thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Vua Duy Tân và bài thơ còn lại

 

Hồi đó, cuối mùa Hè 1948, sau một kỳ thi tuyển khá gay go, được vào lớp “cụ thể đệ nhất niên” (sau đổi thành đệ thất, nay là lớp 6) Trường Trung Học Khải Định, Huế, là một vinh dự lớn cho chúng tôi, một lũ học trò con nít nghèo khổ, ngơ ngác. Y phục thì quần sọt bày cặp giò khẳng kheo, áo sơ mi cụt tay bỏ trong quần lộ hai cánh tay gầy gò, do đói cơm lâu ngày, chân thường chỉ mang đôi guốc gỗ quai da. Giày xăng đan phải để dành cho những dịp long trọng hơn chứ. Đứa nào con nhà giàu mới được mang giày xăng đan thường xuyên.

Nghèo khổ và ngơ ngác là vì mới chạy giặc trở về thành phố; có nhiều gia đình bị mất mác, tài sản cũng như nhân mạng, một số ít người đi theo bên kia; thành quách, lăng miếu nhiều nơi bị sụp đổ; nhà cửa dân chúng có nơi bị cháy rụi, hoặc cháy sém; những hào rãnh cùng những ụ đất chắn ngang con đường từ cửa Thuận An lên thành phố vẫn còn nguyên -- ụ đất chưa được san bằng, hào rảnh chưa được lấp đầy. Ụ và hào nhằm để ngăn chặn quân Pháp đổ bộ từ cửa Thuận An rồi dùng chiến xa tiến lên thành phố. Nhưng sau đó quân Pháp đã vào thành phố theo lộ trình khác!

Trong tình thế đó, Chính Quyền Quốc Gia lâm thời đã cố gắng ổn định nhanh chóng chừng nào hay chừng ấy cho đời sống hằng ngày của dân chúng về nhiều mặt trong đó có vấn đề giáo dục. Các trường tiểu học, trung học ở Huế dần dần được mở lại. Tài liệu giáo khoa rất khan hiếm: tài liệu cũ thời Pháp thuộc không thể sử dụng được, tài liệu mới chưa biên soạn kịp.

Một vài tờ nhật báo hoặc tạp chí văn học ra đời một cách vội vàng để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của người đọc, cho nên chất lượng còn non kém.

Về phương diện văn học, những người lớp trước chúng tôi, và cả Thầy Cô ở nhà trường, đều cho rằng văn chương, chữ nghĩa thời tiền chiến mới có giá trị, nhất là những gì thuộc Tự Lực Văn Đoàn. Từ đó, đứa nào trong chúng tôi tìm được những tờ báo, những tạp chí cũ rách nát hoặc bị mọt ăn lỗ chỗ -- rất hiếm khi thấy sách báo nào còn nguyên vẹn -- xuất bản trước năm 1945 (thường là lấy lén từ tủ sách gia đình may mắn còn giữ lại), mang đến lớp để khoe, thế là cả bọn xúm tới ngắm nghía, trầm trồ, rờ rịn. Và mượn đọc. Hoặc thuê đọc, thuê bằng giá rẻ mạt. Hồi đó không có những môn giải trí, đọc sách là cái thú độc nhất của học trò. Con nhà nghèo ngoài giờ học còn phải giúp cha mẹ kiếm cho đủ bữa ăn hàng ngày, nói gì đến chuyện giải trí.

Ngay từ đầu năm học, không biết từ tên nào dấy lên phong trào chép thơ. Thơ ngắn hơn truyện ngắn, truyện dài, nên có thể chép lại dễ dàng, thế là đua nhau chép vào cuốn sổ tay tự đóng lấy gồm đủ loại giấy -- giấy bổi sù sì dễ bị rách, giấy ca-rô xé ra từ tập vở, giấy in một mặt đã có chữ v.v... Những chàng sính thơ còn bảo rằng thơ phải chép vào sổ tay, xong cho vào túi quần để khi nào thích lấy ra đọc, lấy ra ngâm, là có ngay. Một cậu học sinh vừa qua bậc tiểu học mà lại bắt chước người lớn ngâm thơ nghe thật chướng lỗ tai. Hơn nữa thơ tiền chiến hầu hết là thơ tình, thơ buồn, buồn thật hoặc buồn giả tạo. Không chừng cái thích của chúng tôi cũng giả tạo hơn là thật. Và khi nghe giọng ngâm i ỉ bắt chước âm điệu, kiểu cọ đã có sẵn, bài thơ nào cũng được ngâm lên giống với những bài khác, tôi đâm chán ngán. Từ đó tôi chỉ thích đọc thơ thôi, không ngâm, đọc thì thầm một mình càng tốt.

Thấy người ta chép thơ, mình sốt ruột cũng kiếm giấy đóng sổ tay chép theo. Tôi chép lại khá nhiều thơ kể cả những bài tôi không thích. Nhưng tôi nghĩ rằng những bài tôi không thích mà thuộc loại thơ tiền chiến, thì theo “quy luật”, lẽ dĩ nhiên phải hay, mình không thích là vì trình độ mình còn thấp chưa nhận ra giá trị của chúng. Ngoài thơ ra, tôi cũng cố nhớ và chép lại mấy bài hát của những năm còn bé, chỉ chép lời, chẳng qua là vì tôi lo sợ, một cách trẻ con, rằng nếu không chép lại, một ngày nào đó mình sẽ quên những bài thơ, những bài hát quý giá ấy. Có lẽ sau những lần chạy giặc bị mất mác nhiều thứ khiến tôi sợ mất thêm những gì tôi đang có hay vừa tìm thấy. Thơ và nhạc được chép trong một cuốn sổ tay méo mó, xộc xệch vì đóng vụng, nhưng mỗi khi thay đổi chỗ ở tôi đều nhớ mang nó theo. Khi đã lớn, tôi cũng mang theo như mang một kỷ niệm của thời bé dại.

Tôi còn nhớ tên một số báo, tạp chí tiền chiến, tức là trước năm 1945, như Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Sông Hương, Hà Nội Báo, Phong Hóa, Ngày Nay, báo Loa, Ngọ Báo, v.v... mượn được một ít mang về nhà đọc. Có nhiều bài thơ hay sau này tôi mới hiểu ra, còn hồi đó tôi là một tên học đòi chỉ thưởng thức nổi những bài thơ dễ dãi, hời hợt, khuôn sáo, rỗng tuếch, vụng về. Chẳng hạn tôi chép lại những bài sau đây xuất hiện trong khoảng 1937, 1938:

Chờ
 
Ta chờ nàng trong viên,
Gió chiều nhẹ bước giẫm trên lá vàng.
Giật mình quay lại ngỡ nàng,
À ra chân gió chân nàng giống nhau.
 
Ta chờ mình trong dâu,
Gió chiều bỗng hát qua đầu lá xanh.
Giật mình quay lại ngỡ mình
À ra tiếng gió tiếng mình giống nhau.
 
                                     Nghoai
 
 
Đừng khóc
 
Em ơi, đừng khóc.
Vì trông những ngọc
Đọng trên mi em
Anh nát con tim!
 
                                     Nghoai
 
 
Bao Tết Nữa
 
Năm ngoái tết rồi...
Năm nay lại tết!
Ai đi biền biệt
Hai tết rồi đây!
 
Buồng hương lẳng lặng...
Then chẳng thiết cài.
Còn đợi chờ ai
Biết bao tết nữa?
 
                                     Cô Em-Oanh
 
 
Mơ Màng
[Bài thơ này rất dài, khoảng 120 câu, hồi đó tôi chỉ hiểu lơ mơ, tự cho rằng chưa đủ sức hiểu nổi, nhưng cũng cứ hì hục chép lại, thơ tiền chiến mà! Xin chép lại đây, đúng từ dấu chấm, dấu phẩy, dấu gạch ngang đến những chữ viết sai, 18 câu đầu tiên để vị nào tò mò đọc chơi cho biết]
 
Tiếng hát xa đưa--
Bao êm-đềm, chiều vàng, hoa rủ cánh,
Hương ái-ân man-mác bên hồ thu.
Ánh tà lướt trong dịu-dàng hiu-quạnh,
Chân mây hồng ... phảng-phất sương hồng sa...
Sương hồng sa ... mơ hồ làn nước thắm,
Quyến, bâng-khuâng lá úa hững-hờ trôi.
Kìa vòng lửa vừng ô rơi yên-lặng,
Sau núi chàm ... nhạt sóa muôn mầu tươi ...
Văn Sinh --
Từ dừng gót, và đắm - say cảnh mộng,
Tim dạn-dầy bỗng vỡ nhịp yêu-đương
Bao chiều thu, lả hồn theo lớp sóng,
Ta âm-thầm luyến-tiếc bóng Nga-nương!
Mây huyền vươn ngang nền trời xanh ngắt,
Liễu buông mình, vờn nước, dáng say-sưa.
Ta bồi-hồi lặng nhìn ngoài bát-ngát,
Trông tìm nàng trong bóng sương chiều sa...
 
                                     Mùa Thu năm 1937
                                     Lê Thanh-Xuyên
 

Ngoài ba tác giả Nghoai, Cô Em-Oanh và Lê Thanh-Xuyên nói trên, tôi chép thơ của những tác giả khác như Chu Ngọc, Ngày-Xanh, Mai Thanh Hồng, Huy Vân, Tishonn, Lê Sinh, Tường Khanh, Thao Thao v.v..., và Tô Hoài.

Thế ra nhà văn nổi tiếng Tô Hoài lúc mới bước chân vào trường văn trận bút có làm thơ. Thơ không hay. Xin chép lại bài Tiếng Reo:

Nàng ngừng tay dệt vải,
Mơ màng lắng tai nghe:
Hình như bên cửa sổ,
Văng vẳng tiếng ai reo.
 
Từ mùa thu năm ngoái
Chàng ra đi không lại.
Ồn - ào tiếng gì đây?
Ồ lạ! hay là phải ...?
 
Hay là phải chàng về?
Chàng về tiếng quân reo ...
Chàng về tiếng ngựa hí ...
Chàng về ngựa quân theo ...
 
Vội -vàng ra mở cửa:
Ngoài hiên vẳng tiếng reo
Gió lùa từng cơn lạnh,
Thì ra tiếng lá reo!
 

Những bài thơ khác của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận ... đăng nhiều trên báo Ngày Nay tôi cho là lôi thôi, rắc rối quá, nên không chép lại. Chẳng hạn bài Xa Cách của Xuân Diệu trên một số báo Ngày Nay rất xưa, khoảng trước 1937, được đăng bằng thứ chữ to và đậm nổi bật hơn tất cả các bài văn bài thơ khác cùng số, kèm theo lời giới thiệu thật rôm rả, nào là một thi sĩ thiếu niên có chân tài vừa xuất hiện trên văn đàn An Nam, nào là lời lẫn ý đều vô cùng táo bạo, vô cùng mới mẻ v.v... Tôi tò mò đọc và chép mấy hàng:

Có một bận em ngồi xa anh quá,
Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn.
Em xích gần thêm một chút; anh hờn
Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa.
Anh sắp giận. Em mỉm cười, vội vã
Đến kề anh, và mơn trớn: “Em đây!”
Anh vui liền, nhưng bỗng lại buồn ngay.
Vì anh nghĩ: thế vẫn còn xa lắm.
...
 

Đoạn này tôi cho là lèm bèm quá, chỉ có việc ngồi gần ngồi xa không thôi mà cứ thụt lui thụt tới lạng quạng hoài, nhưng thấy cũng lạ lạ, vui vui. Chép. Những đoạn kế tiếp xin thua, sao nó tối tăm mù mịt đến thế, chẳng hiểu gì cả. Không chép tiếp. Lật qua những trang khác, hoặc tìm trong những tờ báo khác, tìm chép những bài mình nghĩ hay, hay bạn bè bảo là hay.

Chép xong vào sổ tay, cho nó vào một góc tủ chứ không bỏ vào túi quần như mấy thằng bạn khác. Và quên. Chỉ nhớ được một bài duy nhất.

Vâng, quên. Là vì bọn học đòi như tôi, ngoài việc học hành, lại bắt đầu đi học đòi chuyện khác vui hơn khi cuộc sống hàng ngày cũng bắt đầu dễ thở hơn.

Số là vào thời gian chúng tôi học lớp đệ nhất niên (lớp 6),ông hiệu trưởng của trường là một người rất năng động, đưa vào trường một luồng không khí trẻ trung, tạo nên một phong trào thể thao, thể dục, văn nghệ sôi nổi. Đó là thầy Nguyễn Hữu Thứ. Hồi đó chúng tôi chỉ biết đến thế về thầy hiệu trưởng vốn có công lớn trong việc xây dựng trường Khải Định thành một trường nổi tiếng. Ngoài ra, học sinh nghèo, học giỏi được học bổng toàn phần đủ cho việc chi tiêu ăn học. Học bổng mà được như vậy thì quả là lớn lao. Học sinh nghèo, học khá thì được học bổng bán phần.

Do ở phong trào sôi nổi nói trên, bọn nhóc con chúng tôi có được những chọn lựa mới, đứa thì tham gia vào những đội bóng chuyền, hoặc bóng tròn, hoặc bóng bàn, hoặc cả ba, đứa thì tập ca hát, đờn địch. Bơi lội khỏi lo, cứ nhảy ùm xuống một con hói con lạch nào đó, hay ngon hơn thì sông Hương, cửa Thuận, không cần bắt chuồn chuồn ớt cắn rún, sau năm bảy lần uống nước đầy bụng là bơi được. Chả có tên nào bị chết trôi cả.

Về văn nghệ, văn học, nghe nói những lớp đàn anh chuyên khoa, tức là đệ nhị cấp, nay gọi là cấp ba, đã thành lập “Nhóm Thứ Năm” bàn thảo những vấn đề lớn lao, thuyết trình những đề tài nặng ký như “Nghệ Thật Vị Nhân Sinh”, “Nghệ Thuật Vị Nghệ Thuật”, “Triết Lý Truyện Kiều”, “Chinh Phụ Ngâm và Tâm Thức Lãng Mạn của Kẻ Lưu Đày” v.v... mà chúng tôi chẳng hề quan tâm đến.

Năm chúng tôi học lớp 6, sau ngày tựu trường vài tháng, thầy hiệu trưởng đưa vị giáo sư môn Âm Nhạc vào từng lớp để giới thiệu với chúng tôi, thầy Nguyễn Hữu Ba, tác giả nhiều bài hát nổi tiếng như Quãng Đường Mai, Lửa Rừng Đêm, Xuân Xuân, Thu Khói Lửa v.v... Giữa niên khoá, một danh ca hàng đầu từ Hà Nội vào đến tăng cường dạy nhạc (danh ca Từ Ngọc Toản, tức Anh Ngọc). Môn Vẽ, thầy dạy vẽ thích dùng chữ Hội Họa hơn, lại được dạy bởi thầy Tôn Thất Đào, tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội. Hơn nữa, khác hẳn thời Tiểu Học suốt niên khóa chỉ có một thầy hay một cô quá khắc khổ cùng với lũ học trò lôi thôi lếch thếch, bước vào Trung Học, cứ sau mỗi giờ học một môn là có một thầy mới cho môn mới. Nào Toán, Lý, Hóa, nào Vạn Vật, nào Văn, nào Sử Địa, nào Công Dân Giáo Dục, nào tiếng Pháp. Lại có cả môn tiếng Anh tôi không ngờ được học, nên tò mò về nó lắm. Ghê gớm quá. Về môn Hán Tự do cụ Tùng đậu cử nhân chữ Hán đời Thành Thái đứng lớp. Ghê gớm thật, chúng tôi bảo nhau.

Chúng tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, lòng luôn luôn náo nức trước những chuyện đang xẩy ra, trông chờ những chuyện sắp xẩy ra, và quên hẳn thời kỳ “hè nhau” chép những bài thơ tình gượng gạo. Những chàng chép thơ ngày càng vắng dần, về sau biến đi đâu mất. Hay là các chàng ấy vẫn còn chép tiếp, nhưng chép âm thầm, không kèn không trống. Huống là những thứ chép thơ học đòi như tôi.

Trong các môn học, có môn Quốc Văn như đã nói. Theo chương trình lớp 6, chúng tôi chỉ học thơ “cổ” như Trinh Thử, Lục Súc Tranh Công, Gia Huấn Ca, Lục Vân Tiên v.v... là những tác phẩm chúng tôi không thích. Có lẽ vì giặc giã, tài liệu thiếu thốn, nên chỉ học thơ cổ mà thôi chăng, không thấy văn xuôi?

Qua năm sau, một cuốn sách được đón nhận nồng nhiệt, cuốn Việt Nam Tân Văn Hợp Tuyển của hai giáo sư Huỳnh Hòa và Phan Ngô. Năm ấy, giáo sư Huỳnh Hòa làm hiệu trưởng thay thầy Nguyễn Hữu Thứ. Cuốn sách dày trên 200 trang, bìa vàng, chữ đỏ ngoài bìa, gồm những bài bình giảng và những đoạn trích từ những tiểu thuyết tiền chiến của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Đổ Đức Thu, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Xuân Diệu (văn chứ không phải thơ, từ cuốn Phấn Thông Vàng), Thanh Tịnh, Tô Hoài, v.v... Như nhan đề cuốn sách, chỉ có văn xuôi chứ không có thơ. Mở đầu là một đoạn văn ngắn chừng nửa trang, Làng Từ Lâm, rút từ cuốn truyện rất xưa của Nhất Linh, Người Quay Tơ. Tôi còn nhớ lõm bõm vài câu đầu của đoạn trích ấy, nhớ là vì lần đầu được học văn xuôi, mê, đọc lui đọc tới hoài, thuộc lúc nào không hay:

“Tôi đến một nơi gọi là Từ Lâm, xa xa toàn là núi, ngọn nọ ngọn kia không dứt. Núi mầu lam, buổi sáng buổi chiều, mây bay sương phủ... Từ Lâm là một làng nhỏ ở chân đồi, vẻ đặc sắc là rất tĩnh, có con sông con nước trong xanh chảy từ từ trong lòng cát trắng...”

Đoạn văn nói tên đã được hai thầy Huỳnh Hòa, Phan Ngô dành đến hơn ba bốn trang bình giảng và phân tích rất kỹ càng, làm bài mẫu cho học sinh. Tất cả những đoạn trích dẫn khác cũng đều có phần giảng giải, phân tích, gợi ý. Phải thừa nhận rằng cuốn hợp tuyển ấy đã giúp đỡ cho chúng tôi rất nhiều và đã gieo vào lòng đám học sinh rất thiếu thốn sách vở hồi đó một thứ tình yêu tiếng Việt đằm thắm. Rất tiếc, tuyển tập ấy không có thơ. Bù lại, thỉnh thoảng các vị giáo sư môn Quốc Văn cho chép và giảng giải một số thơ mới của Đoàn Văn Cừ, Tế Hanh, Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử v.v... và khen nức nở.

Khi nghe thầy giảng thơ, tôi dần dần thấy rằng những bài thơ trước kia tôi cho là lôi thôi rắc rối quả có cái gì đáng kể. Và không bao giờ tôi được học một bài nào trong những bài thơ tôi đã chép đầy cuốn sổ tay, vì quả thật nó dở. Ngay cả bài thơ độc nhất tôi yêu thích cũng không thấy ai nhắc đến. Tôi muốn xé bỏ tất cả những bài thơ kia, trừ bài thơ độc nhất ấy ra. Nhưng nghĩ lại, dù sao đó cũng là kỷ niệm của một thời thơ dại của những năm “cụ thể đệ nhất niên, cụ thể đệ nhị niên” (lớp 6, lớp 7), thì cứ giữ lại tất cả đi, giữ lại những dòng chữ viết tay nắn nót bằng mực tím, ngòi bút lá tre, cán bút gỗ, trong cuốn sổ tay tự đóng lấy thô tháp, vụng về. Hồi đó chưa có loại viết bi vừa tiện lợi, vừa lâu hao mực, vừa khó phai, như bây giờ.

Bài thơ độc nhất mà tôi nhắc đi nhắc lại mấy lần, đó là bài Quốc Hận, bên dưới có dòng chữ “Kính tặng vua Duy Tân thi sĩ”, và dưới cùng là tên tác giả viết tắt N.V.T.

Tất cả những bài thơ chép tay khác toàn là chuyện anh anh, em em, yêu đương da diết, trong khi người chép chỉ là mấy thằng nhóc ngu ngơ, chưa biết yêu là gì, thấy gái là lỗ tai lùng bùng như bị đỉa trâu chui vào, trống ngực đập liên hồi, nghẹt thở, líu lưỡi, nói năng cà lăm cà cặp, mắt lấm lét như vừa “ăn chùng” bị bắt gặp, không dám nhìn thẳng, mồ hôi rịn ra ướt lưng. Có chàng xương sống như bị đập dập, đứng không vững, uốn éo. Cộng thêm bao nhiêu tưởng tượng cũng không thể tìm thấy nét tương quan nào giữa những vần thơ ấy với mấy chú bé học đòi yêu. Cho nên, về sau, chúng tôi nhìn những bài thơ ấy như nhìn “bàn ghế không bày.” Trừ bài thơ Quốc Hận.

 

*

 

Bài Quốc Hận trước hết gây kinh ngạc nơi tôi. Thời Tây đô hộ mà có người dám viết như thế! Không sợ đi tù sao? Báo lại dám đăng, rất tiếc tôi không nhớ tên tờ báo ấy, không sợ bị đóng cửa sao? Nhà cầm quyền Pháp ít người biết tiếng Việt đã đành, nhưng còn tai mắt của họ nữa chứ. Những người làm thông ngôn, dịch thuật, những người điềm chỉ ở đâu cả? Hay là họ cũng còn một chút lương tâm không nỡ lùng bắt người yêu nước cùng nòi giống? Và tác giả bài thơ? N.V.T. là ai? Từ đó về sau tôi cố tìm tác giả N.V.T. trong những tạp chí văn học nhưng không bao giờ gặp. Hỏi mấy vị làm văn học, không ai biết, không ai thấy bút hiệu đó. Hay nhà thơ sau khi cho đăng bài thơ cũng đã bị đi đày? Hay đã chết trong “xiềng xích ngục tù”? Lại còn gọi vua Duy Tân là thi sĩ.

Tôi biết rằng trong ba vị vua bị Pháp đày qua Phi châu, vua Hàm Nghi giỏi về hội họa có nhiều lần trưng bày tranh giá trị tại Pháp, vừa rồi đây, một số tranh của nhà vua được chủ nhân của nó là người Pháp mang ra bán đấu giá tại Los Angeles; vua Thành Thái, thân phụ của vua Duy Tân, thì giỏi thơ. Người ta chỉ nhắc nhở rằng ba vị vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều để lại nhiều thơ, nhất là vua Tự Đức, nhưng ít ai biết vua Thành Thái cũng có làm thơ, nhiều bài hay và đầy giọng cảm khái. Năm 1902 nhân dịp ra Hà Nội khánh thành cầu Paul Doumer nay là cầu Long Biên bắc ngang qua sông Nhĩ Hà tức sông Hồng, vua Thành Thái làm bài thơ sau đây:

Hoài Cổ
 
Kỷ độ tang thương kỷ độ kinh
Nhất phiên hồi thủ nhất phiên tình
Ngưu hồ dĩ biến tam triều cuộc
Hổ động không dư bách chiến thành
Nùng lĩnh phù vân kim cổ sắc
Nhĩ Hà lưu thủy khấp ca thanh
Cầm Hồ đoạt sáo nhân hà tại
Thuỳ vị giang sơn tẩy bất bình
 

Ông Nguyễn Trọng Cẩn dịch qua tiếng Việt:

Biển dâu dời đổi trải bao nhiêu
Ngoảnh lại càng đau ruột chín chiều
Bến cũ ba triều trâu mép lấm
Lũy xưa trăm trận cọp nằm queo
Bức tranh mới cũ mây Nùng chấm
Khúc nhạc vui buồn nước Nhĩ reo
Hàm Tử Chương Dương còn chốn đó
Non sông luống để bụi trần đeo
 

Nhà thơ Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn cũng có làm nhiều thơ ca tụng vua Thành Thái, đi đày vì bị Pháp kết tội “điên”. Bây giờ những nhà yêu nước ngoài tội “điên”, còn có tội “trốn thuế”. Mười bài thơ thất ngôn bát cú của Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn lấy nhan đề chung là “Tiếng Gọi Bên Trời” để thay lời bà Nguyễn Thị Định, vợ vua Thành thái, khóc vua Thành Thái, xuất bản tại Huế năm 1937. Xin ghi lại dưới đây bài thứ nhất:

Xã tắc khôn nhìn, nữa vợ con!
Trăm năm hết tính cuộc vuông tròn.
Nguyền xưa vàng đá trôi dòng nước,
Hồn cũ mây mưa cách mấy non.
Mờ mịt ven trời tin nhạn lạc,
Gập ghềnh đất khách vó câu von.
Phần sầu, phần giận, phần trông nhớ,
Mắt đã mòn thêm ruột lại mòn!
 

Thế còn vua Duy Tân? Trước kia tôi chỉ nghe nói ông sửa chữa các loại máy truyền tin làm kế sinh nhai khi sống cuộc đời lưu đày trên một hòn đảo ở Phi châu. Đến khi đọc bài Quốc Hận với lời đề tặng “Kính tặng vua Duy Tân thi sĩ” tôi lấy làm lạ. Vua Duy Tân cũng là một nhà thơ chăng? Tôi bèn tìm hiểu về nhà vua qua các sách báo, mà tài liệu chính là Hồ Sơ Vua Duy Tân (Thân Thế và Sự Nghiệp) của Hoàng Trọng Thược, in lần thứ hai, Nhà Xuất Bản Mõ Làng, San Francisco, USA, do Đào Đăng Vỹ đề tựa. Sách dày trên 400 trang.

Thì ra vua Duy Tân không những làm thơ hay mà còn có nhiều tài lạ. Ông thông minh xuất chúng, học rất giỏi nhiều môn kể cả chữ Hán và chữ Pháp, lại giỏi âm nhạc, chơi giỏi cả năm thứ đàn, đàn nguyệt, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nhị, và đàn bầu. Về sau sống trên đảo, ông chơi đàn vĩ cầm, có chân trong một ban nhạc đại hòa tấu của đảo Réunion.

Theo Georges Chaffard trong cuốn Les Carnets Secréts de la Décolonisation (1965), “...vua Duy Tân tự học đậu tú tài Pháp, học thêm Luật, Sinh Ngữ, Vô Tuyến Điện. Rất giỏi tiếng Pháp, nói thông thạo tiếng Anh và Y Pha Nho. Nhà vua thường làm thơ và viết bài đăng trên báo chí địa phương, hoặc diễn thuyết về các đề tài khoa học. Ông biết cả môn nhiếp ảnh, từng đoạt giải thưởng của Viện Hàn Lâm Khoa Học Kỹ Thuật của Réunion. Ông cũng là một nhà kiếm thuật tài ba, những đấu thủ về môn thể thao này thường tìm đến so kiếm với ông.”

Vua Duy Tân qua đời năm 1945, hưởng dương 45 tuổi. Năm 1992 một đại lộ của thành phố Saint Denis (Réunion) lấy tên ông: BOULEVARD du PRINCE VINH–SAN.

Ngay từ khi lên ngôi vua lúc mới tám tuổi, ông đã rất chửng chạc, già dặn, khôn ngoan vượt xa những đứa bé cùng lứa tuổi. Ông cư xử như một người lớn. Một điều lạ lùng, ở tuổi ấy, ông tỏ ra rất quật cường. Ông Eberhardt, người phụ đạo dạy tiếng Pháp cho nhà vua, nhận xét: “Vị Hoàng Đế này sẽ là một nhân vật quan trọng.” Dưới mắt của ông Brieux thuộc Hàn Lâm Viện Pháp, thì: “Cậu vua con nói tiếng Pháp và hiểu tiếng Pháp cũng khá...” nhưng “đôi khi nó thốt ra những câu nói xấc xược.”

Năm mới 13 tuổi, nhà vua đã muốn cử Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài sang Pháp yêu cầu duyệt lại Hiệp Ước Patenôtre ký năm 1884 vì chính phủ Bảo Hộ ở Đông Dương đã không thi hành Hiệp Ước một cách đúng đắn. Cả triều đình sợ hãi, nhưng có lẽ sợ Pháp hơn nên không một ai đồng thuận với vua. Có lần nhà vua hỏi Thượng Thư Bộ Học Hồ Đắc Trung: “Thầy nghĩ sao về người Pháp đô hộ ta?” Một lần khác nhà vua phàn nàn: “Không có ông Thượng Thư nào chịu nghe tôi cả. Tôi làm vua chỉ có hư danh mà thôi...” Thượng Thư Bộ Công Nguyễn Hữu Bài bèn tâu: “Ngài muốn đánh Pháp ư? Được rồi! Nhưng Ngài lấy gì mà đánh. Ngài không có tài chánh cũng không có quân đội...”

Xin ghi thêm một giai thoại:

Một hôm trên bãi biển cửa Tùng ngoài Quảng Trị, nhà vua, tính còn trẻ con, vốc cát chơi. Đến bữa ăn thị vệ mang nước đến cho vua rửa tay. Vua hỏi:

“Tay bẩn lấy nước mà rửa. Nước bẩn lấy chi rửa?”

Tưởng vua chê nước không sạch, các thị vệ hoảng sợ, ấp úng mãi, không biết trả lời làm sao cho khỏi mang tội khi quân. Vua cau mày nói tiếp:

“Nước bẩn lấy máu mà rửa.”

Lòng yêu nước thiết tha và mầm chống Pháp đã nẩy nở nơi nhà vua từ thuở nhỏ. Khi đã đến tuổi 17, năm 1916, vua Duy Tân, sau nhiều lần bí mật gặp các ông Trần Cao Vân, Thái Phiên, đã cùng họ khởi nghĩa đánh Pháp. Kế hoạch được chuẩn bị kỹ càng, nhưng có người làm phản, cuộc khởi nghĩa thất bại, nhiều người bị bắt. Các vị đầu não của cuộc khởi nghĩa như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu đều bị chém đầu tại làng An Hòa gần Kinh Đô Huế. Nhà vua bị Pháp lột tước hiệu Hoàng Đế (Empereur), đổi thành Hoàng Tử (Prince), và bị đày qua đảo Réunion, một hòn đảo nhỏ thuộc Pháp gần Madagascar, phía nam châu Phi.

Vua Duy Tân sống lưu đày trên hòn đảo ấy kể từ cuối năm 1916. Những năm cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940, Đức tung lực lượng hùng mạnh xâm chiếm nhiều lãnh thổ của châu Âu, và Pháp cũng thua trận. Trước tình thế ấy, nhà vua tham gia ngay vào lực lượng kháng chiến của Pháp chống lại Đức gọi là Pháp Tự Do. Ông có dịp tiếp xúc với tướng De Gaulle, lãnh tụ của lực lượng Pháp Tự Do. Sau khi phe Đồng Minh thắng phe trục Đức,Ý, Nhật, bàn cờ thế giới được sắp lại.

Đối với Việt Nam trong ba nước Đông Dương thuộc Pháp cũ, De Gaulle có ý định dùng lá bài Duy Tân để ổn định tình thế. Trong cuốn Hồi Ký Chiến Tranh (Mémoires de Guerre, Plon, Paris 1954 et 1958), De Gaulle viết về vua Duy Tân: “...Đó là một con người đầy cương nghị. Ba mươi năm lưu đày chưa xóa nhòa kỷ niệm của vị vua ấy trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Ngày 14 tháng chạp tới, tôi sẽ tiếp Hoàng Tử và sẽ cùng Ngài xét xem, trên cương vị người đối thoại với người, hai chúng tôi cùng nhau có thể làm được những gì.”

Lập trường của tướng De Gaulle: “... Liên Bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp và các nước khác trong cộng đồng hợp thành Liên Hiệp Pháp. Đối ngoại, quyền lợi của Liên Hiệp Pháp sẽ do nước Pháp đại diện. Trong Liên Hiệp ấy, Đông Dương sẽ hưởng một sự tự do riêng.”

Lâp trường của vua Duy Tân được bày tỏ trong Di Chúc Chính Trị: “...nước Việt Nam thống nhất ba kỳ, độc lập hoàn toàn, và quan hệ với Pháp trong khối Liên Hiệp Pháp.” Trong lời Hiệu Triệu gởi Quốc Dân Việt Nam, nhà vua viết:

“... Xin đồng bào hãy quên đi trong giây lát những thống khổ của tâm hồn lẫn thể xác, cũng như hãy quên đi những lạc thú. Đồng bào hãy lắng tai nghe đây: Đó là tiếng nói của đất mẹ, của hồn thiêng tổ quốc. Tiếng nói ấy nhắn nhủ: ...Khi nào các con đã xây dựng được một quốc gia trong tâm hồn của các con, khi nào các con đã tự tay dựng lên một tổ quốc, khi ấy các con mới độc lập thực sự - một sự độc lập không nhờ vả ai mà là do một dân tộc đã ý thức được nhiệm vụ cao cả của mình tạo nên, chứ không phải là kết quả của những tranh chấp giữa các đại cường mà các con, đối với họ, chỉ là những món hàng trao đổi mà thôi.”

Hai lập trường nói trên rõ ràng là có điểm khác nhau.

Vua duy Tân dự định trở về cố quốc Việt Nam vào tháng 3 năm 1946. Trước khi trở về Việt Nam, ông muốn thăm vua cha, vua Thành Thái, và gia đình ở đảo Réunion. Cuối tháng 12, năm 1945, trên đường bay từ Paris đến Réunion, máy bay rơi. Sáu hành khách trên máy bay đều tử nạn, trong đó có vua Duy Tân. Một tai nạn phi cơ hay là một vụ mưu sát, cho đến bây giờ vẫn còn là một nghi vấn.

Ông sinh năm 1900, mất năm 1945, hưởng dương chỉ 45 năm, với gần 30 năm sống lưu đày.

Khi tìm đọc những tài liệu về vua Duy Tân, tôi cũng có dịp đọc khá nhiều thơ, văn, thương tiếc và tưởng niệm cái chết bi thảm của vị Thiếu Đế yêu nước, anh hùng, tài cao, phận bạc. Những thơ văn ấy được viết khi nhà vua đã qua đời. Xin ghi lại đây bài Vịnh Vua Duy Tân của cụ Hoàng Trọng Thược:

Vì dân, vì nước phải lưu đày,
Hăm chín năm trường chịu đắng cay!
Tiết nghĩa trước sau bền một dạ,
Cương thường nặng nhẹ vững hai vai.
Đấu tranh sá kể vòng lao lý,
Hy vọng đem về cuộc đổi thay.
Vận nước, hỡi ôi! Còn lận đận,
Đại bàng gãy cánh giữa trời mây!
 

Và tôi lại nhớ cuốn sổ tay trong đó chỉ có một bài thơ duy nhất mà tôi thích, bài Quốc Hận của N.V.T. đề tặng vua Duy Tân thi sĩ, được viết khoảng cuối thâp niên 1930 khi nhà vua đang sống lưu đày trên đảo Réunion.

Tiếc thay tôi không tìm ra được một bài thơ nào của “Vua Duy Tân thi sĩ” dù có nhiều tài liệu nói rằng nhà vua có làm nhiều thơ. Tôi chỉ có thể trích dẫn hai đoạn đầu viết bằng tiếng Pháp -- được biết nhà vua viết tiếng Pháp rất hay theo lời hai tác giả người Pháp E.P. Thébault và E. Revest -- trong bài “Ce Que Dit La Voix Des Choses”của nhà vua. Đó là một áng văn xuôi mang chất thơ, loại thơ trí tuệ:

J’aime le murmure de la brise, quand elle chante ou pleure dans les branches. J’aime les confidences harmonieuses du vent aux arbres de la forêt, aux vagues de la mer, aux étoiles du firmanent. Mais plus encore ce qui me berce, me ravit, m’enchante, c’est la grande voix de l’océan, la plainte universelle qui retentit dans le silence de la nuit comme un hymne sans fin. Lorsequ’au coeur de l’été, je séjourne aux bords des plages, je me plais à écouter dans l’insomnie les variations de cette voix. Dans les nuits paisibles, on dirat la respiration d’un léviathan endormi, à d’autres heures, la voix s’enfle, gronde, devient menac,ante dans le fracas de la tempête.
 
La caresse ou la plainte des éléments n’est elle pas un écho de passions terrestres, le chant de la gloire et le cri d’un monde inférieur? Elles expriment tour à tour la joie ou la peine, la peur ou la violence, la douceur ou la colère. C’est un concert d’allégresse ou de souffrance qui se gradue de vibrations en vibrations, d’ondulations en ondulations jusqu’à l’infini pour se frondre dans la symphonie grandiose qui berce la jeunesse du monde et donne l’inspiration au génie. C’est pourquoi elles nous cause des impressions, des sensations indéfinissables et profondes, car elles reproduisent et résument toute la vie des êtres en leur perpétuelles métamorphoses.

Tạm dịch:

Tôi yêu tiếng thì thầm của cơn gió nhẹ ca hát hay than khóc trong cành cây. Tôi yêu những lời tâm sự êm ái của gió nói với cây rừng, với sóng biển, với sao trời. Nhưng hơn thế nữa, âm thanh ru tôi ngủ, khiến tôi thích thú, làm tôi ngây ngất, chính là tiếng nói của đại dương, đó là tiếng than rộng khắp vang dội trong cái tĩnh lặng của đêm khuya như một bản tụng ca bất tận. Ngay giữa lòng mùa hè khi dừng chân trên bãi biển, những đêm thao thức, tôi vui lòng làm sao được nghe những biến khúc của tiếng nói ấy. Vào những đêm êm ả, tôi tưởng như nghe hơi thở của loài thuỷ quái đang ngủ yên, lại có lúc nó vang dội, gào thét, đầy đe dọa như trong cơn bão tố tàn phá.
 
Tiếng vuốt ve hay tiếng than vãn của cảnh vật quanh ta phải chăng là tiếng dội của những đam mê trên cõi đời này, tiếng hát của vinh quang, tiếng kêu của thế tục. Những tiếng ấy lần lượt biểu lộ niềm vui hay nỗi đau, sự sợ hãi hay bạo tàn, sự dịu dàng hay cơn giận dữ. Đó là điệu hoan ca hay bi ca cứ thế vang lên thành từng chuỗi rung động, thành từng nhịp nhấp nhô bất tuyệt để chan hòa vào bản giao hưởng vĩ đại làm nên điệu ru cho tuổi trẻ, gợi hứng cho thiên tài. Bởi vây, bản giao hưởng ấy mang lại cho ta những ấn tượng, cảm xúc sâu xa, khó tả vì nó tái diễn và tóm lược tất cả cuộc sống của mọi loài trong quá trình biến thái không ngừng...
 

Xin trở lại với cuốn sổ tay và bài thơ. Cuốn sổ tay ấy do chính tôi đóng lấy cách đây hơn nửa thế kỷ. Nó vẫn còn đấy sau bao vật đổi sao dời. Tôi rời Huế vào Sài Gòn học, nó đi với tôi. Tôi đi tù, nó ở nhà với vợ con tôi. Tôi lìa quê hương, nó được mang theo. Nay trông nó xộc xệch, xơ xác, nghèo nàn. Những sợi chỉ đóng ở gáy sút hoặc đứt nhiều nơi. Nhiều trang giấy bị mất hẳn hoặc rách. Nhiều dòng chữ phai mờ. Cố đoán cho ra chữ gì.

Tôi giở nhẹ từng trang. Giấy lâu ngày mỏng đi, mục đi, và dòn, mạnh tay nó rách hoặc vỡ ra từng mảnh nhỏ ngay. Lật đến bài Quốc Hận, tuổi nhỏ hiện về, lòng bỗng dưng bồi hồi. Nhưng tiếc thay, bài thơ ấy lâm vào tình trạng tệ hại nhất so với tất cả những bài thơ khác. Vì nó được chiếu cố nhiều nhất. Nó sứt chỉ, nó mòn vì thời gian đã đành, nó còn bị nhoè nhoẹt vì đụng chạm, và cả vì nước mắt nhỏ lên. Hồi đó tôi yêu nó quá, san sẻ cho vài ba thằng bạn, tụi này cũng thích, cũng cho rằng, trong phút nói thật, bài thơ này đôi lúc làm chúng nó khóc. Còn những bài kia, chép cho đầy giấy mà thôi. Tôi bảo chúng nó con trai đọc thơ, khóc, thì bết quá, như con gái. Nói cứng như vậy, nhưng riêng một mình, tôi đọc lui đọc tới bài ấy, nhiều lúc con mắt cũng cay. Nay nhiều chữ không thể đọc được, một số câu hoàn toàn không còn dấu tích, gần nửa trang thơ bị bể mất tiêu.

Tôi tự hỏi tại sao bài thơ ấy gây xúc động nơi chúng tôi đến thế? Vì trước kia chúng tôi bắt gặp được một thân phận ngang trái, một cuộc đời oanh liệt, nhưng quá bi thảm và quá ngắn ngủi. Và nay, vì cái liên tưởng giữa hai hoàn cảnh: Nhà vua trẻ tuổi yêu nước thời Pháp thuộc dưới nanh vuốt ngoại bang, và tuổi trẻ yêu nước hôm nay trong gông cùm tại chính quê hương mình. Và lẽ dĩ nhiên cái xúc động cũng đến từ lời thơ. Lời thơ chứ không phải là hình thức của bài thơ. Ai lại phí công phân tích cho rạch ròi biên giới của nội dung và hình thức của một bài thơ -- một việc làm bất khả. Vấn đề nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học còn cần phải tốn thêm giấy mực, và vượt ra ngoài phạm vi của bài này.

Cho đến bây giờ, bài thơ cũ ấy vẫn để lại dấu ấn mạnh nơi tôi: Trang nghiêm, hào hùng, dũng cảm, và đầy xúc động. Như lời của người tôi trung bất lực nói với đấng minh quân thế cùng lực tận; như lời của người đồng chí nói với người đồng chí, của một người bạn với một người bạn, của người tình với người tình. Đó là những tình cảm, những tâm trạng rất đa dạng đan quyện vào nhau. Tôn kính, chăm chút, âu yếm, đau đớn, than van, sầu khổ. Hơn nữa, bài thơ tuy ngắn nhưng đã đưa người đọc đến những vùng không gian mênh mông, thời gian thăm thẳm, cùng với tính cách sử thi của nó. Cho nên nó mang dáng dấp của một bản anh hùng ca trữ tình, trầm buồn.

Rất tiếc bài thơ ấy không còn nguyên vẹn. Tôi cứ tưởng tôi có thể nhớ được trọn bài như hồi còn trẻ, nhưng lâu ngày trí nhớ mòn mỏi, chữ nghĩa mọc cánh bỏ tôi bay đi mất. Tôi đành mạo muội dựa theo ý tứ và cái khí hậu chung của toàn bài, dựa theo một số chữ rời rạc mà tôi còn nhớ, tìm cách chắp vá, thêm thắt, bổ sung, và với một chút tưởng tượng. Tôi ước mong có vị nào biết bài thơ này và tên thật của tác giả N.V.T. giúp tôi đăng lại nguyên văn bài thơ cũ.

QUỐC HẬN
Kính tặng vua Duy Tân thi sĩ
 
Quân Vương hỡi bao uy linh thuở trước
Nay còn chăng hay chỉ nén hương tànVương đã như chiếc én bạt ngàn
Đôi cánh nhỏ cố che trời bão nổi.
 
Kẻ Văn Thân cũng vì Vương khắc khoải
Nuốt căm hờn trên núi thẳm rừng sâu
Hay uổng thân trong xiềng xích ngục tù
Bỏ Thiếu Đế bơ vơ nơi lửa đạn!
 
Cho đến ngày
                      đất tối đen
                                          trời thê thảm
Vương quẳng đao nhìn xã tắc ngửa nghiêng.
Nước đã tan mà nhà cũng đã tan
Thân vạn thặng đành sa vào tay giặc.
 
Rồi từ đấy trên muôn trùng sóng nước
Dáng Vương buồn sau hớp rượu chia ly
Bóng Vương mờ trong cát bụi trời Phi
Nhưng tiếng Vương hát
                                    vẫn vang hoài
                                                         về cố quận.
Khiến muôn dân trong niềm đau vô tận
Vội ghi thời oanh liệt của Vương xưa
Nhắn cỏ cây, mây nước, với hư vô
Tới Vương gởi đôi vần ca Quốc Hận.
 
Ngự Thuyết
3/2012

 

 

--------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018