thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT [chương XVIII]

 

Đã đăng: [chương I-II] - [III-IV]

 

mười tám.

BIẾN TẤU

 

Để cho dễ hiểu, anh ta dịch hai tiếng địa chất ra nôm na là lòng đất. Nếu nói chuyện về lòng đất thì được, còn chuyện các loài chim, tôi đành chịu. Ngay từ phút mới gặp chúng tôi, tay kỹ sư địa chất đã tỏ ra chẳng mấy hứng thú về chuyện các loài chim. Đơn vị khảo sát địa chất của anh ta nằm ở thượng nguồn một con suối lớn. Rời đơn vị khảo sát địa hình sang đây, chúng tôi tiến đến gần con nước đầu nguồn. Tôi với nàng quyết định khi sang đây là sẽ vứt bỏ cái mác nhà điểu học đã cầm chân chúng tôi ở đơn vị của tay kỹ sư mê chim gần nửa tháng trời. Nhưng vị chỉ huy công trình, có lẽ bị vẻ đẹp của nhà điểu học nữ mê hoặc, đã giới thiệu khá kỹ với anh ta về hai chúng tôi. Có nghĩa tay kỹ sư địa chất tiếp tôi với nàng là tiếp những nhà nghiên cứu về chim. Quả tình bấy giờ tôi rất khâm phục nàng. Khi biết tay kỹ sư địa chất không mấy thích chuyện chim chóc, nàng đã lập tức chuyển tôi với nàng sang một địa hạt khoa học khác. Lúc đầu là chúng tôi lên rừng tìm dấu vết người tiền sử, sẵn dịp nghiên cứu thêm về các loài chim, nên người ta lại gọi chúng tôi là những nhà điểu học. Tôi có giật mình khi nghe nàng nói thế. Nhưng liền hiểu đi tìm dấu vết người tiền sử cũng có nghĩa là phải lặn lội khắp nơi, vào lúc đó thì nói thế là hợp lẽ nhất, vì nói thế là vừa giữ được thể diện của chúng tôi (thứ thể diện hình thành từ sự đùa cợt của nàng) vừa có thể nhờ tay kỹ sư ấy đưa chúng tôi đến bất cứ đầu nguồn sông suối nào, có nghĩa là nàng đã chuyển chúng tôi sang chính công việc của mình. Nhưng cũng kể từ giây phút ấy thì tay kỹ sư ấy bắt đầu tỏ ra chẳng tin chúng tôi là những người làm công việc nghiên cứu khoa học. Những ngày tôi và nàng theo đơn vị khảo sát đi hiện trường (khi thì ở ven bờ, khi thì ở lòng con suối lớn) anh ta chẳng hề đá động đến chuyện chim chóc lẫn chuyện người tiền sử, mà qua các lần chuyện trò, dường anh ta có ý muốn khai thác ở chúng tôi về những lĩnh vực thuộc đời sống con người đương đại. Anh ta có nói rất nhiều về công cuộc khảo cứu địa chất của mình, nhưng lắm khi, qua cách diễn đạt của anh ta thì dường như đó là những gì đang xảy ra trên mặt đất, chứ không phải trong lòng đất. Vào một ngày có nhiều mây đen vần vũ trên bầu trời mùa hạ, chúng tôi theo đơn vị của anh đến hố khoan ở lòng con suối đó. Một mẩu đất đá là sắp được lấy lên khỏi lòng đất. Nhưng trước khi nhìn thấy cái kết quả đáng vui ấy thì tay kỹ sư địa chất lại có vẻ chẳng mấy vui. Khi đã chạm vào tự nhiên thì chúng chẳng còn như chúng nữa. Anh ta nói. Tôi nói: như thế thì làm sao có được những kết luận khách quan về điều tra địa chất? Mọi kết luận trên đời này đều có tính xác suất, người ta còn tính tới chuyện một ngày nào đó thì vũ trụ sẽ co lại và nổ tung, nữa là... Anh ta bảo. Trong lúc tôi với nàng còn đang băn khoăn về kiểu nói năng có phần ảm đạm của anh ta thì mẩu đất đá đầu tiên trong ngày đã được lấy lên khỏi mặt đất. Đám đồ đệ của anh ta lập tức đặt những mẩu đất ấy vào những chiếc thùng gỗ được đóng theo kiểu dáng rất đặc trưng. Những mẩu đất ấy sẽ được chuyển đến viện nghiên cứu địa chất, quá khứ hỊn độn của đất sẽ được đem ra phanh phui trước con người. Tay kỹ sư nói. Có nghĩa con người sẽ dựng lên công trình thắp sáng của mình sau khi đã hiểu rõ lịch sử của đất ở vùng núi rừng này. Tôi nói. Anh ta bảo: thường là thế, nhưng lắm khi lại phải lặn ngụp trong thứ lịch sử không lời này. Tôi nói là mình chưa hiểu ý của anh ta. Còn nàng thì hỏi đấy có phải là biến tấu của khoa học về lòng đất hay không? Chính là câu hỏi có vẻ kỳ quặc này của nàng như một thứ chỉ dẫn để cuối buổi chuyện trò tay kỹ sư ấy đã bắt chúng tôi phải khai thật với anh ta chúng tôi là ai. Còn lúc ấy, thay vì trả lời câu hỏi của nàng, anh ta đã cho chúng tôi nghe một thứ biến tấu khác, biến tấu về nơi chôn nhau cắt rốn của anh ta. Vẻ kỳ quặc của câu chuyện là nằm trong dự án của những người đã chết. Đèo nào cao bằng đèo núi này, đất nào tốt bằng đất nơi đây, một năm làm ba năm ăn không hết. Cái dự án đã được cô đọng thành tiếng hát ru. Thế hệ ông cố của anh lớn lên trong tiếng hát ru này, hiểu nó như một lý tưởng cao siêu do tổ tiên đề ra, và phải chờ đến đời con cháu mình mới thực hiện nổi. Thế hệ ông cố anh thì ngang với thế hệ những nhà khoa học đương sống trong niềm cảm hứng trước những luật lệ vũ trụ do Newton đề xướng, và đương cãi nhau có phải loài người và loài khỉ là có chung một ông tổ hay không. Nếu bấy giờ có ai đem những chuyện ấy ra nói với những người thuộc thế hệ ông cố anh, thì cũng chẳng ai chịu nghe. Những chuyện ấy chẳng cần thiết đối với những người đang sống trên mảnh đất ngẩng đầu lên là thấy núi thấy đèo, ở mảnh đất mà chuyện cơm ăn áo mặc theo đúng nghĩa của nó vẫn còn phải nhờ đến sự cổ vũ của thi ca (Nói không đất nào tốt bằng đất ở đây chỉ là một cách cổ vũ.) Ông nội anh nói lại với cha của anh, cha của anh nói lại với anh, rằng thời ông cố anh, có những năm ăn toàn củ mài đào được ở ngọn núi có cái đèo cao đã đi vào thi ca. Có nhiều người đi đào củ mài vừa đi đến chân núi đã ngã xuống chết vì đói quá. Tất nhiên chẳng ai biết, mà có biết cũng chẳng để làm gì, là nhờ có luật vũ trụ hấp dẫn nên người chết mới có thể ngã xuống ở chân núi. Thế hệ ông nội anh vẫn lớn lên trong tiếng hát ru ấy, và tiếp tục ngẫm nghĩ về cái dự án ấy. Thế hệ ấy thì ngang với thế hệ các nhà khoa học đã thấy được tất cả các loài giống trên mặt đất này là có cùng nguồn gốc hữu cơ nguyên thuỷ. Ánh sáng của nền văn minh đương thời có soi rọi đến nơi này chứ không phải là không. Có nghĩa, thế hệ ông nội anh thấy mảnh đất của mình không nuôi nổi cây lúa, đã quyết định chuyển sang trồng các giống cây khác. Mới đầu là cây sắn. Rồi thấy đất không nuôi nổi cây sắn, thì chuyển sang cây bắp. Rồi đất cũng chẳng nuôi nổi cây bắp, nên chuyển sang trồng đậu trồng lang. Nói đất không nuôi nổi không có nghĩa trồng đâu chết đó, mà là cây trồng cho sản phẩm quá ít. Một năm làm, ăn vài tháng là hết. Vì thiếu nước thành đất trồng không thể nuôi nổi cây trồng. Biết vậy, chứ chẳng thể thay đổi được. Bởi vì trời không sinh ra con sông nào chảy qua đây. Mà cũng chẳng có chỗ nào để đắp hồ chứa nước được. Trong lúc nhiều nơi trên mặt đất này người ta thừa hưởng các thành quả văn minh một cách ngang nhiên, thì thế hệ ông nội anh vẫn sống trong chờ đợi những ngẫu nhiên. Trời sinh voi sinh cỏ là cách diễn đạt về sự chờ đợi này. Trong lúc chờ đợi cái ngẫu nhiên thì thế hệ ông nội của anh đã hạ sinh được thế hệ của cha anh. Thế hệ của cha anh thì ngang với thế hệ những nhà khoa học đã nhìn thấy được cái thế giới vật chất nhỏ bé đang chuyển động trong mỗi hạt lúa. Tất nhiên là những người sống ở mảnh đất ngẩng đầu thì thấy núi thấy đèo ấy chẳng thể hiểu nổi câu chuyện cao siêu này. Mà giả dụ có hiểu thì họ cũng cho đó là chuyện xa xỉ. Điều cốt tử họ muốn biết là làm cách làm sao cho đất ở đây nuôi nổi con người. Dường như thế hệ của cha anh có ý lờ đi cái dự án của tổ tiên. Đồng ruộng thưa dần người cày bừa. Không phải nền văn minh đô thị có sức hút đối với những người thuộc thế hệ của cha anh. Có một làn sóng người rời đồng ruộng quê anh kéo đến các đô thị thật. Nhưng đó là sức hút của đám dân quê đối với văn minh đô thị. Có đến bao nhiêu người dân quê ùa đến đô thị, nhưng các đô thị đều bảo là chưa đủ. Nền văn minh này đang rất cần những đôi vai gồng gánh ở các bến xe bến tàu, ở các buổi họp chợ, đang rất cần những người làm được những công việc tuy là nhỏ nhưng không phải ai cũng làm được, như rửa nhà xí, rửa chén bát trong các nhà hàng, các khách sạn, hay đứng trông coi trẻ để cho các bà mẹ có đủ thời gian bảo dưỡng vẻ đẹp trời sinh của một phụ nữ. Nhưng cái nào hút cái nào chẳng phải điều quan trọng. Điều đáng nói là cái dự án cổ xưa vẫn tiếp tục gắn kết những con người ấy với mảnh đất của cha ông. Cuối cùng thì tất cả những người ra đi đều quay lại nơi ngẩng đầu lên là thấy núi thấy đèo, và hạ sinh được một thế hệ khác, thế hệ của anh, thế hệ đã viết lại dự án của tổ tiên. Thế hệ này thì ngang với thế hệ những nhà khoa học đang đứng lên vai các vị khổng lồ trước họ để tìm kiếm cái qui luật lớn nhất đang chi phối vạn hữu. Đây là thời đứng ở đầu bên này nghe thấy được và nhìn thấy được các thứ ở đầu kia mặt đất. Thời con người có những việc làm có thể sánh bằng các vị thần thánh cổ xưa. Và một hôm, trong không khí văn minh thần thánh này, những người có quyền cai quản cuộc sống ở mảnh đất ngẩng đầu thì thấy núi thấy đèo đã long trọng tuyên bố với mọi người là phải sửa lại dự án tổ tiên cho hợp với văn minh đương đại. Không phải một năm làm ba năm ăn không hết, mà một năm làm mười năm ăn không hết. Bằng cách nào? Có thể hiểu câu trả lời là một thứ quyết định luận trong tư duy kinh tế, mà cũng có thể hiểu đấy là thứ tình cảm thiêng liêng (nếu không muốn nói là lãng mạn) đối với mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Đây là thời hết thảy các chính phủ trên mặt đất này mở miệng là nói phải làm giàu đất nước, là thời mà sự giàu có được coi như niềm đam mê mới mẻ nhất trong việc trị nước của các vị nguyên thủ của hầu hết các quốc gia hiện đang có mặt trên bản đồ thế giới, là thời mà việc xuất nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia được coi như chìa khoá mở cửa vào cõi giàu có, bởi từ cân đưỊng cân thịt cho đến tri thức của con người đều được xem là hàng hoá. Thời đại đã tặng ta cách bẩy làng xóm lên. Những người có quyền cai quản cuộc sống ở mảnh đất ấy tuyên bố. Làng quê anh lúc bấy giờ tựa châu Âu sau khi Corpernic phát hiện ra cuộc chuyển động của vũ trụ, con người phải tự giải phóng mình khỏi ngu muội, còn ở làng quê anh thì tự giải phóng mình khỏi nghèo đói. Hết thảy mọi người đều bị cuốn hút vào bầu không khí của đêm trước cuộc cách mạng. Sắp xoá bỏ cái nghèo đói vẫn bám theo con người nơi đây tự thuở mới lập đất lập làng thì chẳng phải là cách mạng sao? Câu trả lời cho câu hỏi bằng cách nào để một năm làm mười năm ăn không hết là luận chứng kinh tế kỹ thuật được thảo bằng miệng: Hết thảy đất đai ở đây đều trồng mía để sản xuất đường xuất khẩu. Cũng chẳng cần phải bàn luận gì nữa vì hết thảy các giống cây khác đều đã được đem ra trồng trên mảnh đất ấy, chỉ trừ cây mía. Tựa cuộc hành quân ra trận. Mà cũng phải thôi. Đây là trận chiến chống thằng giặc nghèo đói đã chiếm đóng nơi này quá lâu. Người đi ngân hàng vay tiền làm vốn cho sản xuất. Tất nhiên đây là công việc làm trước tiên trong cuộc hành quân. Người đi tìm mua giống mía. Tất nhiên là phải tìm mua các giống mía mới được lai tạo. Người đi nhà máy chế biến đường để hợp đồng bán mía. Có vẻ đây là trận cuối cùng và có tính quyết định. Cuối cùng vì chỉ còn mỗi cây mía là chưa đem ra trồng ở đây, cuối cùng mà không đạt nữa thì cũng chẳng biết phải làm thế nào. Quyết định vì đây là thời điểm thế giới đang tiêu thụ đường rất mạnh. Có vẻ trời ủng hộ làng quê anh. Chẳng có điều tra thổ nhưỡng, nhưng quả tình là cây mía chịu đứng trên mảnh đất này. Khi thấy mía phát triển tốt, người ta liền làm những phép tính, cũng bằng miệng, và thấy rằng sản phẩm đường sẽ thu hoạch từ đồng ruộng mía đó sẽ gấp mấy chục lần các sản phẩm của các giống cây khác từng trồng ở đây. Do quá phấn khởi trước thứ tương lai tươi sáng, người bán bớt bò cày, người vét bán thóc gạo, có người còn dám tới ngân hàng để vay thêm, nói dối là vay thêm cho sản xuất mía đường, nhưng là để đi mua máy nghe máy nhìn về nghe xem cho biết thời cuộc, những thứ nếu không có cái tương lai tươi sáng ấy thì chẳng đời nào dám nghĩ tới. Khoảng trời phía trước vẫn bày ra một cách tốt đẹp. Có nghĩa toàn bộ ruộng mía vẫn trên đà phát triển. Cho đến một hôm, lúc sắp thu hoạch mía, thì người ta nghe thấy không phải tiếng máy, mà là tiếng thở dài, vọng lại từ cái nhà máy chế biến đường ấy. Đường ngoại nhập giá rẻ đang tràn vào thị trường trong nước. Toàn bộ những hợp đồng mua đường của nhà máy chế biến đường ấy đã bị khách hàng huỷ bỏ. Mà cũng phải thôi. Người ta phải mua đường giá rẻ hơn để khi bán lại thì lãi nhiều hơn. Và ở ngôi làng của anh, mới đầu là tiếng thở dài, y như tiếng thở dài ở cái nhà máy chế biến đường ấy, nhưng sau đó là tiếng khóc. Khi nhà máy chế biến đường huỷ bỏ những hợp đồng mua mía thì chẳng phải là tang tóc phủ lên đầu những người trồng mía ở mảnh đầt ngẩng đầu là thấy núi thấy đèo ấy sao? Cái cơ nghiệp coi như lớn nhất trong cuộc cơm áo vừ gầy dựng được đã ập xuống quá bất ngờ làm cho ai nấy đều cảm thấy như đang trong mơ. Nhà máy chế biến đường sẽ bồi thường thiệt hại theo cam kết của hợp đồng. Nhưng bắt kẻ đương hấp hối đi cứu một kẻ cũng đương hấp hối là điều không thể. Phải chờ. Người ta đã tìm đến tất cả những nhà máy chế biến đường có thể đến. Nhưng chỗ nào cũng trả lời phải chờ bán được số đường chưa bán được mới mua mía. Có trời biết chừng nào mới bán được mía. Bởi chẳng ai biết trên thế giới có bao nhiêu người ăn đường, và mỗi ngày thì ăn được bao nhiêu đường. Chỉ còn chờ. Nhưng cây mía lại sống theo qui luật của nó. Khi đất đai cho nó đủ lượng đường nhưng con người không dùng tới, thì đất đai lấy lại. Tức, mía vẫn sống, nhưng đường trong mía cứ vơi dần. Tình trạng ấy gọi là mía chạy đường. Không đủ sức chịu đựng khi ngày nào cũng nhìn thấy cơ nghiệp của mình đang sụm xuống một cách vô phương cứu chữa, người ta đành bảo nhau là phải đốt đi . Đồng mía cháy suốt mấy ngày đêm. Khi tay kỹ sư địa chất kể đến chỗ mía cháy, khói toả mịt trời, nàng rỉ tai tôi bảo là mình sắp chết ngạt mất. Trong lúc tôi đang lo lắng cho tình trạng của nàng, tay kỹ sư hỏi chúng tôi là ai, và lên rừng để làm gì? Cuối cùng thì cũng nghe được câu hỏi mà tôi với nàng vẫn chờ đợi suốt những ngày theo anh ta đi hiện trường khảo sát.

 

[còn tiếp]

 

_________
MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT là cuốn tiểu thuyết thứ sáu của Nguyễn Thanh Hiện [1. Những Tháng Năm Nghiệt Ngã - 2. Trở Lại Xương Quơn (NXB Văn Học, Việt Nam, in năm 2007) - 3. Vật Gia Bảo Của Một Dòng Họ - 4. Bên Này Trần Gian - 5. Người Đánh Cắp Sự Thật (NXB Văn Học, Việt Nam, in năm 2008) - 6. Một Cách Nói Khác Của Niềm Khao Khát - 7. Rốt Cuộc Thì Bọn Họ Là Ai?], sách gồm 38 chương, chưa nhà xuất bản nào in.

 

 

Đã đăng:

... Mặt đất này thì rộng lớn, và con sông nào cũng có chỗ bắt đầu của nó, mà các người đi tìm nguồn con sông nào? Ông hỏi. Tôi nói là con sông chảy qua quê nàng. Con sông quê của người mình yêu. Ông quảng diễn thêm câu nói của tôi. Rồi bảo hai chúng tôi có vẻ khăng khít nhau thế còn đi tìm nguồn con sông đó chi nữa. Tôi nói đó là bí mật của tình yêu. Hoá ra không phải chỉ tôi với nàng mới có bí mật của tình yêu. Đêm đó, nơi căn nhà lá ở giữa rừng, người coi rừng đã nói cho chúng tôi biết ông cũng có một bí mật của tình yêu... (...)
 
... Rằng từ khi loài người biết truyền những ý nghĩ cho nhau bằng máy móc thì thần không còn trực tiếp cai quản núi rừng, nhưng không phải là không để mắt đến chuyện con người, rằng trong cuộc chuyển lưu lớn lao của vạn hữu thì không phải hễ là thần thì nhìn thấy được sự thật của mọi sự, rằng ngày xưa, ngay chính bản thân vũ trụ cũng chưa biết mình do đâu mà có, thì lớp cha ông của thần quả đã cho rằng hễ là thần thì biết hết mọi sự, từ đó mới có chuyện toàn trị của các vị thần... (...)
 
... Xin chào bác homo sapiens! Đám đồng bào của ta nơi mặt đất đã bớt lạnh lẽo gọi ta là bác homo sapiens. Là homo sapiens, hay không là homo sapiens, thì có hệ trọng gì đâu. Bởi điều đáng nói là ta đã vượt qua cuộc thử thách lớn nhất trong trời đất, cuộc thử thách diễn ra hằng triệu triệu năm, để được thiên hạ trong trời đất gọi ta là con người... (...)
 
... Có cái gì là chẳng ngoi lên từ cõi hỗn mang? Một vùng trời đất âm thầm, từ đấy ngân vang những giai điệu nguyên sơ. Sáng tỏ và u uẩn. Ôm ấp và cô đơn. Mở và khép. Gặp lại và chia xa... Buổi ban đầu ấy là một cuộc lưu luyến kỳ cục giữa ngẫu nhiên và tất yếu. Ai đã ngang qua đất trời lãm thuý?... (...)
 
... Lại hỏi về cây thong dong. Thưa, có bao giờ thấy mặt trời mặt trăng vội vã đâu, nếu là biển, thì sáng tinh mơ, mặt trời trườn đi trên nước, nếu là bầu trời đêm có nhiều mây, thì mặt trăng ẩn hiện ở trong mây, cái cách như thế của mặt trời mặt trăng thì gọi là thong dong... (...)
 
Mùa thu năm ấy chúng tôi ngược về thượng nguồn một nhánh sông của con sông quê nàng. Và bị cầm chân ở ngôi làng ấy. Khoa học hiện đại dù đã phát hiện được bao nhiêu là luật lệ của trời đất, nhưng những con người ở ngôi làng ấy vẫn khăng khăng vị thần làng của mình là thần của tất cả các thần, là tổ thần, không có vị này thì không có người làng và cũng không có cả loài người... (...)
 
Quả tình mùa thu ở đây vàng một nỗi ám ảnh. Ám ảnh bởi một thứ quá khứ đã được tinh kết thành thứ từ vựng tinh tế, kiêu sa, và không phải cứ nghe thấy là hiểu. Ám ảnh bởi một thứ hiện tại được biểu lộ trong một diện mạo có vẻ minh bạch, nhưng không dễ gì cứ trông thấy là hiểu. Đúng là tôi với nàng không dễ gì rời khỏi một nơi chốn như thế... (...)
 
... Một người đàn ông nằm trên mặt đất, chắc là đã chết, trước mặt có con bò rừng đứng trong tư thế kỳ lạ, như đang sắp ngã xuống, ruột gan tràn ra bên ngoài, bên sườn có cắm một ngọn lao. Đó là nội dung một phiên bản tranh hang động thời tiền sử treo ở nhà vị trưởng tế... (...)
 
... Hãy nói cho tôi nghe là ngài căn cứ vào đâu để bảo đó là sự thật? Một văn bản bằng giấy ư? Hay một văn bản bằng đá? Mà chép trên giấy, hay trên đá, thì đều là ngôn ngữ của con người, ai dám bảo với ngài rằng ngôn ngữ ấy thuật lại đúng sự kiện đó, xin ngài hãy nhớ cho, khi ngài tham gia vào việc nói về sự kiện đó thì nó không còn là nó, mà sẽ hiện ra theo cái cách của ngài nói về nó... (...)
 
... Khi kể ra những sự tích đó, người làng muốn nói với chúng tôi, mà họ vẫn đinh ninh là những nhà báo của chính phủ, rằng cái gò hoang là bản gia phả chung của các dòng họ trong làng, rằng những thế kỷ đã trôi qua, các dòng họ đó vẫn giữ gìn bản gia phả đó như giữ gìn dòng máu tộc họ của mình... (...)
 
... Các vị đại diện nhà nước bắt đầu thay nhau nói, rằng cái gò hoang không phải là nghĩa địa, nghĩa địa sao lại không có mồ mả, mà chỉ là nghe kể lại rằng tổ tiên của dân làng đã chôn ở đó, nên việc yên nghỉ đó cũng chỉ là khái niệm, cũng như nói cái gò đó là gia phả chung của các dòng họ thì cũng là khái niệm, nói gọn lại, dẫu cái gò hoang đó không còn thì những khái niệm kia vẫn còn. Nhưng về chỗ này thì đám dân làng không dễ gì mủi lòng để các vị đại diện nhà nước biến mồ mả tổ tiên thành những khái niệm... (...)
 
... Ta phải nói thế nào với các người đây? Sự cư trú của con người trên mặt đất này thì có vẻ ngẫu nhiên. Chẳng ai muốn chọn những nơi nghèo nàn như ngôi làng ấy để sống. Mà chuyện ngẫu nhiên như thế xảy ra khắp nơi trên mặt đất này. Và bằng trí tuệ của mình, con người đã vượt qua được biết bao cái ngẫu nhiên để làm nên những cuộc đổi thay có tên là những nền văn minh nhân loại... (...)
 
... Nhưng nàng bảo để có nền văn minh đương đại, các nhà khoa học đã phải cống hiến cho nhân loại cả tinh thần lẫn thể xác của họ. Việc làm cái nhà máy thuỷ điện là thừa hưởng thành quả của văn minh đương đại, nhưng người chỉ huy công việc làm này lại nói về nền văn minh này theo ngôn ngữ của loài chim là điều chẳng thể chấp nhận. Bởi trong mối quan hệ giữa các loài trong hiện tại thì chỉ có loài người nói về loài chim, chứ không thể có chuyện loài chim nói về loài người... (...)
 
... Chúng tôi lại lặng đi trong giây lát. Trí tuệ con người lớn lao biết bao mà cũng nhỏ nhoi biết bao trước vẻ kỳ bí của tự nhiên. Nàng nói. Và khẽ rùng mình. Tôi cũng khẽ rùng mình... (...)

 

 

----------------

 

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018