thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Buồn nôn, Sartre thơ thẩn trước cổng chùa [kỳ 3]

 

BÀI 1

[tiếp theo]

Đã đăng: [kỳ 1] - [kỳ 2]

 

. Khái niệm và cái tháp Eiffel

 

Jean Vioulac: Sự đóng góp có tính cách quyết định của khái niệm (notion) “ý hướng” (intentionnalité) chính ở chỗ nó chỉ cho thấy rằng các sự vật tự nó không có ý nghĩa (sens), chúng tiếp nhận một ý nghĩa từ một ý thức nhắm vào chúng và quan sát chúng [...] Hữu thể chẳng là gì khác hơn là sự hiện diện thuần túy ù lì và không nghĩa lý (insignifiante), cái chất bột (pâte) của sự vật có đó, giản dị như vậy, không nguyên do (cause) và không lý do (raison) [...] Như vậy, ngay từ trong yếu tính (essence) của mình, hữu thể là phi lý (absurde).

“Khái niệm” (và ý niệm) chỉ là một sản phẩm của trí tuệ, tự nó không có thực thể: nó do trí tuệ bày đặt ra, chớ không tự có trong Trời đất. Dựa vào một khái niệm không có thực thể mà tuyên bố là sự vật không ý nghĩa, không nguyên do, không lý do, phi lý, liệu khẳng định đó có vững chắc hay không? Phi lý? Thiệt vậy sao? Bất cứ một sự vật nào, khi nó có đó, thì là nó có lý do để có đó. Điểm này sẽ được khai triển ở mục “nhân quả” và “nhân duyên” thuộc phần HAI của bài. Nói rằng nó không có lý do để hiện hữu, chẳng qua là chỉ để lộ cái dốt nát, cái mê muội của mình mà thôi: “Tôi không biết cái lý do hiện hữu của nó”. Cũng giống như một người dân quê ở Việt Nam không biết có cái tháp Eiffel ở bên Pháp, nên đối với cái tâm trí của mình, cái tháp Eiffel không có, mặc dù cái tháp Eiffel quả thiệt có đó. Nhưng cũng có thể là: “Nó có lý do để hiện hữu, nhưng tôi không chấp nhận cái lý do đó”. Hoặc đúng hơn: “Tôi không bày đặt ra được một lý do hiện hữu nào cho nó hết”. Mà bày đặt là nguỵ tạo.

Nhưng nếu quyết định tìm ra cho bằng được nguyên do và lý do hiện hữu của cái rễ cây thì cũng không khó. Thoạt tiên, có cái hột marron còn sống. (Nếu hỏi “Hột marron nguyên thủy từ đâu đến?” thì xin kiếm Thượng đế hoặc ông Darwin mà hỏi). Kế đến, có người làm vườn ươm cái hột marron, bón phân, tưới nước, nó mọc cao lên khoảng một mét. Kế đến, trong làng lập ra một công viên nên cần có bóng mát. Người làm vườn bèn đem cây marronnier còn non tới trồng ở giữa vườn. Rồi nhờ phân bón, nhờ nắng, nhờ nước... cây non mọc lớn lên thành cây marronnier cao ngất. Cũng như mọi loại cây khác, cây marronnier cần có nhiều rễ lớn để giữ chặt nó xuống đất. Nhưng gần gốc cây thì rễ bò trên mặt đất. Rồi bỗng một hôm có anh chàng Roquentin lần xần bước vô công viên, đến ngồi trên băng ghế, chợt ngó thấy cái rễ cây, rồi thắc mắc, rồi quăng câu hỏi lớn lên không trung: “Sao cái rễ cây nó không có lý do gì để hiện hữu mà nó vẫn ù lì có đó?” Roquentin không tìm được giải đáp, cái rễ cây rớt xuống trúng u đầu người hỏi. Rồi buồn nôn. Rồi ói mửa tới mật xanh, vân vân...

Nguyên do và lý do hiện hữu của cái rễ cây, đối với tất cả những người “bình thường” là như vậy đó. Tại sao? Tại trong thiên nhiên nó như vậy. Rất là bình thường và giản dị. Cái rễ cây nó không cần đến một “lý do hiện hữu” thiêng liêng, siêu nhiên hoặc siêu triết nào đó do Thượng đế, hoặc Thần Brahman, Thần Tháp Rùa, ông Bành Tổ, bà Thánh mẫu, hay một triết gia siêu việt nào đó ban cho mới có quyền hiện hữu hết ráo! Mà cho dù là như vậy đi nữa cũng không phải là giải thích cuối cùng. Nếu hỏi tiếp: “Tại sao nó lại như vậy?” thì trả lời làm sao đây? Làm gì có cái vấn đề nhức đầu “Cái rễ cây nầy từ đâu đến? Đến để làm gì? Rồi đi về đâu?”. Nó có nguyên do và lý do để hiện hữu ngay trong sự hiện diện của nó. Vậy thôi. Rất là trần tục. Rất là có hình chớ chẳng có siêu hình gì hết ráo. Đâu có cái chi mà phải rắc rối cuộc đời (một cách lẩm cẩm) như vậy?

 

. Ý thức làm “Xà vương chịu phép”!

 

Tương tự, nói rằng: “Sự vật tự nó không có ý nghĩa, hữu thể là phi lý”, rất có thể là chỉ vì “tôi không bày đặt ra được một ý nghĩa nào cho nó hết”. “Ý nghĩa” chỉ là một “ý niệm”, một sản phẩm của trí tuệ, không có thực thể, không tự có trong Trời đất – cũng như “khái niệm”. Ta có thói quen nghĩ rằng cái gì cũng phải có ý nghĩa để minh chứng cho sự hiện hữu của nó. Ta phải có ý nghĩa. Vợ ta phải có ý nghĩa. Con ta phải có ý nghĩa. Cái ý nghĩa đó phải như thế nào mới xứng với cái tên “ý nghĩa” (AOC ?) Ta cũng bù trất. Tuy nhiên, điều đó cũng không ngăn được ta tiếp tục đòi hỏi: Con chó của ta cũng phải có ý nghĩa. Cục gạch cũng phải có ý nghĩa. Cho tới “rong rêu sỏi đá” gì cũng đều phải có ý nghĩa hết ráo. Bằng không thì “rong rêu sỏi đá” sẽ phi lý buồn nôn. Cái rễ cây cũng bị kẹt luôn. Nếu không muốn mang tiếng là “phi lý” thì cái rễ cây phải nghe lời ta phán: “Cái rễ cây kia! Mày phải có ý nghĩa!” “Nhưng cái ý nghĩa gì vậy đại ca?” Biết cái rễ cây nó phải mặc cái áo “ý nghĩa” như thế nào mới được ta chấp nhận? Chẳng lẽ ta muốn cái rễ cây phải cạo đầu đi tu hay phải đi tìm gặp Thượng đế thì cuộc đời của nó mới có ý nghĩa?

Bởi có bày đặt ra cái ý niệm “ý nghĩa” nên mới nảy sanh ra cái ý niệm “phi lý”, phát xuất từ cái tâm đối đãi nhị nguyên của mình. Nói rằng sự vật “tiếp nhận ý nghĩa” nhưng thiệt ra thì không hề có sự tiếp nhận. Chỉ có ý thức muốn dán cái ý nghĩa hư giả do tâm trí của mình bày đặt ra lên sự vật nhưng mà nó không dính (cũng như là ta đổ nước và nước trợt trên lá sen). Vậy thôi. Ý thức (hoặc tâm trí) đã tinh ranh tự biểu diễn cái trò ảo thuật “dán ý nghĩa” với chính mình. Rồi tin thiệt là sự vật quả có thực sự tiếp nhận cái ý nghĩa do mình bày đặt ra. Cũng giống như là vẽ rắn mà thêm chưn. Cái “chưn ý nghĩa” vốn nó rất là trừu tượng nên ta muốn vẽ nó như thế nào đó thì cứ vẽ, miễn là có chưn và cái chưn đó đúng goût của ta là được. Vẽ xong rồi, ta xoa tay khoan khoái tuyên bố là con rắn đã hoan hỉ tiếp nhận những cái chưn mà ta đã vẽ thêm: “Xà vương phen này đã chịu phép!” Nếu không có ta làm phước vẽ thêm cho cái “chưn ý nghĩa” thì Xà vương làm sao có cẳng để mà chạy jogging mỗi buổi sáng? Bởi lẽ đó, ta có thể tuyên bố: “Con rắn không có chưn (cái chưn ý nghĩa!) là con rắn phi chưn (!) ngay từ trong yếu tính của nó”. Hoặc giả, trước cái thời điểm (khúc quanh lịch sử!) sự vật (hữu thể) được ý thức phù thuỷ của ta dán cho một ý nghĩa, ta hiên ngang tuyên bố: “Hữu thể là phi lý, ngay từ trong yếu tính của nó! » Có ai dám nghi ngờ hay phản đối gì không?

Nhưng may mắn thay! Bỗng một phép mầu xuất hiện: Trên thinh không thình lình vang lên một tiếng nổ rợp trời. Rồi chợt có một Ý thức tràn đầy từ tâm độ lượng cỡi trên đám mây ngũ sắc chói loà từ từ giáng lâm. Ý thức mở thần nhãn nằm ngay giữa trán cao rộng phóng hào quang chiếu rọi “Hữu thể phi lý” (sỏi đá rong rêu), trong lòng vô cùng thương xót. Đoạn Ý thức nghiêng chiếc hồ lô mầu nhiệm của mình trút ra một Ý nghĩa chói ngời và hỉ xả bố thí cho “Hữu thể phi lý” để làm phước. “Hữu thể phi lý” hoan hỉ quỳ xuống tiếp nhận ý nghĩa, đoạn cúi rạp người đảnh lễ và chắp cả hai tay mình lên trán mà lạy như tế sao. Bèn cất tiếng tán thán để hồi hướng công đức của Ý thức từ bi rối rít. Và kể từ đó “Hữu thể (hết) phi lý” cùng vợ con sống một cuộc đời lai láng tràn trề ý nghĩa, không biết để đâu cho hết! Cái trò ảo thuật này là tuồng ruột của cái tâm phô diễn ngã mạn. “Tự biên tự diễn” một mình từ đầu đến cuối là nghề của chàng. Cái nghề của ý thức!

 

. Ý nghĩa vẽ rắn thêm chưn

 

Nói “Hữu thể phi lý ngay từ trong yếu tính của nó”, điều này không sai, nhưng cũng không đúng. Hữu thể vốn tự nó không có một cái lý riêng hay ý nghĩa riêng nào của nó hết – không giống như mỗi người chúng ta có một trái tim riêng của mình trong lồng ngực. Thường khi, trong đời sống, mỗi người chúng ta đề ra cho mình một mục tiêu để nhắm tới, và gọi nó là ý nghĩa cuộc đời (cho nó le lói?) Đối với một đầu óc duy lý, thì bất cứ việc gì cũng cần phải có một ý nghĩa thì nó mới chấp nhận. Bất luận ý nghĩa nào, miễn phù hợp với cảm quan của chàng là được. Bởi vậy, nếu ý nghĩa đó do chính chàng bày đặt ra thì quá good! Nhưng xét cho kỹ lại thì cuộc đời giống như một quả cầu pha lê trong suốt không màu. Ta sơn lên quả cầu đó một màu chọn theo ý ta, rồi gọi cái màu đó là ý nghĩa đời ta. Biết màu nào mới thực sự là ý nghĩa và thực sự thuộc về bản chất của cuộc đời, không tuỳ thuộc vào phê phán chủ quan của cá nhân? Nhưng tại sao ý nghĩa đó mà không là một ý nghĩa khác? Nếu cho rằng dựa trên những tiêu chuẩn “khách quan” để chọn lựa, thì tại sao lại chọn lựa những tiêu chuẩn đó? Rồi cứ thế mà lòng vòng.

Như đã nói, thường khi ta ban cho đời mình một ý nghĩa cho nó le lói là để tự trấn an. Đó là một nhu cầu tâm lý. Chẳng hạn như ta đặt cái mục tiêu “gặp gỡ Thượng đế” (và xưng hô mày tao với Người?) để cho cuộc đời mình có vẻ “siêu nhiên”. Như vậy, cái ý nghĩa minh chứng cho sự hiện diện của ta trên cõi đời này: “Đời tui rất là hữu ích và có mục đích, bởi vì nó có... mục tiêu”! Bèn vỗ ngực mình thùm thụp mà tuyên bố: “Bởi cuộc đời của tui có một ý nghĩa (do tui bày đặt ra) cho nên nó rất là... ý nghĩa”! Ý nghĩa gì? “Ý nghĩa cuộc đời”, dĩ nhiên. Nói gọn: “Cuộc đời tui nó rất là có ý nghĩa cuộc đời do tui ban cho!” Logique không chịu được! Hết cãi!

Tuy nhiên, hữu thể “không” có lý riêng, nhưng cũng đồng thời “chẳng phải không” có lý. Vừa “không” vừa “chẳng phải không”, đó là cách lập luận của Trung quán luận. Một đầu óc logique theo kiểu tây phương khó lòng mà nắm bắt được cách lập luận này. Sở dĩ ta tuyên bố “hữu thể phi lý” là tại vì ta muốn cho nó có một cái lý riêng nằm sẵn bên trong yếu tính của nó và thuộc về nó (như trái tim của ta thuộc về ta). Nhưng vì ta muốn một điều nghịch lý mà không thể được, nên bèn tuyên bố “hữu thể không có lý (riêng)”, và do đó mà hữu thể phi lý!

Cũng giống như con rắn vốn tự nó không có chưn, nhưng cũng chẳng phải (là nó) không có chưn. Nói con rắn có chưn cũng sai, mà nói nó không có chưn cũng không đúng. Bởi lẽ nếu cho rằng đúng thì ta cũng có thể kể ra một loạt: con rắn không có lông, con rắn không có sừng, con rắn không có túi, con rắn không có tóc, vân vân và vân vân... Tuy rằng nó không sai, nhưng mà nói như vậy là nói nhảm. Vì vậy, khi xét kỹ lại, ta sẽ thấy là cái “vấn đề chưn” không đặt ra cho con rắn. Không có gì bắt buộc nó phải có chưn hết ráo. Nó không có chưn là nó không có chưn, vậy thôi. Thí dụ như bất thần có ai đó trách “Tại sao trái xoài nó không có chưn?” Rồi tuyên bố liền tù tì sau đó: “Trái xoài phi chưn là trái xoài phi lý!” Bảo đảm ta sẽ nghĩ thầm: “Cha nội nầy bị chạm dây... là cái chắc!” Tương tự như đối với con rắn, ta cũng có thể phán: “Cái cây nó mù, nhưng cũng chẳng phải là cái cây nó mù. Nó không thấy đường, nhưng cũng chẳng phải là nó không thấy đường. Nó không có mắt, nhưng cũng chẳng phải là nó không có mắt”. Cũng bởi lẽ ta quá quen thuộc và nghiện ngập cái logique của mình (mọi con thú đều bắt buộc phải có chưn), nên ta muốn con rắn nó cũng phải có chưn (như mọi con thú khác) thì mới hợp lý, nghĩa là hợp với cái logique của ta. Nhưng vì muốn quái gở như vậy mà không thể được, ta bèn tuyên bố: “Con rắn (không có chưn) là phi lý, ngay từ trong yếu tính của nó”. Có chưn là có lý, không chưn là phi lý, giản dị như vậy thôi. Con rắn không có chưn là tại vì sự tiến hoá đã đưa đẩy nó như vậy, chớ không phải tại vì cái lý do “ngẫu nhiên” hoặc vì cái lý do phi lý (phi lý mà lại là lý do!) mà nó không có chưn. Tuyên bố “Con rắn không có chưn (ý nghĩa) là phi lý” cũng giống như phán rằng: “Đồng hồ không người lái là phi lý”. Hoặc: “Giữa trời không nở hoa sen là phi lý”. Ai phi lý? Có biết đâu ta đã quên rằng chưn rắn – ý nghĩa là cái chuyện hoàn toàn hoang tưởng. Hoang tưởng tới mức phi lý!

 

. Cogito hay “ăn gatô”?

 

Như vậy, “phi lý” là vấn đề của ta và do ta bày đặt ra, chớ không phải là vấn đề (yếu tính) của con rắn (hay nói chung là của hữu thể). Bởi lẽ đó, tuyên bố rằng “Hữu thể phi lý, hữu thể không có ý nghĩa” thì cũng giống như là tuyên bố “con rùa không có lông, con thỏ không có sừng, con rắn không có chưn, trái xoài không có cẳng”... vậy thôi. Đó chỉ là những niệm khởi trùng trùng của cái tâm mê lầm, chấp trước, cái tâm vọng hiện. Sở dĩ cái tâm nó chấp trước (chấp vào ý nghĩa) nên khiến cho niệm khởi, rồi từ đó mà vấn đề nảy sinh, là để nó chứng minh rằng nó (cái tâm) thường trực có mặt và nó rất là năng động. Giống như một đứa con nít khoái “quậy” để cho mọi người chú ý tới nó. Cái kiểu: “Ta suy tưởng không ngừng, ta không ngừng khám phá ra những vấn đề “nhớn”, ta không ngừng quăng những câu hỏi “nhớn” lên không trung (rớt xuống u đầu!) Vậy ta rất là (đỉnh cao) trí tuệ!” Rất là le lói! Rất là nặng phần trình diễn. Đó là cái tâm phô diễn và ngã mạn. Thứ đến, nếu không còn một niệm nào sanh khởi nữa hết thì tâm trí nó cũng bị dập tắt theo. Vì tâm trí lo sợ mình bị diệt nên nó cứ khởi niệm không dứt, cứ trùng trùng niệm khởi để duy trì sự hiện hữu của mình: “Cogito ergo sum!”. “Tôi suy nghĩ, vậy tôi có!”. Và do đó, để cho đúng với cái logique cartésienne: “Nô cogito thì nô ergo sum”. Tuy nhiên, trong đời sống hằng ngày, cho dù có “nô cogito, ta vẫn ergo sum” như thường. Không tin, thử lấy kim nhọn đâm vào đít triết gia đang say ngủ thì biết. Nhưng nghĩ cho cùng thì chỉ có: “Ăn gatô, ergo sum!” là đúng hơn hết và chắc ăn hơn hết. “Đỉnh cao trí tuệ” mà nghe được cái khẳng định phàm tục này chắc chắn sẽ nổi giận đùng đùng, giận bầm gan tím ruột, giận tới mức bỏ ăn. Một cơn thịnh nộ tuyệt đỉnh siêu hình, nhuốm đầy màu sắc triết lý và thông minh, phóng ra bốn phía hào quang ngũ sắc chói loà lấp lánh (... quá cỡ thợ mộc!) Cho nó le lói lói le le lói!

Nãy giờ bàn luận dông dài về ba cái chuyện “ý nghĩa” với lại “phi lý” là bàn về những cái chuyện nguỵ tạo, những cái chuyện lẽ ra không nên có. Thì có khác chi là luận bàn về những cái chuyện không có. Không có mà vẫn bàn. Cũng rất hào hứng giống như là bàn về ba cái chuyện lông rùa sừng thỏ. Rốt cuộc, cũng chỉ là hý luận mà thôi.

Tuy nhiên, vì rùa thỏ vẫn hãy còn đó nên thử bàn thêm chút nữa về cái chuyện không có cho nó rốt ráo. Tuyên bố: “Ngay từ trong yếu tính của mình, hữu thể phi lý, hữu thể không có ý nghĩa”. Nhưng một khi đã nói tới những cái mà hữu thể không có rồi thì là nó vô cùng. Chẳng hạn như: “Hữu thể không có màu sắc, không có mùi vị, không có âm thanh, không có hương thơm, không có tình cảm, không có..., không có..., không có...” Biết chừng nào mới kể hết ra cho được những cái mà hữu thể không có? Nếu bây giờ, tuyên bố: “Ngay từ trong yếu tính của mình, hữu thể không có màu sắc, vậy hữu thể phi lý”, có ai chấp nhận chăng? Hoặc tuyên bố: “Vì hữu thể không có màu sắc nên nó không sắc màu”, tương tự như là đã tuyên bố: “Hữu thể không (tự) có lý nên nó phi lý”, hoặc: “Hữu thể không (tự) có ý nghĩa nên nó vô nghĩa”! Quá logique! Không phản bác vào đâu được. Đúng là nói chuyện huề vốn!

 

. Ý niệm và logique của cái lỗ rún

 

Trở lại cái buồn nôn của Roquentin. Thoạt tiên, cái rễ cây có đó. Nó thực sự hiện hữu đầy đủ trong tất cả cái nghĩa vật chất của nó. Chợt có người tới ngó nó lom lom, rồi chiếu rọi ý thức của mình lên nó. Rồi vì không lý giải được sự hiện hữu của nó nên xao động. Một khi ta bị xao động rồi thì cái tâm ta nó vọng hiện, và do đó mà niệm niệm sanh khởi. Từ đó phát sinh ra cái ý niệm ý nghĩa, rồi kế đến là ý niệm đối nghịch của nó là phi lý theo cái logique nhị nguyên của ta.

Khởi đầu, ý niệm chỉ là một pháp ở dạng thức trừu tượng. Nhưng khi ta bắt đầu khảo sát, suy diễn và thuyết lý về nó rồi thì ý niệm dần dần khoác lên mình nó những lớp thịt da hư giả. Rồi cứ thế mà ý niệm tiếp tục tăng trưởng, cho tới lúc tưởng chừng như nó chuyển sang dạng thức cụ thể và trở thành có thiệt: một thực thể (tưởng chừng như) có “chất bột” rắn chắc không thua gì cái rễ cây. Ý niệm ý nghĩa / phi lý cũng giống như là một cái tin đồn. Cứ đồn riết rồi tin chắc cái chuyện đồn đãi là có thiệt. Hồi Đệ nhị Thế chiến, Hitler nghe theo cái tin đồn là chắc chắn quân Đồng minh thế nào cũng đổ bộ ở Pas-de-Calais nên đã dồn hết quân lực và chiến xa ở địa điểm này để chận đánh. Dè đâu Đồng minh lại đổ bộ ở Normandie! Hậu quả: Hitler đã đại bại và tự tử chết, chết vì một cái tin đồn không có thiệt. Cũng như đã có vô số người đã chết vì một cái ý niệm không đâu, một lý thuyết không tưởng, một chủ nghĩa hoang tưởng sai lầm nào đó. Hoặc cũng giống như một người mắc chứng tâm lý “huyền thoại” (mythomane), cứ đội nón trái ấu, đút tay dưới áo và ngày đêm săm soi bóng mình trong gương, và cuối cùng tin thiệt mình là Nã phá luân đệ nhứt. Rồi ra ngoài xa lộ Biên Hoà kéo quân con nít ở truồng và chiến xa ba bánh cà tàng... đi đánh Nga ở miệt Cà Mau!

Ý niệm trở thành có thiệt cho tới mức đối với một đầu óc duy lý, các ý niệm trừu tượng trở nên còn quan trọng hơn là cái rễ cây cụ thể hiện hữu lù lù trước mặt. Giờ đây, đối với đầu óc duy lý, các ý niệm “ý nghĩa” và “phi lý” đã trở nên còn quan trọng hơn là cái “hữu thể” rễ cây. Trong cách thức biến chuyển và tạo tác của mình, ý niệm cũng giống như là loại dây leo từ từ lớn lên, bò quấn chằng chịt, và cuối cùng siết chết cái thân cây đã khứng chịu làm giàn cho nó leo. Đó là cái cực kỳ nguy hiểm của hý luận và ngụy biện: sự vọng chấp tột bực sẽ đưa tới cuồng tín.

Tự đời đời kiếp kiếp, trong Trời đất vạn pháp vốn nó Như vậy, không có nghĩa, cũng chẳng phải không có nghĩa. Không hề có cái gì thực sự là cái “ý nghĩa” cả. Thực sự trong cái nghĩa “tự nó thực có”, tự nó có thực tướng. Ý nghĩa và phi lý chỉ là hoang tưởng, hoàn toàn do ta bày đặt ra, hoàn toàn do ta nguỵ tạo ra.

Như trái đất nó quay, thì nó quay như vậy, chẳng ý nghĩa, cũng chẳng không ý nghĩa. Như loài khủng long xuất hiện, con khủng long có đó, nó chẳng ý nghĩa, cũng chẳng không ý nghĩa. Nó xuất hiện rồi nó tuyệt chủng. Như vậy đó, chẳng ý nghĩa, cũng chẳng không ý nghĩa. Điều đó thuộc về đời sống của Trái đất. Đơn giản vậy thôi. Loài khủng long không tuyệt chủng để cho loài có vú vươn lên. Đó chỉ là do nhơn duyên mà sinh diệt. Nhưng tiến tới Bát nhã thì trong “tướng không” chẳng có sinh, cũng chẳng có diệt: Vạn pháp chỉ là vô thường. Chẳng có pháp nào sinh ra, chẳng có pháp nào diệt đi. Chỉ có một dòng biến dịch bất tận, vô thủy vô chung. Các pháp cứ thế mà biến hoá lăn trôi hoài hoài.

Và loài có vú vươn lên cũng không phải để cho giống homo xuất hiện. Đó chỉ là cách diễn giải do con người bày đặt ra nhằm hợp lý hoá cái vận hành của Trời đất, sao cho nó phù hợp với cái logique, cái logique của con người dĩ nhiên! Hợp lý hoá để có thể nhờ đó mà ban cho sự vận hành của Trời đất một ý hướng, một dự án, một phương hướng, một mục tiêu, một cứu cánh, để cuối cùng dán cho sự vận hành đó một ý nghĩa (do ta bày đặt ra), một ý nghĩa mà tự nó không hề có (hoặc không bao giờ ai biết được). Trời đất vận hành theo cái lẽ của Trời đất. Cái lẽ này không mắc mớ gì tới cái logique của con người hết ráo. Cũng như một ông già 90 tuổi không thể nào hành động theo cái logique của thằng lỏi 5 tuổi, và lăn ra nằm vạ khi bị trái ý. “Trời chẳng chìu lòng người!”, con người thường hay than thở làm như đó là một điều bất hạnh. Nhưng nghĩ kỹ lại, đó là một điều rất tốt đẹp và may mắn cho tất cả muôn loài. Thử tưởng tượng nếu Trời chìu lòng Tần Thủy Hoàng, chìu lòng Hitler, Staline, chìu lòng Pol Pot, Bush con! Ngay cả cái rễ cây nó không mắc mớ gì hết tới cái logique cartésienne hay cái triết thuyết siêu đẳng nào đó của con người. Cái rễ cây nó có cái logique của cái rễ cây. Con người léo nhéo à? Thì “Đi chỗ khác chơi! Hãy xê ra cho người ta mọc! Và chớ có quên bê cái phi lý của ông theo!”

Con người có thói quen đem cái lỗ rún của mình ra mà làm chuẩn cho trăng sao. Và đem cái “đỉnh cao trí tuệ” của mình ra mà đo lường Trời đất. Nhưng than ôi! Cái lỗ rún của con người thì nó méo tứ tung, còn cái trí tuệ của con người thì nó mê lầm không dứt. Trời đất không hề đòi hỏi và cũng không hề cần đến một ý nghĩa nào đó do con người ban phát để vận hành hết ráo. Trời đất vận hành tự đời đời kiếp kiếp, từ lúc chưa có con người (thì lấy ai mà ban phát ý nghĩa?). Con người chỉ mới xuất hiện ở sát na chót cùng của vũ trụ. Không có một hữu thể nào, không có một vật nào, không có một pháp nào cần tới con người (hay ý thức nào đó) ban cho một cái nghĩa, một cái tên, một cái giả danh, một cái lý do hiện hữu, một cái ý nghĩa hiện hữu gì hết ráo!

Nói “sự vật, mọi pháp không hề có ý nghĩa, nhưng cũng chẳng phải vô nghĩa” bởi lẽ “ý nghĩa” chỉ là một ý niệm, một vấn đề do con người nguỵ tạo ra. Chớ chẳng phải là sự vật, mọi pháp nó vô nghĩa, nó phi lý, hay là nó cái chi chi, nó phi cái chi chi hết ráo. “Ý nghĩa” và “phi lý” là những ý niệm do con người nguỵ tạo ra như là một cái “tiểu xảo” (như những ký hiệu toán học trong một phương trình), nhằm để chứng minh một điều gì đó mà mình cho là hợp lý, là đúng. Hoặc chỉ đơn giản vì bởi Trí tuệ (đỉnh cao!) nó muốn biểu diễn cái trò “ban phát ý nghĩa / phi lý”, như một Đấng “Thượng đế bỏ túi”. Cho nó le lói với Trời đất. Le lói với đời sống. Le lói với thiên hạ. Vậy thôi! Khi dùng ý thức của mình để từ chối ban phát ý nghĩa hoặc lý do hiện hữu cho một sự vật nào đó là “Thượng đế bỏ túi” đã sử dụng quyền năng siêu nhiên của mình để mà “hư vô hoá” (néantisation, chữ của Sartre) sự vật(!) Tuy nhiên, mặc dù đã bị hư vô hoá, nhưng nếu chẳng may sự vật từ trên không trung rớt xuống trúng cái “đỉnh cao trí tuệ” thì bảo đảm là hiển nhiên Thượng đế bỏ túi sẽ vẫn bị u đầu và bị lủng túi như thường!

 

[còn tiếp]

 

 

Đã đăng:

L’existentialisme, Thuyết hiện sinh của Sartre là triết thuyết rất thịnh hành trong thập niên 1960. Buồn nôn, phi lý là thái độ rất thường thấy trong giới trí thức trẻ vào thời kỳ này. Lúc đó, người viết mới vào lứa tuổi 20 nên không rõ Thuyết hiện sinh là cái gì cho lắm. Bây giờ, hơn 40 năm sau mới có dịp trở lại tìm hiểu cái hiện tượng “buồn nôn, phi lý”, “rong rêu sỏi đá” của các bậc đàn anh mình thời trước... (...)
 
... Trước hết, cần minh định một điều: Khi đặt câu hỏi, khi đặt vấn đề mà không có giải đáp, có thể là đã đặt sai câu hỏi, hoặc đã ngụy tạo ra vấn đề ngay từ đầu. Triết học và siêu hình có rất nhiều vấn đề ngụy tạo. Chẳng hạn hỏi: “Tại sao (vũ trụ) khởi đầu lại có một cái gì, thay vì không có gì hết?” Đáp: “Phải có một cái gì để cho ông mới có chuyện để mà hỏi!” Cũng giống như “To be or not to be, that’s the question”, thay vì “that’s not the question”. Phải “to be” thì ông mới có “question” chớ... (...)

 

 

-------------------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018