cho xem cái “lý do hiện hữu”!

 

Giờ đây, hãy rời lãnh vực “cụ thể” để đi vào lãnh vực “trừu tượng”. Trước hết, tuyên bố “Hữu thể có đó là “ngẫu nhiên”, do đó nó không có lý do để hiện hữu” là cướp đoạt ngay từ đầu quyền hiện hữu, quyền sống của hữu thể. Là ngăn chận ngay từ đầu, không cho nó thực hiện các dự tính qua đó nó chứng minh lý do hiện hữu của nó. Tuyên bố như vậy là mù quáng, ngớ ngẩn và độc đoán. Tuyên bố như vậy là tự phong cho mình làm một thứ “Thượng đế bỏ túi”, một bạo chúa tự tung tự tác hoàn toàn trong hoang tưởng. Nó cũng giống như chận đầu một đứa nhỏ trước cổng trường, đốt bỏ cặp sách của nó rồi tuyên bố: “Học vấn là “ngẫu nhiên”, không có lý do hiện hữu, hoàn toàn phi lý!” Đó là ngăn chặn ngay từ đầu không cho đứa nhỏ học hỏi trước khi ra đời và thể hiện học vấn của mình qua đời sống thực tiễn. Tất cả chỉ vì cái hoang tưởng bày đặt và nằm ở trong đầu của “Thượng đế bỏ túi”!

Kế đến ta lại tuyên bố “Hữu thể không nghĩa lý, không nguyên do, không lý do, phi lý”. Đó là những phán xét mang nặng cảm tính và chủ quan. Sự vật có đó. Nhưng ta lại tuyên bố “nó không có nguyên do gì, và cũng không có lý do gì để có đó”. Có thể hiểu là “lẽ ra nó không được (phép?) có đó”. Nhưng nó vẫn lù lù có đó. Hai điều này nghịch lý. Chỉ một bên có thể đúng mà thôi. Vậy thì bên nào đúng? Cho dù sự vật không hề lên tiếng, nhưng sự hiện diện của nó là một bằng chứng hùng hồnhiển nhiên cho cái lý do hiện hữu của nó. Nó bất cần cái lý do mà ta ban cho hoặc không ban cho nó. “Ông tuyên bố tôi không có lý do để hiện hữu, nhưng tôi vẫn hiện hữu, ông làm gì được tôi? Ông là ai mà đòi tước đoạt quyền hiện hữu của tôi? Ông là Thượng đế chăng?”

Nếu tuyên bố “nó không có lý do để hiện hữu”, thì thử hỏi ngược lại: “Sao dám chắc là nó không có lý do để hiện hữu? Cái lý do nào bắt buộc nó không được (quyền) hiện hữu? Nhân danh gì mà tước đoạt quyền hiện hữu của nó?” Nhân danh một cái tín ngưỡng siêu nhiên? Hay một cái triết thuyết siêu đẳng nào đó? Liệu có thể minh chứng được hành động “phủ nhận” hiện hữu của một sự vật, một khi nó đã có đó chăng? Và liệu có thể trả lời những nghi vấn vừa đặt ra chăng? Hay chỉ đáp ngớ ngẩn rằng: “Tại vì tôi (chủ quan) cho rằng nó không có nguyên do và lý do hiện hữu. Không có gì phải chứng minh hết. Thế thôi!”? Bởi lẽ đó, tuyên bố sự vật không có nguyên do và lý do hiện hữu là một khẳng định hàm hồ và độc đoán. Tuyên bố như vậy là “không có lý do” gì vững chắc.

Giờ đây cái rễ cây nó có đó rồi. Bỗng nhiên ta tuyên bố: “Hữu thể là phi lý, ngay từ trong yếu tính của nó!” Rồi chỉ tay vào mặt cái rễ cây mà quát lớn: ”Này! Cái rễ cây lạng quạng kia! Mày là ngẫu nhiên! Mày không có lý do gì để hiện hữu. Mày là hữu thể phi lý! Vậy đừng có láng cháng ở đây. Đi chỗ khác chơi!” Được chăng? Nhưng cho dù cái rễ cây nó có riu ríu tuân lịnh đại ca mà đi chỗ khác chơi đi nữa, thì khi di tản, nó cũng bê sự hiện hữu của nó theo. Có phủ nhận cái lý do hiện hữu của nó cũng chỉ là ngớ ngẩn và vô ích. Tuy nhiên, nếu vì cái đầu óc duy lý của mình mà đòi hỏi (mà xét giấy) cái rễ cây phải trình cái lý do (giấy tờ) hiện hữu của mình thì xin hỏi lại cho rõ: “Cái lý do nầy là do ai cấp phát, và của ai chế tạo? Của Thượng đế? Của Descartes? Của Karl Marx? Hay là do Sartre chế biến và độc quyền? Ai mới là người có thẩm quyền (và tại sao có thẩm quyền?) cấp phát lý do hiện hữu? Tại sao cấp phát? Và tại sao lại cấp phát cái lý do hiện hữu đó mà không là một lý do nào khác”? Trả lới được chăng?

Bởi lẽ đó, một khi sự vật đã có đó rồi thì chính sự vật tự khẳng định một cách hùng hồn cái lý do hiện hữu của nó: Nó hiển nhiên. Nó sờ sờ ra đó. Tuy nhiên, có lẽ vì cái nguyên do và lý do hiện hữu “thực sự và tối hậu” của nó vốn quá “bí ẩn”, không thể nào diễn tả được bằng ngôn ngữ con người, cho nên ta mới mờ mịt không thể nào thấu rõ được đó thôi. Vả lại, nghĩ cho cùng, nó cũng đâu có cần gì tới một cái “lý do hiện hữu” le lói do một “đỉnh cao trí tuệ” nào đó ban phát mới có thể, có quyền và được phép hiện hữu. Không lẽ nó tự ý hiện hữu trước, rồi mới làm đơn xin cái lý do hiện hữu sau, để hợp thức hoá sự có mặt của mình? Cái rễ cây có đó! Như vậy là được lắm rồi. Và tự nó, cũng là đủ lắm rồi. Chớ có vẽ rắn thêm chưn, cho dù là 1.000 cái chưn tràn trề ý nghĩa, và lai láng lý do đi nữa. Chẳng có cái vấn đề “lý do / không lý do”, cũng chẳng có cái vấn đề “ý nghĩa / phi lý” lộn xộn rườm rà rắc rối gì hết ráo. Cái rễ cây có đó. Có chịu hay không chịu gì thì cũng phải rán mà chịu. Ở đó mà “lẽ ra...” (lẽ vô) cũng vô ích. Nó có đó. Vậy thôi. Chấm. Và hết.

 

. Sự vật cần ta giải thích?

 

Sự vật có đó, có thể ngay từ lúc chưa có ta (hoặc chưa có con người) trên đời. Sự vật có đó tự đời nào. Rồi thình lình ta xuất hiện, đối diện, và tìm cách giải thích. Giải thích là tìm cách làm cho đầu óc duy lý chấp nhận. Sự vật có trước. Giải thích đến sau. L’existence précède l’explication. Giả dụ như không có ta và không có giải thích thì sao? Liệu sự vật có biến mất? Liệu sự vật có mất hết “lý do để hiện hữu”, mất hết “nghĩa / ý nghĩa”? Nếu Roquentin (Sartre) không xuất hiện trong công viên và đến ngồi trên băng ghế thì cái rễ cây sẽ vĩnh viễn không có lý do để hiện hữu, và sẽ vĩnh viễn không được cái ý thức nào đó ban phát cho một nghĩa / ý nghĩa cho sự hiện hữu của mình. Rồi thì cái rễ cây sẽ ra sao? Nó có hề hấn gì không? Giả thử như Roquentin có xuất hiện trong công viên, nhưng Roquentin mù mắt, không nhìn thấy cái rễ cây, không đặt vấn đề “lý do hiện hữu”, không đặt vấn đề “ý nghĩa” của cái rễ cây, và cũng không “buồn nôn” gì hết thì liệu các “vấn đề” đó nó có tự đặt ra không? Liệu trong đêm khuya, cái rễ cây nó có gác tay lên trán và tự hỏi: “Ta từ đâu đến, đến để làm gì và đi về đâu?” hay không?

Như vậy, tự nó, “vấn đề lý do hiện hữu và ý nghĩa” có một thực thể gì độc lập của riêng mình hay không? Hay nó chỉ là một hoang tưởng được nguỵ tạo bởi một tâm trí cực kỳ dao động, phát xuất từ cái tâm vọng chấp. Một khi cái tâm vọng chấp rồi thì nó vọng hiện, làm xuất hiện các vấn đề. Và những lời nói của ta trong trạng thái đó cũng giống như lời mê sảng của một người đang trải qua một cơn mộng dữ trong lúc mê ngủ. Roquentin đã để cho mình bị cái rễ cây thôi miên, như một người ngó dây thấy rắn, rồi đâm ra loạn tưởng. Trong cơn mộng mê, những cảnh trí ta ngó thấy đều tưởng chừng như có thiệt. Chúng chỉ tan biến khi nào ta đã tỉnh mộng hồi lâu. Có khi rất lâu. Có khi trở thành hoài niệm thương động, hoặc ám ảnh dai dẳng, khó lòng mà dứt tuyệt cho được.

Lấy một cảnh sông núi hùng vĩ nào đó. Nó có đó từ đời kiếp nào. Chợt một bữa đẹp trời nọ, có người đến chiêm ngưỡng và làm thơ để ca tụng. Rồi hôm sau, có kẻ đến thưởng thức và vẽ tranh để diễn tả. Rồi hôm sau nữa, có một người buồn nôn đến đặt vấn đề hiện hữu và buông lời nguyền rủa để thể hiện cái tâm bất ổn của mình. Thơ, tranh, lời nguyền rủa cũng giống như là cái giải thích chủ quan của ta về sự vật vậy thôi. Nó không mắc mớ gì tới sự vật hết ráo. Nó cũng chẳng nói lên được một sự thật nội tại nào của sự vật. Sự vật không cần tới những thứ sản phẩm nhân tạo đó để hiện hữu, hoặc để làm nguyên do, làm lý do, làm nghĩa, làm ý nghĩa, hoặc để làm cái chi chi cho mình hết ráo. Có hay không có gì thì nó cũng vậy thôi: Nó có đó. Lấy trường hợp của Sartre đây. Sartre có cần tới một Đấng nào, hay một ai đó đứng bên ngoài ban cho Sartre một lý do hiện hữu (raison d’être) để có thể hiện hữu? Nếu có, thì tại sao phải là Đấng đó, người đó, và tại sao phải là cái lý do hiện hữu đó? Nếu không có ai ban cho mình một lý do hiện hữu nào hết thì Sartre tính sao? Thế còn cái L’existence précède l’essence của ông, ông để nó ở đâu?

Tuy nhiên, mặc dù diễn giải của ta chỉ có tính cách nguỵ tạo, nhưng cái tâm vọng chấp của ta cũng có thể tác hại tới sự vật và tới ngay cả ta. Chẳng hạn như ta tuyên bố cái cây marronnier “phi lý”, nó không có lý do gì để hiện hữu, rồi ta vác búa tới đốn bỏ. Hoặc ta tuyên bố “cuộc đời ta phi lý” rồi ta uống thuốc độc tự tử để phản đối (phản đối ai? phản đối gì?) Hoặc là cầm súng leo lên tháp chuông, rồi bắn đại vào đám đông vì cho rằng “cuộc đời họ phi lý”, và hiu hiu tự cho rằng mình đã làm được một hành động vô cớ (acte gratuit). Vô cớ thiệt sao? Thử nghĩ kỹ lại đi. Nếu không mê muội và nghĩ lầm rằng “cuộc đời phi lý” thì liệu cái hành động vô cớ (cố tình mà vô cớ được sao?) nó có xảy ra hay không? Vô cớ hay là vô minh, hoặc mê lầm? Nói tóm, đối với sự vật, diễn giải và giải thích của ta là không thiết yếu, là nguỵ tạo, có thể sai lầm và tác hại.

 

. Tướng không và giả danh

 

Sartre: “[...] nó (hiện hữu) chỉ vỏn vẹn là hình thể trống rỗng ghép lên sự vật từ phía bên ngoài mà không làm thay đổi một mảy may nào bản chất của sự vật.” Khi viết như vậy, có phải Sartre đã linh cảm mơ hồ cái tính cách “vô bổ và vô hiệu” của “hiện hữu” (theo chữ của Sartre dùng trong câu này) đối với sự vật? Và khi Sartre kết luận: “[...] nhưng ta không bao giờ có thể diễn dịch được chúng (thể vật hiện hữu)”, phải chăng Sartre cũng ngụ ý rằng mọi sự diễn dịch, giải thích, diễn giải đều “vô bổ và vô hiệu”, không làm thay đổi một mảy may nào bản chất của sự vật? Tính cách “vô bổ vô hiệu” này cũng có thể áp dụng cho “cái nhìn, cái tên, cái nghĩa, cái ý nghĩa” mà ta ghép lên sự vật. Jean Vioulac: “Rồi khi đó, ý thức sẽ sắp xếp các dữ kiện [...] và ban cho tổng hợp đó cái nghĩa “cây”“.

Cái nghĩacây” (và luôn cả ý nghĩa) không giống như chất bổ mà cây hút được từ trong đất và trở thành thực sự những sớ cây cấu tạo cây marronnier. Cái nghĩa và ý nghĩa không bao giờ nhập thể được vào thân cây như là chất bổ và sớ cây. Nó vĩnh viễn đứng bên ngoài, và sẽ “không làm thay đổi một mảy may nào bản chất của cái cây (sự vật)”, như Sartre đã linh cảm.

Cái nghĩa “cây” ở đây cũng đồng thời là cái tên gọi (nom) của sự vật đã được ý thức hướng tới và chiếu rọi. Tuy nhiên, có gọi cái khối chất hình ống màu nâu ù lì sừng sững trước mặt là cây, là arbre, là tree, hoặc là cái chi chi khác đi nữa thì cũng chẳng ăn nhập gi tới nó hết. Cây, arbre, tree, tất cả đều chỉ là những tên gọi. Không có cái tên gọi nào đúng hơn tên gọi nào. Tất cả đều chỉ là qui ước và đều là giả danh.

Trong Trời đất, muôn pháp vốn có “tướng không” và không có tên gọi (vô danh). Mọi tên gọi, mọi nghĩa, mọi ý nghĩa đều là do con người bày đặt ra, vì vậy đều là giả danh, giả ý, giả nghĩa, phát xuất từ cái tâm chia chẻ phân biệt của mình mà nguỵ tạo ra. Chẳng hạn như thoạt tiên trái đất là nguyên một khối liền lạc, mà mọi đất đai đều không có tên. Sau đó con người xuất hiện, chia phe đánh nhau, vạch ra biên giới rồi đặt một cái tên (Việt Nam, Pháp, Anh, Đức...) cho vùng đất nằm trong vòng một biên giới khép kín, trước đây vô danh. Cũng giống như là mua một con chó con rồi đem về đặt cho nó cái tên Mực vậy. Nhưng trong Trời đất, không có vùng nào tự nó có tên là France, không có con thú nào tự nó có tên là chó, là chien, là dog, và cũng không có một con chó nào tự nó có tên là Mực hết. France, chóMực đều là giả danh.

Nói “tướng không” là nói sự vật không có hình tướng riêng của mình, chớ không phải là “không có gì hết”. Tướng là hình tướng. Diễn rộng ra, nói “tướng không” có thể hiểu là mọi vật, mọi pháp đều không có hình tướng (tướng) riêng, không có bản chất (tánh) riêng, hay một cái gì riêng của nó hết. Chỉ do nhơn duyên tạo tác mà xuất hiện, và đều có tính cách vô thường, không ngừng biến đổi. Bởi lẽ đó nên các pháp đều là giả tướnggiả danh, do cái tâm vọng chấp, chia cắt và nguỵ tạo ra.

Ở đây, qua cái nhìn được thể hiện trong câu hiện hữu chỉ là hình thể trống rỗng ghép lên sự vật từ phía bên ngoài, Sartre đã thấp thoáng thấy được cái “tướng không” theo nhãn quan của Phật giáo, nhưng vẫn hãy còn chấp có (ngũ uẩn). Trong khi đó, theo nhãn quan của Tâm Kinh thì năm uẩn đều “Không” (Bát nhã). Việc trình bày lập luận và giảng giải Tâm Kinh không nằm trong khuôn khổ bài này.

 

[còn tiếp]

 

 

Đã đăng:

L’existentialisme, Thuyết hiện sinh của Sartre là triết thuyết rất thịnh hành trong thập niên 1960. Buồn nôn, phi lý là thái độ rất thường thấy trong giới trí thức trẻ vào thời kỳ này. Lúc đó, người viết mới vào lứa tuổi 20 nên không rõ Thuyết hiện sinh là cái gì cho lắm. Bây giờ, hơn 40 năm sau mới có dịp trở lại tìm hiểu cái hiện tượng “buồn nôn, phi lý”, “rong rêu sỏi đá” của các bậc đàn anh mình thời trước... (...)

 

 

-------------------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018