thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT [chương XXIV]

 

Đã đăng: [chương I-II] - [III-IV] - [V-VI] - [VII] - [VIII] - [IX]

[X] - [XI] - [XII] - [XIV] - [XV] - [XVI] - [XVII]

[XVIII] - [XIX] - [XX] - [XXI] - [XXII] - [XXIII]

 

hai mươi bốn.

SÔNG NƯỚC.

 

Sáng hôm đó tôi với nàng còn đang phân vân có nên đi đầu nguồn con sông đó hay không thì chợt thấy có con thuyền đang ngược về phía thượng nguồn. Nhánh phụ lưu đó phát nguyên tận vùng rừng núi phía tây nam, mãi gần tới quê nàng mới đổ vào con sông chính chảy qua quê nàng. Làm như biết trước mọi sự, người chèo thuyền chèo thẳng vào chỗ bờ sông chúng tôi đang đứng, hỏi có đi thượng nguồn thì hãy xuống thuyền mà đi. Ngay từ phút đó tôi đã thấy có gì hơi khác thường ở người chèo thuyền. Nhưng nàng thì có lẽ vì mừng gặp được thuyền, cứ theo hỏi người chèo thuyền đủ thứ chuyện về sông nước, rằng ông từ đâu đến lại chẳng chở thứ chi, rằng đi đến đâu thì quay lại? Cốt yếu là nàng sợ không nhìn thấy được con nước đầu nguồn của dòng sông ấy. Sông nước hữu tình thì làm sao ta lại đi vô tình với người đời! Người chèo thuyền nói. Nàng chợt huých vào tôi, cú huých có phần khá mạnh, khiến con thuyền hơi lắc lư. Cứ sợ người chèo thuyền đọc được những ý nghĩ không mấy hay ở nàng, nên tôi phải nói đỡ là nàng không mấy quen đi thuyền. Không sao... Người chèo thuyền nói, và ngước mặt nhìn trời. Tôi hỏi: có phải ông vẫn thường qua lại trên con sông ấy hay không? Ông ta bảo: nói thường cũng được, mà nói không thường cũng được. Tôi lại tiếp tục hỏi ông về quê quán, nhà cửa, về chuyện kiếm sống trên sông, giành việc chuyện trò với ông, vì sợ nàng lại đi khiêu khích một người chèo thuyền thích ăn nói theo kiểu văn vẻ của một khách văn chương. Nhưng rồi tôi cũng không ngăn được nàng. Thường là sao? Mà không thường là sao? Nàng hỏi. Người chèo thuyền bảo thường là như khi ông qua lại trên con sông quê nàng. Ta qua lại nơi ấy không biết bao nhiêu bận, sông nước thì có vẻ như đứng yên một chỗ, còn núi non tựa những áng mây sà xuống ruộng đồng. Ông nói. Tả sông núi quê nàng như thế là rất chính xác. Núi mọc ở trên đồng, còn nước trên sông, chỉ trừ mùa bão lũ, lúc nào cũng lững lờ trôi. Tôi cảm thấy nghi hoặc trong lòng, và hỏi ông ta có phải là kẻ sĩ bất đắc dĩ ra kiếm sống hay không? Người chèo thuyền có vẻ cảm kích trước tra vấn của tôi. Và bảo cứ theo cách hiểu của con người thì ông là kẻ bất tử. Tôi hơi giật mình, vì một người chèo thuyền mà lại nói ra được những lời như thế. Còn nàng thì vẫn cái ý khiêu khích ấy, hỏi ông qua lại trên con sông quê nàng vào những giờ nào mà nàng chẳng bao giờ trông thấy? Và có phải người bất tử thì kẻ khác khó lòng nhìn thấy hay không? Người chèo thuyền chợt cho thuyền rẽ vào bờ, rồi bảo chúng tôi chờ ông một lát. Tôi đoán là ông vào làng để tìm thêm thức ăn cho chuyến đi dài trên sông. Quả như tôi nghĩ, nàng trù tính sẽ tạo ra thứ không khí vui vẻ trên sông nước bằng cách bịa ra một câu chuyện cổ tích mà nhân vật chính là một người chèo thuyền bình dân thích ăn nói theo kiểu bác học. Không được đâu, em đã biết tung tích của người ta thế nào mà đi gây chuyện. Tôi cản. Nàng không cãi lại tôi, cũng không nói là chấp nhận ý kiến của tôi. Chỉ cười. Nhưng không phải nàng, mà là người chèo thuyền đã tạo ra cổ tích. Ông ta trở lại thuyền với một thiếu nữ trẻ đẹp như người trong tranh. Cứ gọi em nó là cô gái đàn nguyệt. Ông nói. Theo lời giới thi ?này thì chúng tôi mặc nhiên hiểu thiếu nữ là một ca kỹ chơi đàn nguyệt, có điều chẳng thấy đàn cầm đâu cả. Nhưng liền sau đó thì một đứa bé, trông cũng có vẻ như người trong tranh, mang đàn tới. Chị với ông thượng lộ bình an. Đứa bé trao cây đàn nguyệt cho thiếu nữ, nói, rồi quay lại nẻo cũ. Cứ tưởng nàng cũng như tôi, là đang ngạc nhiên trước những gì đang diễn ra. Nhưng không phải. Chắc ca lâu cũng gần đây thôi? Nàng nhìn thiếu nữ, hỏi, mỉm cười đầy ẩn ý. Nói là gần cũng được, mà nói là xa cũng được. Người chèo thuyền đáp lời nàng. Còn cô gái đàn nguyệt thì ngồi xuống lòng thuyền, bắt đầu so dây. Tôi có cảm tưởng đang nghe thấy những âm vang vọng lại tự buổi khai sinh trời đất. Ta đi thôi. Người chèo thuyền nói, thọc mái chèo xuống nước, cho thuyền lướt nhẹ trên sông. Phải nói đây là lúc chúng tôi thực sự bước vào cổ tích. Cô gái đàn nguyệt tự đệm đàn cho mình hát. Tiếng đàn xé nát cỏ cây. Còn tiếng hát như có năng lực đánh thức những niềm lãng quên cổ kính nào đó.

... Ta, một mình nơi sông nước, trần gian mấy nẻo đi về tự buổi hỗn mang. Dẫu là cư ngụ ở trên trời, hay dưới đất, thì đều khấp khễnh, kỳ khu. Ai náu mình giữa trần tục, nghìn năm, triệu năm, trải mấy nỗi thăng trầm, cưu mang trời biển, nếu không phải là ta? Lúc loài giống con người chưa nhìn ra được những nét thực của đất trời thì ta là kẻ mang lại cho nhân gian những niềm vui lộng lẫy huy hoàng. Niềm kính ngưỡng thấm đẫm tận chốn cao sơn cùng cốc. Bất kể cơn mưa nào đến sau những nguyện cầu đều gán cho quyền năng sáng tạo của kẻ náu mình trên sông nước. Đôi khi những hốt hoảng lại được gọi to lên thành lời. Bất kể cơn mưa nào đến sau những hốt hoảng của nhân gian đều được coi là ân sủng. Ta lặng lẽ giữa đất trời đón lấy những tôn vinh thần thánh. Niềm kính ngưỡng là đồng nghĩa với phồn thực. Kính ngưỡng đối với ta là đồng nghĩa với sinh sản tràn đầy, đồng nghĩa với sự thêm ra. Con người thêm ra. Tiếng đùa giỡn của trẻ thơ thêm ra. Màu xanh hoa trái thêm ra. Ta, một mình nơi sông nước, nhìn thấy triệu triệu sinh linh mong ngóng về ta. Và làm sao ta lại khỏi nghe thấy những thầm trách. Đôi khi thì chẳng phải thầm trách, mà là oán giận oà vỡ thành tiếng kêu trầm thống. Cái chết thường hay đến sau những tiếng kêu trầm thống. Ta còn nhớ tận mờ mịt xa xăm, thuở con người còn trò chuyện được với hươu nai trên rừng, thuở con người chưa biết cách thốt lên tiếng kêu trầm thống, thì cái chết đối với con người là lặng lẽ hơn hết thảy những lặng lẽ của trời đất. Ta vẫn còn nhớ thuở xa xăm mờ mịt ấy, khi những cơn mưa bất tận từ trời cao chảy xuống, từ trong đất tuôn ra, con người cùng với cây cối trên rừng lặng lẽ nằm xuống giữa trùng dương vô tận. Chẳng biết thốt nên tiếng kêu trầm thống, nhưng tri giác đọng lại thành ký ức ngọc bích kim cương, mà mãi triệu triệu năm sau, đám hậu duệ thuộc các nền văn minh sớm nhất của con người vẫn còn nhớ được để thốt lên rằng thuở ban đầu của trời đất là nước...

Tôi nghe như có trận đại hồng thuỷ đang tràn vào lời ca của kỹ nữ. Và thầm hỏi mình, đây có phải là chuyện của trần gian? Khúc hát nói về một kẻ sống trên sông nước, mà sao như một vị thần? Còn nàng, có lẽ lời ca kỳ tuyệt kia đã làm tan hoang cái tính thích trêu chọc kẻ khác bấy lâu vẫn lẩn quẩn với nàng. Lần này nàng cũng huých vào tôi, nhưng rất nhẹ, ý bảo là hãy lắng nghe. Quả chẳng còn có chỗ để cho tôi nói ra những băn khoăn của mình.

... Nhưng chẳng phải mãi mãi là ngọc bích kim cương. Con người biết lần dò ra ánh sáng từ những ký ức cổ xưa. Chiêm ngắm sắc màu của một áng mây trôi. Chiêm ngắm cách đi về của một bầy ong hút mật. Chiêm ngắm sự lặn ngụp của đám sao ở trên trời, của đám rong rêu ở dưới nước. Triệu năm nghìn năm trôi qua, ngọc bích kim cương bỗng hoá nên lời. Gọi được tên những cuộc hôn phối giữa ngày và đêm. Gọi được tên kẻ thủ phạm gây nên các cuộc rơi rớt, các cuộc trốn chạy, gây nên mưa sa bão táp. Ta rất vui khi con người bảo vẻ đẹp của các sự vật thì nằm trong sự chiêm ngắm của trí tuệ con người. Quả là trăm hoa đua nở. Ta nhìn thấy đi lại bên bờ các con sông lớn trên mặt đất những con người có dáng đi của các vị thần. Chưa nghe thấu hết những tiếng nói của đất trời, nhưng quả con người đã nói ra được những lời ưu ái dường trời đất dành riêng cho con người. Và tri thức đã đẻ ra kiêu hãnh. Kiêu hãnh đẻ ra con đường dẫn đến tiêu ma. Phải nói, đến lúc con người không còn trò chuyện được với hươu nai trên rừng là lúc con người bắt đầu hục hặc nhau. Ta, một mình nơi sông nước, có lúc cảm thấy choáng ngợp vì các cuộc cãi vã dai dẳng của con người. Cãi vã về những tiếng nói của trời đất. Cãi vã về những tiếng nói của con người. Chẳng phải nói ra rồi thôi, mà còn chép thành kinh thành sách. Dường chẳng còn có chỗ cho sự kính ngưỡng đất trời. Những nguyện cầu xưa cũ đã đọng lại thành thời gian.Thời gian đọng lại thành niềm quên lãng. Ta chẳng buồn vì chẳng còn nhận được sự kính ngưỡng. Mà buồn vì con người không còn chỉ cãi vã nhau bằng lời. Trên các dòng sông ta đi lại đã bắt đầu nghe thấy mùi máu. Máu của các cuộc thể nghiệm về các cuộc cãi vã. Lịch sử là biên niên sử về các cuộc thể nghiệm các cuộc cãi vã. Cho đến lúc nước trên các dòng sông pha màu máu, thì ta, kẻ náu mình trên sông nước, chỉ còn biết thở dài. Thì còn biết làm sao khi các cuộc thể nghiệm đã thuộc về cách thức tồn tại của con người. Thì chẳng phải đi tìm con nước đầu nguồn con sông quê của người yêu là cũng thuộc về cách thức tồn tại của con người hay sao?

Cô gái đàn nguyệt chợt ngẩng nhìn chúng tôi, mỉm cười, rồi lại tiếp tục đàn hát. Phải nói là tôi cứ thấy hốt hoảng ở trong lòng. Thưa, có phải những kẻ trần mắt thịt này đã được gặp các vị thần? Tôi thốt lên như một cách chống đỡ nỗi sợ. Còn nàng, chắc là còn cảm thấy kinh dị hơn tôi, cứ bám chặt lấy người tôi. Gọi là thần cũng được, mà gọi là trí tuệ của nhân gian cũng được. Người chèo thuyền đáp lời tôi. Rồi lại cho thuyền cập vào bờ. Tôi hỏi sao không đi tiếp. Ông bảo là ông còn phải đến nhiều nơi trên mặt đất này. Ta cũng chẳng rõ là sau khi uống được con nước đầu nguồn con sông ấy thì các người có tìm thấy tình yêu vĩnh hằng hay không. Nhưng kể từ giờ phút này thì các người phải tự làm chủ con thuyền trên con đường thể nghiệm về tình yêu của mình. Ông nói. Và trao mái chèo cho tôi. Đến lúc ấy thì tôi lại cảm thấy cảm động như đang chia tay một con người. Tôi hỏi người chèo thuyền là ông định đến những nơi nào? Ta phải đi khắp hết mặt đất này để hát, bởi vì hát là ký cho người đời sau hiểu những gì đã xảy ra trong quá khứ. Ông nói.

Đợi cho đến lúc người chèo thuyền và cô gái đàn nguyệt khuất dạng, tôi mới dám rỉ tai nàng nói ra ý nghĩ có vẻ tư biện của mình, rằng những gì vừa diễn ra đều là hoá thân của thần sông nước. Nàng có vẻ như đang rơi vào trạng thái năng sản của kẻ sáng tạo. Đến khi tôi đã thay người chèo thuyền, cho con thuyền lướt về phía thượng nguồn của sông, nàng còn hỏi đấy có phải là chuyện thật hay không?

 

[còn tiếp]

 

_________
MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT là cuốn tiểu thuyết thứ sáu của Nguyễn Thanh Hiện [1. Những Tháng Năm Nghiệt Ngã - 2. Trở Lại Xương Quơn (NXB Văn Học, Việt Nam, in năm 2007) - 3. Vật Gia Bảo Của Một Dòng Họ - 4. Bên Này Trần Gian - 5. Người Đánh Cắp Sự Thật (NXB Văn Học, Việt Nam, in năm 2008) - 6. Một Cách Nói Khác Của Niềm Khao Khát - 7. Rốt Cuộc Thì Bọn Họ Là Ai?], sách gồm 38 chương, chưa nhà xuất bản nào in.

 

 

Đã đăng:

... Mặt đất này thì rộng lớn, và con sông nào cũng có chỗ bắt đầu của nó, mà các người đi tìm nguồn con sông nào? Ông hỏi. Tôi nói là con sông chảy qua quê nàng. Con sông quê của người mình yêu. Ông quảng diễn thêm câu nói của tôi. Rồi bảo hai chúng tôi có vẻ khăng khít nhau thế còn đi tìm nguồn con sông đó chi nữa. Tôi nói đó là bí mật của tình yêu. Hoá ra không phải chỉ tôi với nàng mới có bí mật của tình yêu. Đêm đó, nơi căn nhà lá ở giữa rừng, người coi rừng đã nói cho chúng tôi biết ông cũng có một bí mật của tình yêu... (...)
 
... Rằng từ khi loài người biết truyền những ý nghĩ cho nhau bằng máy móc thì thần không còn trực tiếp cai quản núi rừng, nhưng không phải là không để mắt đến chuyện con người, rằng trong cuộc chuyển lưu lớn lao của vạn hữu thì không phải hễ là thần thì nhìn thấy được sự thật của mọi sự, rằng ngày xưa, ngay chính bản thân vũ trụ cũng chưa biết mình do đâu mà có, thì lớp cha ông của thần quả đã cho rằng hễ là thần thì biết hết mọi sự, từ đó mới có chuyện toàn trị của các vị thần... (...)
 
... Xin chào bác homo sapiens! Đám đồng bào của ta nơi mặt đất đã bớt lạnh lẽo gọi ta là bác homo sapiens. Là homo sapiens, hay không là homo sapiens, thì có hệ trọng gì đâu. Bởi điều đáng nói là ta đã vượt qua cuộc thử thách lớn nhất trong trời đất, cuộc thử thách diễn ra hằng triệu triệu năm, để được thiên hạ trong trời đất gọi ta là con người... (...)
 
... Có cái gì là chẳng ngoi lên từ cõi hỗn mang? Một vùng trời đất âm thầm, từ đấy ngân vang những giai điệu nguyên sơ. Sáng tỏ và u uẩn. Ôm ấp và cô đơn. Mở và khép. Gặp lại và chia xa... Buổi ban đầu ấy là một cuộc lưu luyến kỳ cục giữa ngẫu nhiên và tất yếu. Ai đã ngang qua đất trời lãm thuý?... (...)
 
... Lại hỏi về cây thong dong. Thưa, có bao giờ thấy mặt trời mặt trăng vội vã đâu, nếu là biển, thì sáng tinh mơ, mặt trời trườn đi trên nước, nếu là bầu trời đêm có nhiều mây, thì mặt trăng ẩn hiện ở trong mây, cái cách như thế của mặt trời mặt trăng thì gọi là thong dong... (...)
 
Mùa thu năm ấy chúng tôi ngược về thượng nguồn một nhánh sông của con sông quê nàng. Và bị cầm chân ở ngôi làng ấy. Khoa học hiện đại dù đã phát hiện được bao nhiêu là luật lệ của trời đất, nhưng những con người ở ngôi làng ấy vẫn khăng khăng vị thần làng của mình là thần của tất cả các thần, là tổ thần, không có vị này thì không có người làng và cũng không có cả loài người... (...)
 
Quả tình mùa thu ở đây vàng một nỗi ám ảnh. Ám ảnh bởi một thứ quá khứ đã được tinh kết thành thứ từ vựng tinh tế, kiêu sa, và không phải cứ nghe thấy là hiểu. Ám ảnh bởi một thứ hiện tại được biểu lộ trong một diện mạo có vẻ minh bạch, nhưng không dễ gì cứ trông thấy là hiểu. Đúng là tôi với nàng không dễ gì rời khỏi một nơi chốn như thế... (...)
 
... Một người đàn ông nằm trên mặt đất, chắc là đã chết, trước mặt có con bò rừng đứng trong tư thế kỳ lạ, như đang sắp ngã xuống, ruột gan tràn ra bên ngoài, bên sườn có cắm một ngọn lao. Đó là nội dung một phiên bản tranh hang động thời tiền sử treo ở nhà vị trưởng tế... (...)
 
... Hãy nói cho tôi nghe là ngài căn cứ vào đâu để bảo đó là sự thật? Một văn bản bằng giấy ư? Hay một văn bản bằng đá? Mà chép trên giấy, hay trên đá, thì đều là ngôn ngữ của con người, ai dám bảo với ngài rằng ngôn ngữ ấy thuật lại đúng sự kiện đó, xin ngài hãy nhớ cho, khi ngài tham gia vào việc nói về sự kiện đó thì nó không còn là nó, mà sẽ hiện ra theo cái cách của ngài nói về nó... (...)
 
... Khi kể ra những sự tích đó, người làng muốn nói với chúng tôi, mà họ vẫn đinh ninh là những nhà báo của chính phủ, rằng cái gò hoang là bản gia phả chung của các dòng họ trong làng, rằng những thế kỷ đã trôi qua, các dòng họ đó vẫn giữ gìn bản gia phả đó như giữ gìn dòng máu tộc họ của mình... (...)
 
... Các vị đại diện nhà nước bắt đầu thay nhau nói, rằng cái gò hoang không phải là nghĩa địa, nghĩa địa sao lại không có mồ mả, mà chỉ là nghe kể lại rằng tổ tiên của dân làng đã chôn ở đó, nên việc yên nghỉ đó cũng chỉ là khái niệm, cũng như nói cái gò đó là gia phả chung của các dòng họ thì cũng là khái niệm, nói gọn lại, dẫu cái gò hoang đó không còn thì những khái niệm kia vẫn còn. Nhưng về chỗ này thì đám dân làng không dễ gì mủi lòng để các vị đại diện nhà nước biến mồ mả tổ tiên thành những khái niệm... (...)
 
... Ta phải nói thế nào với các người đây? Sự cư trú của con người trên mặt đất này thì có vẻ ngẫu nhiên. Chẳng ai muốn chọn những nơi nghèo nàn như ngôi làng ấy để sống. Mà chuyện ngẫu nhiên như thế xảy ra khắp nơi trên mặt đất này. Và bằng trí tuệ của mình, con người đã vượt qua được biết bao cái ngẫu nhiên để làm nên những cuộc đổi thay có tên là những nền văn minh nhân loại... (...)
 
... Nhưng nàng bảo để có nền văn minh đương đại, các nhà khoa học đã phải cống hiến cho nhân loại cả tinh thần lẫn thể xác của họ. Việc làm cái nhà máy thuỷ điện là thừa hưởng thành quả của văn minh đương đại, nhưng người chỉ huy công việc làm này lại nói về nền văn minh này theo ngôn ngữ của loài chim là điều chẳng thể chấp nhận. Bởi trong mối quan hệ giữa các loài trong hiện tại thì chỉ có loài người nói về loài chim, chứ không thể có chuyện loài chim nói về loài người... (...)
 
... Chúng tôi lại lặng đi trong giây lát. Trí tuệ con người lớn lao biết bao mà cũng nhỏ nhoi biết bao trước vẻ kỳ bí của tự nhiên. Nàng nói. Và khẽ rùng mình. Tôi cũng khẽ rùng mình... (...)
 
... Đây là thời hết thảy các chính phủ trên mặt đất này mở miệng là nói phải làm giàu đất nước, là thời mà sự giàu có được coi như niềm đam mê mới mẻ nhất trong việc trị nước của các vị nguyên thủ của hầu hết các quốc gia hiện đang có mặt trên bản đồ thế giới, là thời mà việc xuất nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia được coi như chìa khoá mở cửa vào cõi giàu có, bởi từ cân đường cân thịt cho đến tri thức của con người đều được xem là hàng hoá... (...)
 
... Nàng hỏi có phải anh ta đang nói đến ảo ảnh cuộc đời hay không? Anh ta bảo con người là sinh vật duy nhất biết có ngày mai, trong cái gọi là ngày mai thì có cái chết, biết là chết mà vẫn cố tạo ra bao nhiêu chuyện để hướng tới gọi là tương lai, nếu như cái ảo ảnh ấy không phải là vĩnh hằng, tức chết trước cái chết, thì loài người đã treo cổ chết cả từ lâu... (...)
 
... Em chết mất. Nàng chỉ kịp nói thế. Và bị dòng nước cuốn phăng đi. Dốc hết cả sức lực, tôi lao theo nàng. Bấy giờ thì tôi nhìn thấy quá rõ cái tương lai chẳng mấy tốt đẹp của chúng tôi. Nên đã đi đến quyết định có chết là phải chết cùng nàng. Nhưng rồi tôi cũng chẳng thể thực hiện được cái quyết định đó. Bởi con nước đã đẩy tôi dạt vào bờ. Có nghĩa là không chết. Còn nàng thì chẳng hiểu là con nước cuốn về đâu... (...)
 
... Con người đang hô hoán lên khắp nơi rằng mình đang toàn cầu hoá. Nhưng máu lại đang chảy rất nhiều trong các cuộc chiến nhằm để chia tách một quốc gia cũ ra thành nhiều quốc gia mới. Con người đương tự hào với nhau rằng mình đương củng cố ngôi nhà chung của mình trên mặt đất. Nhưng ta nghe dường như đây là thời mà một tay đại bịp cũng muốn dựng tượng đài riêng cho mình? Dường như đây là thời trăm nhà đua tiếng, kẻ đê hèn cũng có thể nói được lời cao cả?... (...)
 
... Thời mà cha ông bọn này chỉ ăn củ mài để sống có phải là thời thần thánh nhập vô các vị vua quan, khiến các vị chỉ lo chuyện bòn rút của dân mà không lo việc cơm áo cho dân? Tôi với nàng đã điên đầu với những câu hỏi như thế. Có vẻ như khi vây hỏi chúng tôi về nỗi bất hạnh, bọn họ đã từ cảnh trí siêu hình tụt xuống cảnh trí trần thế? ... (...)
 
... Vào một ngày có lũ khỉ đùa giỡn trên cây còn lũ chim bồ chao thì làm như núi rừng là của chúng, một người đàn ông và một người đàn bà ngồi ở nơi gộp đá ấy nhìn trời đất đang chìm trong hoang dã. Làng xóm của ta là ở đây. Người đàn ông nói. Người đàn bà lấy một viên sỏi cuội vạch lên gọp đá như viết lên một lời thề... (...)

 

 

----------------

 

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018