thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT [chương XXIII]

 

 

hai mươi ba.

MỘT CUỘC ĐUỔI BẮT

 

Tôi và nàng dừng lại ở vùng đất ấy là để lấy sức cho một chuyến đi mới. Đang cuối hạ, nhưng trời đất có vẻ sang thu: âm ỉ trong màu nắng thứ nỗi buồn kỳ bí. Em cảm thấy có gì hơi khác thường đang xảy ra ở đây. Nàng nói. Tôi hỏi căn cứ vào đâu để nói thế. Nàng bảo ở trong ánh mắt những ông già bà già sắp từ giã thế gian. Chỉ mấy hôm sau thì chúng tôi rõ mọi chuyện.

Vào một ngày có lũ khỉ đùa giỡn trên cây còn lũ chim bồ chao thì làm như núi rừng là của chúng, một người đàn ông và một người đàn bà ngồi ở nơi gộp đá ấy nhìn trời đất đang chìm trong hoang dã. Làng xóm của ta là ở đây. Người đàn ông nói. Người đàn bà lấy một viên sỏi cuội vạch lên gọp đá như viết lên một lời thề. Như thế là lũ khỉ và lũ chim bồ chao phải chuyển vào trong rừng sâu. Bởi người đàn ông và người đàn bà đã mang vào đây những thành tựu của nền văn minh sắt của loài người: rựa và cuốc. Lúc bấy giờ thì cỗ xe lịch sử đã chuyển văn minh cơ khí đến nhiều nơi trên mặt đất, nhưng chuyện người đàn ông và người đàn bà là chuyện ở đây. Việc trồng trọt ở đây là theo phương thức cày bằng đao, trồng bằng lửa. Ông Adam và bà Eva của thời trồng trọt vừa đốt rừng làm đất trồng lúa, vừa sinh con đẻ cháu, và làm nên làng xóm. (Mới đầu chỉ có hai người -- những ông bà già ở đây đều nói với chúng tôi thế.) Cho đến một ngày, đám con cháu của họ đã chế ra được cái xe múc nước bằng tre gỗ để múc nước của con sông ấy đổ lên ruộng. Như thế là ruộng rẫy đã trở thành ruộng nước. Nhưng không phải nói múc nước là múc nước. Mà phải đốn cây rừng làm bờ đập ngăn nước con sông ấy lại, để cho chảy vào chỗ đặt xe nước. Như thế là cái bánh xe lịch sử đã chuyển nền văn minh lúa nước đến nơi đây. Cho đến một ngày thì đám con cháu ông Adam và bà Eva thời trồng trọt đã bỏ đi cái xe nước bằng tre gỗ và bỏ đi cái bờ xe nước làm bằng cây rừng, làm lại cái đập nước bằng xi măng cốt thép, để đưa nước con sông ấy lên ruộng đồng, biến đất trồng lúa một vụ thành hai ba vụ. (Những ông bà già ở đây không thể diễn tả lịch sử văn minh của loài người đã diễn ra ở đây. Họ chỉ nói theo cách nôm na, rằng nhờ trời phù hộ nên làng xóm ăn nên làm ra.) Cho đến một ngày, một người con trai, con cháu ông Adam và bà Eva thời trồng trọt, nhân danh là kẻ được hấp thụ nền văn minh hiện đại, rao giảng bài học về sự trồng trọt, coi như là được rút ra từ khoa nông nghiệp đương đại, rằng đất đai cũng tựa con người, phải ngủ nghỉ mới đủ sức làm lụng, tức phải rút ba vụ xuống còn hai vụ trồng trọt mỗi năm, rằng đất mà thở được thì sẽ cho nhiều thóc lúa hơn trước. Chẳng rõ văn bản khoa học về nông vụ là như thế nào, nhưng qua cách diễn đạt của anh ta, khoa học tựa cuốn sách ước. Muốn có ba tấn là có ba tấn. Mỗi vụ chỉ thu hai tấn nếu mỗi năm làm ba vụ. Nhưng sẽ thu ba tấn nếu mỗi năm chỉ làm hai vụ. Muốn có ba tấn là có ngay thôi. Dường như trong suy nghĩ con người luôn tồn tại hình ảnh một cuốn sách ước. Cho nên, khi nghe anh ta diễn tả như thế thì có quá nhiều người đang mơ ước sự thay đổi trong nghiệp cày cuốc lập tức hưởng ứng. Nếu chăm bón theo khoa học, không chừng mỗi vụ thu được bốn năm tấn, chứ chẳng phải là ba. Người ta vừa ước mơ, vừa nâng ước mơ của mình lên. Nhưng những người già sắp rời bỏ trần gian và những người chẳng còn thấy niềm mơ ước nào trong nghiệp cầm cày của mình thì bảo trời không còn phù hộ họ nữa. Cái lý của những người ấy là thuộc cách tính toán truyền thống: Làm hai vụ thì nhất định là thu ít thóc lúa hơn là làm ba ụ. Và, nếu làm ba vụ thì mỗi ngày ăn ba chén, nhưng làm hai vụ thì phải hạ xuống còn hai chén !

Dòng sông ấy, một phụ lưu nữa của con sông quê nàng, lại chứng kiến một sự cố nữa trong dòng chảy của văn minh nhân loại. Nếu những con người nhiều mơ ước mà thắng, thì mùa tới, đất sẽ được nghỉ ngơi, và theo người con trai ấy, sau đó đất sẽ sản sinh nhiều lúa thóc hơn xưa. Còn như những ông bà già sắp từ giã thế gian mà thắng, thì mọi thứ sẽ như cũ, tức, ngày vẫn hai bữa lưng lửng bụng, như người con trai ấy nói. Nó đang bị ma ám đó. Người cha của người con trai ấy nói với chúng tôi. Ma ông nói đây là nền văn minh đương đại. Tôi bảo, có bị khoa học ám ảnh thì cũng tốt thôi. Ông ta lập tức phản đối. Rằng con trai ông là đang bị thứ chức việc làng quỉ quái ấy ám ảnh. Sắp tuổi ba mươi, đã một vợ một con, đang chí thú cày cuốc thì bỗng được cử vào một khoá tập huấn viên trồng trọt, tập huấn viên đang cầm cày thì được triệu vào một khoá học cả lý thuyết cả thực hành, ví như học hỏi về một giống lúa nào đó, thì trước tiên phải nghe ông thầy giảng về giống lúa đó, rồi sau đó là phải đi xem tận mắt giống lúa đó ở một cánh đồng nào đó, không phải là xem không, mà còn được nghe những người trồng giống lúa đó nói về giống lúa đó, xong yên thì quay về, đem những gì nghe thấy truyền lại cho những người cầm cày khác, đích thị là một thứ học tâm truyền, và quả tình là phải dùng đến thứ từ Hán Việt là tập huấn viên mới diễn được thứ công việc dài ngoằn như thế, và nếu như cứ tiếp tục cày cuốc như thế thì chẳng sao, đằng này bỗng được cử đi học khoa học do nhà nước mở như thế, người con trai sắp tuổi ba mươi bỗng thấy mình trở nên quan trọng đối với cái thế giới anh ta đang sống trong đó. Thằng đó cứ tưởng là cả đời nó sẽ giữ cái chức tập huấn viên quỉ quái đó. Người cha của người con trai ấy nói với chúng tôi. Tôi bảo dù chỉ mới thu nhận được một ít hiểu biết về trồng trọt thôi, nhưng phải nói đấy là niềm tự hào của một người đang lam lụ với ruộng vườn. Tôi cố nói cho người cha hiểu được niềm hứng khởi của con trai mình. Nhưng ông ta nói con trai ông mới từ trong bụi nhảy ra mà đi nói chuyện khoa học thì quả là sự thế đảo điên. Những người nghĩ ngợi theo kiểu truyền thống quyết cho rằng chẳng thể có chuyện chỉ làm hai vụ mà lúa thóc lại nhiều hơn làm ba vụ. Nhưng ai đời khoa học đã bưng chén cơm đưa cho ăn, lại không ăn. Những người muốn có sự đổi đời lại nghĩ thế.

Tôi và nàng dừng lại ở vùng đất ấy đúng vào lúc sắp sửa làm vụ ba. Có nghĩa là vào thời điểm mà những người cầm cày ở đây đang đứng trước thứ chọn lựa có tính cách sinh tử. Thì chuyện thóc lúa đối với người cầm cày không phải chuyện sinh tử là gì? Một bầu không khí ngột ngạt nặng nề đang ập xuống xóm làng.

Những người cố giữ nếp cày cuốc truyền thống, kẻ đi mua sắm trạnh cày, lưỡi cày, người đẽo lại cái ách cày, cái náp cày. Sao? Không làm vụ ba, phải không? Những người tin vào khoa học thì cổ vũ nhau. Chưa có ai xuống đồng. Chỉ dòm chừng nhau. Nhưng chúng tôi cảm thấy như đang có một cuộc chiến đang xảy ra giữa những con người vốn là đồng điệu. Người cha của người con trai ấy đi làng trên xóm dưới, thuyết phục mọi người đừng bỏ vụ ba, nó là thằng điên, đừng nghe. Người cha nói về con trai mình, ông cố thuyết phục mọi người trong nỗi lo sợ về một hậu quả bi thảm có thể xảy ra với cả xóm làng lẫn con trai ông, lúa hai vụ thất thu, đói, có thể người ta sẽ giết chết con trai ông, kẻ rao truyền khoa học. Đã tận mắt nhìn thấy nơi nào làm hai vụ mà thu nhiều hơn ba vụ chưa? Tôi hỏi thử. Còn nàng thì hỏi có nơi nào đã thất bại trong việc chuyển đổi mùa vụ hay chưa? Anh chàng tập huấn viên chỉ cười thay cho việc trả lời những chất vấn ấy. Quả tình, ba mươi ngày thọ giáo văn minh đương đại, người con trai sắp tuổi ba mươi ấy chỉ có thể nối thêm vào kiến thức cày cuốc của mình một thứ hiểu biết nửa vời. Nhưng có lẽ là ước muốn đổi đời khiến chàng trai vốn lam lụ ấy cũng đi làng trên xóm dưới như cha mình, nhưng là để tuyên truyền cho khoa học. Chưa có bi thảm nào xảy ra với anh ta, nhưng lại xảy ra với chúng tôi. Thấy tôi với nàng trò chuyện với cả người con trai lẫn người cha của người con trai, cả hai phe theo và không theo khoa học đều tỏ ra bực tức. Đi tìm con nước đầu nguồn để làm cái quái gì? Tự dưng ở đâu đến xía vào công việc người ta? Những câu nói ấy đã đến tai chúng tôi. Tôi với nàng cứ nói thật là đang đi tìm con nước đầu nguồn con sông quê nàng. Nhưng mọi người chẳng tin, lại tỏ ra khinh bỉ, vì nghĩ chúng tôi đang là cái bung xung trong cuộc đối đầu của những người làng. Nàng thì mặc ai nói sao thì nói, muốn ở lại nơi ấy coi thử ai thắng ai. Cuộc chiến cũng sắp kết thúc, bởi những người chống đối việc chuyển đổi mùa vụ sẽ xuống đồng nay mai. Nàng nói. Tôi thì nghĩ phải để nàng nghỉ ngơi thêm sau lần thoát chết, nên đã chiều theo ý nàng. Nhưng vào một hôm trời yên biển lặng, anh chàng tập huấn viên đã thông báo cho chúng tôi biết là sắp xảy ra bão tố. Có lẽ do căng thẳng đầu óc, những ông bà già sắp từ giã thế gian đã trù tính nhau là sẽ kéo đến chỗ chúng tôi, dùng chổi để lùa chúng tôi ra khỏi làng. Hoảng quá, tối hôm ấy, bóng đêm vừa đổ xuống, tôi với nàng đã lẻn ra khỏi làng.

Chúng tôi rời vùng đất ấy trong lúc cuộc đuổi bắt cơm áo vẫn còn diễn ra dưới bầu trời văn minh đương đại.

 

[còn tiếp]

 

_________
MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT là cuốn tiểu thuyết thứ sáu của Nguyễn Thanh Hiện [1. Những Tháng Năm Nghiệt Ngã - 2. Trở Lại Xương Quơn (NXB Văn Học, Việt Nam, in năm 2007) - 3. Vật Gia Bảo Của Một Dòng Họ - 4. Bên Này Trần Gian - 5. Người Đánh Cắp Sự Thật (NXB Văn Học, Việt Nam, in năm 2008) - 6. Một Cách Nói Khác Của Niềm Khao Khát - 7. Rốt Cuộc Thì Bọn Họ Là Ai?], sách gồm 38 chương, chưa nhà xuất bản nào in.

 

 

Đã đăng:

... Mặt đất này thì rộng lớn, và con sông nào cũng có chỗ bắt đầu của nó, mà các người đi tìm nguồn con sông nào? Ông hỏi. Tôi nói là con sông chảy qua quê nàng. Con sông quê của người mình yêu. Ông quảng diễn thêm câu nói của tôi. Rồi bảo hai chúng tôi có vẻ khăng khít nhau thế còn đi tìm nguồn con sông đó chi nữa. Tôi nói đó là bí mật của tình yêu. Hoá ra không phải chỉ tôi với nàng mới có bí mật của tình yêu. Đêm đó, nơi căn nhà lá ở giữa rừng, người coi rừng đã nói cho chúng tôi biết ông cũng có một bí mật của tình yêu... (...)
 
... Rằng từ khi loài người biết truyền những ý nghĩ cho nhau bằng máy móc thì thần không còn trực tiếp cai quản núi rừng, nhưng không phải là không để mắt đến chuyện con người, rằng trong cuộc chuyển lưu lớn lao của vạn hữu thì không phải hễ là thần thì nhìn thấy được sự thật của mọi sự, rằng ngày xưa, ngay chính bản thân vũ trụ cũng chưa biết mình do đâu mà có, thì lớp cha ông của thần quả đã cho rằng hễ là thần thì biết hết mọi sự, từ đó mới có chuyện toàn trị của các vị thần... (...)
 
... Xin chào bác homo sapiens! Đám đồng bào của ta nơi mặt đất đã bớt lạnh lẽo gọi ta là bác homo sapiens. Là homo sapiens, hay không là homo sapiens, thì có hệ trọng gì đâu. Bởi điều đáng nói là ta đã vượt qua cuộc thử thách lớn nhất trong trời đất, cuộc thử thách diễn ra hằng triệu triệu năm, để được thiên hạ trong trời đất gọi ta là con người... (...)
 
... Có cái gì là chẳng ngoi lên từ cõi hỗn mang? Một vùng trời đất âm thầm, từ đấy ngân vang những giai điệu nguyên sơ. Sáng tỏ và u uẩn. Ôm ấp và cô đơn. Mở và khép. Gặp lại và chia xa... Buổi ban đầu ấy là một cuộc lưu luyến kỳ cục giữa ngẫu nhiên và tất yếu. Ai đã ngang qua đất trời lãm thuý?... (...)
 
... Lại hỏi về cây thong dong. Thưa, có bao giờ thấy mặt trời mặt trăng vội vã đâu, nếu là biển, thì sáng tinh mơ, mặt trời trườn đi trên nước, nếu là bầu trời đêm có nhiều mây, thì mặt trăng ẩn hiện ở trong mây, cái cách như thế của mặt trời mặt trăng thì gọi là thong dong... (...)
 
Mùa thu năm ấy chúng tôi ngược về thượng nguồn một nhánh sông của con sông quê nàng. Và bị cầm chân ở ngôi làng ấy. Khoa học hiện đại dù đã phát hiện được bao nhiêu là luật lệ của trời đất, nhưng những con người ở ngôi làng ấy vẫn khăng khăng vị thần làng của mình là thần của tất cả các thần, là tổ thần, không có vị này thì không có người làng và cũng không có cả loài người... (...)
 
Quả tình mùa thu ở đây vàng một nỗi ám ảnh. Ám ảnh bởi một thứ quá khứ đã được tinh kết thành thứ từ vựng tinh tế, kiêu sa, và không phải cứ nghe thấy là hiểu. Ám ảnh bởi một thứ hiện tại được biểu lộ trong một diện mạo có vẻ minh bạch, nhưng không dễ gì cứ trông thấy là hiểu. Đúng là tôi với nàng không dễ gì rời khỏi một nơi chốn như thế... (...)
 
... Một người đàn ông nằm trên mặt đất, chắc là đã chết, trước mặt có con bò rừng đứng trong tư thế kỳ lạ, như đang sắp ngã xuống, ruột gan tràn ra bên ngoài, bên sườn có cắm một ngọn lao. Đó là nội dung một phiên bản tranh hang động thời tiền sử treo ở nhà vị trưởng tế... (...)
 
... Hãy nói cho tôi nghe là ngài căn cứ vào đâu để bảo đó là sự thật? Một văn bản bằng giấy ư? Hay một văn bản bằng đá? Mà chép trên giấy, hay trên đá, thì đều là ngôn ngữ của con người, ai dám bảo với ngài rằng ngôn ngữ ấy thuật lại đúng sự kiện đó, xin ngài hãy nhớ cho, khi ngài tham gia vào việc nói về sự kiện đó thì nó không còn là nó, mà sẽ hiện ra theo cái cách của ngài nói về nó... (...)
 
... Khi kể ra những sự tích đó, người làng muốn nói với chúng tôi, mà họ vẫn đinh ninh là những nhà báo của chính phủ, rằng cái gò hoang là bản gia phả chung của các dòng họ trong làng, rằng những thế kỷ đã trôi qua, các dòng họ đó vẫn giữ gìn bản gia phả đó như giữ gìn dòng máu tộc họ của mình... (...)
 
... Các vị đại diện nhà nước bắt đầu thay nhau nói, rằng cái gò hoang không phải là nghĩa địa, nghĩa địa sao lại không có mồ mả, mà chỉ là nghe kể lại rằng tổ tiên của dân làng đã chôn ở đó, nên việc yên nghỉ đó cũng chỉ là khái niệm, cũng như nói cái gò đó là gia phả chung của các dòng họ thì cũng là khái niệm, nói gọn lại, dẫu cái gò hoang đó không còn thì những khái niệm kia vẫn còn. Nhưng về chỗ này thì đám dân làng không dễ gì mủi lòng để các vị đại diện nhà nước biến mồ mả tổ tiên thành những khái niệm... (...)
 
... Ta phải nói thế nào với các người đây? Sự cư trú của con người trên mặt đất này thì có vẻ ngẫu nhiên. Chẳng ai muốn chọn những nơi nghèo nàn như ngôi làng ấy để sống. Mà chuyện ngẫu nhiên như thế xảy ra khắp nơi trên mặt đất này. Và bằng trí tuệ của mình, con người đã vượt qua được biết bao cái ngẫu nhiên để làm nên những cuộc đổi thay có tên là những nền văn minh nhân loại... (...)
 
... Nhưng nàng bảo để có nền văn minh đương đại, các nhà khoa học đã phải cống hiến cho nhân loại cả tinh thần lẫn thể xác của họ. Việc làm cái nhà máy thuỷ điện là thừa hưởng thành quả của văn minh đương đại, nhưng người chỉ huy công việc làm này lại nói về nền văn minh này theo ngôn ngữ của loài chim là điều chẳng thể chấp nhận. Bởi trong mối quan hệ giữa các loài trong hiện tại thì chỉ có loài người nói về loài chim, chứ không thể có chuyện loài chim nói về loài người... (...)
 
... Chúng tôi lại lặng đi trong giây lát. Trí tuệ con người lớn lao biết bao mà cũng nhỏ nhoi biết bao trước vẻ kỳ bí của tự nhiên. Nàng nói. Và khẽ rùng mình. Tôi cũng khẽ rùng mình... (...)
 
... Đây là thời hết thảy các chính phủ trên mặt đất này mở miệng là nói phải làm giàu đất nước, là thời mà sự giàu có được coi như niềm đam mê mới mẻ nhất trong việc trị nước của các vị nguyên thủ của hầu hết các quốc gia hiện đang có mặt trên bản đồ thế giới, là thời mà việc xuất nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia được coi như chìa khoá mở cửa vào cõi giàu có, bởi từ cân đường cân thịt cho đến tri thức của con người đều được xem là hàng hoá... (...)
 
... Nàng hỏi có phải anh ta đang nói đến ảo ảnh cuộc đời hay không? Anh ta bảo con người là sinh vật duy nhất biết có ngày mai, trong cái gọi là ngày mai thì có cái chết, biết là chết mà vẫn cố tạo ra bao nhiêu chuyện để hướng tới gọi là tương lai, nếu như cái ảo ảnh ấy không phải là vĩnh hằng, tức chết trước cái chết, thì loài người đã treo cổ chết cả từ lâu... (...)
 
... Em chết mất. Nàng chỉ kịp nói thế. Và bị dòng nước cuốn phăng đi. Dốc hết cả sức lực, tôi lao theo nàng. Bấy giờ thì tôi nhìn thấy quá rõ cái tương lai chẳng mấy tốt đẹp của chúng tôi. Nên đã đi đến quyết định có chết là phải chết cùng nàng. Nhưng rồi tôi cũng chẳng thể thực hiện được cái quyết định đó. Bởi con nước đã đẩy tôi dạt vào bờ. Có nghĩa là không chết. Còn nàng thì chẳng hiểu là con nước cuốn về đâu... (...)
 
... Con người đang hô hoán lên khắp nơi rằng mình đang toàn cầu hoá. Nhưng máu lại đang chảy rất nhiều trong các cuộc chiến nhằm để chia tách một quốc gia cũ ra thành nhiều quốc gia mới. Con người đương tự hào với nhau rằng mình đương củng cố ngôi nhà chung của mình trên mặt đất. Nhưng ta nghe dường như đây là thời mà một tay đại bịp cũng muốn dựng tượng đài riêng cho mình? Dường như đây là thời trăm nhà đua tiếng, kẻ đê hèn cũng có thể nói được lời cao cả?... (...)
 
... Thời mà cha ông bọn này chỉ ăn củ mài để sống có phải là thời thần thánh nhập vô các vị vua quan, khiến các vị chỉ lo chuyện bòn rút của dân mà không lo việc cơm áo cho dân? Tôi với nàng đã điên đầu với những câu hỏi như thế. Có vẻ như khi vây hỏi chúng tôi về nỗi bất hạnh, bọn họ đã từ cảnh trí siêu hình tụt xuống cảnh trí trần thế? ... (...)

 

 

----------------

 

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018