thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Tại sao văn chương? [III]

 

Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm,
với sự hiệu đính của Hoàng Ngọc-Tuấn.

 

MARIO VARGAS LLOSA

(1936~)

 

Mario Vargas Llosa được trao giải Nobel Văn Chương năm 2010 trước hết với tư cách một người viết tiểu thuyết lớn, người đã “khắc họa những cơ cấu quyền lực”, “những hình ảnh sắc sảo về những cuộc phản kháng, nổi loạn và thất bại của cá nhân” trong xã hội hiện đại, như lời phát biểu của Hàn Lâm Viện Thụy Điển. Tuy nhiên, không nên quên Llosa còn là một cây bút đa thể loại (multi-genre writer). Ngoài truyện, ông còn viết kịch, viết kịch bản phim, viết báo, viết phê bình và tiểu luận văn học. Ở lãnh vực nào ông cũng có những thành tựu xuất sắc. Công trình phê bình của ông về Gabriel García Márquez (García Márquez: Story of a Deicide , 1971) — nguyên thủy là một luận án tiến sĩ, sau được in thành sách, dày trên 800 trang — cho đến nay vẫn được xem là cuốn sách sâu sắc nhất về tác giả cuốn Trăm năm cô đơn. Những cuốn sách của Llosa về Gustave Flaubert, (The Perpetual Orgy: Flaubert and “Madame Bovary” , 1975), về Jean-Paul Sartre và Albert Camus (Between Sartre and Camus, 1981), và về Victor Hugo (The Temptation of the Impossible, 2004) được đánh giá rất cao. Bên cạnh đó, Llosa còn viết rất nhiều tiểu luận. Theo Llan Stavans, giáo sư văn học tại Amherst College và là chủ biên cuốn tuyển tập văn học Latin (ကThe Norton Anthology of Latino Literature), sự nghiệp văn học của Llosa có thể được chia thành hai giai đoạn: trước và sau khi ông ứng cử Tổng thống tại Peru vào năm 1990. “Trước, ông là một nhà văn và là một chính trị gia tập sự; văn chương là một ám ảnh. Sau, tiểu thuyết không còn làm ông bận tâm nhiều nữa. Thay vào đó, ông là một tiểu luận gia xuất sắc hàng đầu.”
 
Các bài tiểu luận văn học của Vargas Llosa là kết tinh của một tri thức uyên bác của một giáo sư đại học lâu năm và nổi tiếng và một sự nhạy cảm phi thường của một nhà văn bậc thầy. Dĩ nhiên, trong cách nhìn của ông về văn học không phải không có vấn đề, ví dụ sự nghi ngờ của ông đối với các phát minh kỹ thuật mới gắn liền với sinh hoạt văn học trên thế giới trong những năm gần đây. Tất cả những ưu và khuyết điểm ấy có thể dễ dàng được nhìn thấy trong bài tiểu luận “Tại sao văn chương” dưới đây.
 
Bài tiểu luận này khá dài, chúng tôi xin dịch và đăng nhiều kỳ.
 
Phan Quỳnh Trâm

 

_______

 

 

TẠI SAO VĂN CHƯƠNG? [III]

 

Các phương tiện truyền thông thính thị cũng không được trang bị để có thể thay thế văn học trong việc dạy con người sử dụng một cách tự tin và khéo léo những khả tính phong phú phi thường mà ngôn ngữ hàm chứa. Ngược lại, những phương tiện truyền thông thính thị có khuynh hướng hạ thấp ngôn từ xuống mức độ thứ cấp so với hình ảnh, vốn là thứ ngôn ngữ tiên khởi của những phương tiện truyền thông này; và hạn chế ngôn ngữ vào việc diễn đạt bằng lời nói, đến mức tối thiểu cần thiết, rời xa khỏi phương diện văn bản bằng chữ viết của nó. Đánh giá một bộ phim hoặc một chương trình truyền hình có tính “văn chương” là một cách bày tỏ lịch sự để nói rằng nó nhàm chán. Vì lý do này, các chương trình văn học trên đài phát thanh hoặc trên đài truyền hình hiếm khi thu hút được quần chúng. Theo như tôi biết, trường hợp ngoại lệ duy nhất cho quy luật này là chương trình Apostrophes của Bernard Pivot ở Pháp. Và điều này khiến tôi nghĩ rằng văn chương không chỉ là điều kiện thiết yếu để có được một kiến thức đầy đủ và sự tinh thông ngôn ngữ, mà số phận của nó còn vĩnh viễn gắn liền với số phận của sách in, cái sản phẩm kỹ nghệ mà nhiều người hiện nay tuyên bố là đã hết thời.

Điều này làm tôi nhớ đến Bill Gates. Cách đây không lâu ông đã đến Madrid và ghé thăm Viện Hàn Lâm Hoàng Gia Tây-ban-nha sau khi viện này tham gia vào một dự án chung với Microsoft. Bên cạnh những điều khác, Gates đã cam đoan với các thành viên của Viện Hàn Lâm rằng chính ông sẽ bảo đảm rằng ký tự “fl” không bao giờ bị gỡ bỏ khỏi phần mềm máy computer — một lời hứa khiến cho 400 triệu người nói tiếng Tây-ban-nha ở khắp năm châu thở phào nhẹ nhõm, bởi sự loại bỏ một ký tự quan trọng như vậy khỏi không gian mạng sẽ gây ra nhiều vấn đề to lớn. Tuy nhiên, ngay sau khi bày tỏ một sự nhượng bộ ưu ái đối với tiếng Tây-ban-nha, và ngay cả trước khi rời khỏi khuôn viên của Viện Hàn Lâm, Gates lại thú nhận trong một cuộc họp báo là ông mong sẽ đạt được mục tiêu cao nhất của ông trước khi ông qua đời. Mục tiêu ấy, ông giải thích, là đặt dấu chấm hết cho giấy viết rồi sau đó là sách in.

Trong cách phán đoán của Gates, sách là những vật thể đã lỗi thời. Ông đưa ra lập luận rằng màn hình máy computer có thể thay thế giấy trong mọi chức năng mà trước nay giấy đã đảm nhiệm. Ông còn nhấn mạnh rằng, chẳng những ít phiền hà hơn, máy computer còn chiếm ít không gian hơn, dễ dàng vận chuyển hơn; và đồng thời việc truyền tải tin tức và văn chương bằng những phương tiện truyền thông điện tử này, thay vì báo giấy và sách in, sẽ có cái lợi về môi sinh trong việc ngăn chặn sự phá huỷ rừng cây, một tai hoạ vốn là hậu quả của kỹ nghệ giấy. Người ta sẽ tiếp tục đọc, Gates trấn an các thính giả của ông, nhưng họ sẽ đọc trên màn hình máy computer, và nhờ vậy môi trường sinh thái sẽ có nhiều chất diệp lục hơn.

Tôi không có mặt để nghe bài diễn văn ngắn ấy; tôi chỉ biết các chi tiết từ báo chí. Nếu tôi có mặt ở đó, chắc hẳn tôi đã la ó phản đối Gates khi ông tuyên bố một cách sỗ sàng cái ý định gửi thẳng tôi và các đồng nghiệp của tôi, những người viết sách, vào hàng ngũ những người thất nghiệp. Và tôi sẽ tranh cãi một cách quyết liệt đối với sự phân tích của ông ấy. Liệu màn hình có thể thay thế sách trên mọi phương diện? Tôi không chắc. Tôi hoàn toàn nhận thức được cuộc cách mạng to lớn mà những công nghệ mới như Internet đã đem lại trong các lãnh vực truyền thông và chia sẻ thông tin, và tôi thú nhận là Internet đã cung ứng sự hỗ trợ vô giá hàng ngày cho công việc của tôi; nhưng lòng biết ơn của tôi đối với sự tiện lợi vô ngần ấy không bao hàm một niềm tin là màn hình điện tử có thể thay thế cho giấy viết, hay việc đọc trên một máy computer có thể thay thế cho việc đọc văn chương. Đó là một hố thẳm mà tôi không thể vượt qua. Tôi không thể chấp nhận cái ý tưởng rằng một hành động đọc mang tính phi thiết thực hay phi thực dụng, một hành động [thuần tuý thưởng thức văn chương] không nhằm tìm kiếm thông tin hay một sự thông tri hữu dụng và cấp thiết nào cả, vốn có thể đạt được bằng việc đọc một cuốn sách in, mà lại cũng có thể nắm bắt trên màn hình máy computer sự hoà nhập của những giấc mơ và những khoái lạc của ngôn từ với cùng một cảm nhận riêng tư, cùng một sự tập trung của trí óc và một sự cô liêu trong tâm linh như thế.

Có thể thành kiến này là hệ quả của sự thiếu thực tập, và của mối liên quan dài lâu của văn chương với sách in và giấy viết. Nhưng mặc dù tôi thích lướt mạng để xem tin tức thế giới, tôi sẽ không bao giờ mở màn ảnh ra để đọc một bài thơ của Gongora hay một cuốn tiểu thuyết của Onetti hay một bài tiểu luận của Paz, bởi vì tôi chắc chắn rằng hiệu quả của việc đọc bằng cách ấy sẽ không giống như đọc một cuốn sách. Tôi tin chắc, mặc dù tôi không thể chứng minh được điều đó, rằng với sự biến mất của sách in, văn chương sẽ phải chịu một tai hoạ nghiêm trọng, thậm chí một tai hoạ chí tử. Thuật ngữ “văn chương” sẽ không biến mất, dĩ nhiên. Nhưng nó gần như chắc chắn sẽ được dùng để biểu thị một loại văn bản khác xa với những gì hôm nay chúng ta hiểu về văn chương, cũng như những tập phim tình cảm xã hội trên truyền hình khác xa với những vở bi kịch của của Sophocles và Shakespeare.

 

[còn tiếp]

 

----------------
Nguồn: Mario Vargas Llosa, “Why Literature?” New Republic, 05/14/2001, Vol. 224, Issue 20.

 

 

------------

Đã đăng:

Tại sao văn chương? [I]  (tiểu luận / nhận định) 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Trong thời đại của chúng ta hiện nay, khoa học và kỹ thuật không thể đóng một vai trò nhất quán, chỉ vì sự phong phú vô tận của kiến thức cũng như tốc độ tiến hoá của nó đã dẫn đến sự chuyên môn hoá và những điều khó hiểu của nó. Nhưng văn chương đã, đang, và cho đến chừng nào nó còn tồn tại, sẽ tiếp tục là một trong những mẫu số chung của kinh nghiệm nhân sinh qua đó loài người có thể nhận biết chính họ và có thể tương thoại với nhau, bất kể những khác biệt đến đâu chăng nữa về nghề nghiệp, về những dự định trong đời sống, về trú xứ địa lý và văn hoá, về hoàn cảnh riêng tư của từng người... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Tại sao văn chương? [II]  (tiểu luận / nhận định) 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Văn chương đưa chúng ta trở lại quá khứ và nối liền chúng ta với những con người của những thời đại đã qua, những con người đã đặt ra những câu chuyện, đã thưởng thức và đã mơ mộng qua những văn bản truyền lại cho chúng ta, những văn bản hôm nay cho phép chúng ta cũng thưởng thức và mơ mộng như thế. Cái cảm nhận mình là thành viên trong kinh nghiệm nhân sinh tập thể vượt qua thời gian và không gian này là thành tựu lớn nhất của văn hoá, và không có gì đóng góp nhiều hơn vào việc phục hồi nó trong từng thế hệ cho bằng văn chương... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Đôi khi tôi tự hỏi phải chăng viết văn là một sự xa xỉ tự kỉ trong những xứ sở như của tôi, nơi không có bao nhiêu người đọc và quá nhiều người là người nghèo và mù chữ, có quá nhiều bất công, và ở đó văn hoá là một đặc quyền cho số ít. Tuy nhiên những hoài nghi này chẳng bao giờ làm tắt tiếng kêu gọi cho tôi, và tôi luôn luôn vẫn viết ngay cả trong những giai đoạn mà việc kiếm sống thu hút phần lớn thời gian của tôi. Tôi tin rằng tôi đã làm đúng, bởi vì nếu, để văn học nảy nở mà trước tiên cần một xã hội lên tới trình độ cao, tới tự do, tới thịnh vượng và công lí thì văn học đã chẳng hề tồn tại... [Bản dịch của Nguyễn Tiến Văn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Khi còn trẻ, tôi rất mê đọc Sartre. Tôi cũng đọc các tiểu thuyết gia người Mỹ, đặc biệt của thế hệ lạc loài — như Faulkner, Hemingway, Fitzgerald, Dos Passos — nhất là Faulkner. Trong số các tác giả tôi đọc khi tôi còn trẻ, Faulkner là một trong số ít những người vẫn còn có ý nghĩa rất lớn đối với tôi. Tôi chẳng bao giờ thất vọng khi đọc lại ông, như cái cách mà tôi vẫn thỉnh thoảng cảm thấy khi đọc lại Hemingway, chẳng hạn. Tôi cũng sẽ không đọc lại Sartre vào lúc này. So với mọi thứ tôi đã đọc từ thuở đó đến nay, thì tác phẩm hư cấu của Sartre có vẻ đã lỗi thời và đã mất đi phần lớn giá trị của nó... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính và chú thích của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Tôi chưa bao giờ có cảm giác rằng tôi đã quyết định một cách duy lý, một cách lạnh lùng, để viết một cái truyện. Trái lại, những sự kiện hoặc những con người nào đó, đôi lúc những giấc mơ hay những gì đọc được trong sách vở, bất ngờ bám lấy tôi và đòi hỏi sự lưu tâm. Đó là lý do tại sao tôi nói rất nhiều về tầm quan trọng của những yếu tố hoàn toàn phi lý của công việc sáng tạo văn chương. Tôi tin rằng sự phi lý này cũng phải được chuyển tải đến người đọc. Tôi muốn những cuốn tiểu thuyết của tôi được đọc như cách tôi đọc những cuốn tiểu thuyết mà tôi yêu thích... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính và chú thích của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Tôi không bao giờ biết khi nào thì tôi sẽ kết thúc một câu chuyện. Một mẩu chuyện tôi tưởng chỉ mất vài tháng đôi khi có thể mất vài năm để hoàn thành. Đối với tôi một cuốn tiểu thuyết dường như chỉ hoàn thành khi tôi cảm thấy rằng nếu tôi không kết thúc nó sớm, nó sẽ vượt qua khỏi tôi. Khi đã đạt đến độ bão hoà, khi tôi thấy đã đủ, khi tôi không còn chịu đựng được nữa, thì câu chuyện kết thúc... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính và chú thích của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Lúc đầu có điều gì đó rất mơ hồ, một trạng thái cảnh giác, một điềm báo, một điều gây thắc mắc. Một cái gì đó tôi nhận ra trong cõi mù mịt và chập chờn quanh tôi khiến tôi chú ý, tò mò, và phấn khích, và rồi tự nó biến thành công việc, những thẻ ghi chú, bản tóm tắt cốt truyện. Rồi đến khi tôi có cái sườn truyện và bắt đầu sắp đặt mọi sự việc theo trật tự, thì một điều gì đó rất tản mạn, rất mơ hồ vẫn còn lởn vởn. Giây phút “bừng sáng” chỉ xảy ra trong khi làm việc... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính và chú thích của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Một số người xem văn chương như là một sinh hoạt bổ sung hoặc trang trí cho một cuộc đời vốn dành để theo đuổi những thứ khác hay thậm chí như một cách để đạt được thanh thế và quyền lực. Trong những trường hợp đó, có một sự tắc nghẽn, đó chính là văn chương đang trả thù chính nó, nó không cho phép bạn viết với một chút tự do, táo bạo hay độc đáo nào cả. Đó là lý do tại sao tôi nghĩ rằng việc dấn thân hoàn toàn vào văn chương là điều rất quan trọng... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính và chú thích của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Tôi nghĩ tiểu thuyết, như một thể loại, thiên về sự thái quá. Nó có khuynh hướng tăng trưởng nhanh chóng, cốt truyện phát triển như một căn bệnh ung thư. Nếu tác giả theo đuổi mọi đầu mối của cuốn tiểu thuyết, nó sẽ trở thành một khu rừng rậm. Tham vọng kể toàn bộ câu chuyện là đặc tính cố hữu của thể loại này. Mặc dù tôi luôn cảm thấy đến một thời khắc nào đó bạn phải giết chết câu chuyện để nó không kéo dài vô tận, tôi cũng tin rằng việc kể chuyện là một nỗ lực để đạt tới cái lý tưởng của cuốn tiểu thuyết “trọn vẹn” ấy... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính và chú thích của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Để hư cấu, tôi luôn phải bắt đầu từ một hiện thực cụ thể. Tôi không biết điều đó có đúng với tất cả các tiểu thuyết gia khác hay không, nhưng tôi luôn cần một bệ nhún của hiện thực. Đó là lý do tại sao tôi phải nghiên cứu và tham quan những nơi chốn xảy ra sự kiện, chứ không phải vì tôi chỉ muốn tái tạo hiện thực. Tôi biết điều đó là bất khả. Ngay cả khi tôi muốn tái tạo hiện thực thì kết quả cũng chẳng hay ho chút nào, nó sẽ là một điều gì hoàn toàn khác... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính và chú thích của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2010] ... Tôi nghĩ điều quan trọng là các nhà văn tham dự, đưa ra những phán đoán, và can thiệp, nhưng đồng thời không để chính trị xâm nhập và phá hoại lĩnh vực văn học, địa hạt sáng tạo của nhà văn. Khi điều đó xảy ra, nó giết chết nhà văn, làm cho anh ta chỉ còn là một kẻ tuyên truyền. Do đó điều cần thiết là anh ta phải đặt giới hạn cho những hoạt động chính trị mà không từ bỏ hoặc tự tước đi nhiệm vụ phát biểu ý kiến của mình... [Bản dịch của Phan Quỳnh Trâm, với sự hiệu đính và chú thích của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018