thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT [chương XXVI]

 

 

hai mươi sáu.

NHỮNG NGƯỜI TIỀN SỬ

 

Tôi có cái lý để gọi bọn họ là người tiền sử. Quang cảnh trời đất lúc bấy giờ là như thế này: Dòng sông đang ở vào đoạn được coi như thuộc miền bán sơn địa, tức nhìn hướng nào cũng thấy núi, mặt trời thì còn khá cao, cũng chỉ vừa xế một chặp, nhưng do núi non vướng vất tầm nhìn, thành ra cứ có cảm giác là trời tối đến nơi, nếu tả thêm cho đủ thì còn có tiếng gió, tiếng lũ chim rừng từ trong núi xa vẳng lại, còn làng xóm thì thấy đấy, cũng chẳng xa dòng sông mấy, nhưng tuyệt nhiên chẳng nhìn thấy một bóng người, chẳng nghe thấy một tiếng gà hay tiếng chó. Giữa quang cảnh đất trời như thế nàng bỗng hô hoán thần sông nước đã cầm chân chúng tôi. Sợ trong cơn bối rối nàng ngã xuống sông, tôi phải dìu nàng. Đừng sợ, em. Tôi vừa nói xong lời này thì một đám người trùng trục từ dưới nước trồi lên, vây quanh thuyền chúng tôi. Quả tình bấy giờ tôi có cảm tưởng là mình đang lạc vào một thế giới xa lạ nào đó. Đám người trai trẻ ấy vừa lội, vừa cùng nâng thuyền lên, và đẩy về phía hạ nguồn. Hai người ở đâu đến? Cho đến lúc một người trong bọn họ lên tiếng hỏi, tôi mới biết chắc là mình đang được cứu giúp. Nhưng sao lại quay về hạ nguồn, mà không vào bờ? Tôi còn đang băn khoăn trong lòng, thì nàng rỉ tai tôi, hỏi, có phải đấy cũng là hoá thân của thần sông nước? Mọi thứ đang diễn ra ngoài mọi đoán định của mình, nên tôi cũng chẳng biết nói thế nào với nàng. Đám người trai trẻ bỗng cười to lên, rồi đẩy thuyền ngoặc vào bờ. Cười là do thấy cảnh tôi âu yếm nàng trong hoạn nạn? Nhưng là tôi đã đoán lầm. Sau khi cười to lên, bọn họ bắt đầu nói với nhau thứ ngôn ngữ của những người giăng câu, vừa nói, vừa nhìn chúng tôi, vẻ rất khoái chí. Bọn họ nói nhiều lắm. Có chỗ, tôi nghe ra. Có chỗ tôi chẳng hiểu gì cả. Nhưng có thể tắt một lời những gì tôi có thể nhắc lại được: Không bắt được con cá vượt thác, mà lại bắt được hai con người vượt thác. Chưa hiểu thác là gì, và vượt thác là sao, nhưng chỉ nghe bắt được hai con người vượt thác, thì chúng tôi đã tính đến con đường chết. Ta lại gặp đám ăn thịt người! Nàng rỉ tai tôi. Không dám thể hiện nỗi sợ hãi của mình, mà cũng chẳng muốn người yêu của mình rơi vào nỗi sợ hãi, tôi gượng cười, rồi rỉ tai nàng, bảo chớ nghĩ quấy. Thuyền đã cập bờ. Lúc đám người trai trẻ ấy cùng leo lên bờ, tôi có cảm tưởng là đang nhìn thấy hình ảnh những con người tiền sử trong một cuốn cổ sử nào đó. Thứ cơ thể hoàn chỉnh được truyền lại từ các vị thuỷ tổ homosapiens được thể hiện một cách rõ ràng và đầy đủ nơi thân thể chắc khoẻ của những con người ấy. Chẳng lẽ lại là một tộc người nguyên thuỷ còn sót lại ở miền bán sơn địa này? Ý nghĩ có vẻ buồn cười ấy nảy ra trong đầu tôi lúc tôi dìu nàng lên bờ. Tôi tự động dìu nàng lên bờ, chứ chẳng có ai trong đám người ấy bảo chúng tôi lên bờ. Nếu như bị ăn thịt thì tôi với nàng sẽ được đưa vào vùng núi non trước mặt, nơi đang vẳng lại tiếng chim buồn bã. Tôi nghĩ. Và chợt cảm thấy rất vui. Nếu chết như thế thì tình yêu của chúng tôi chắc chắn trở nên bất tử. Nhưng lại có mấy người trong bọn họ nhảy xuống sông trở lại. Chẳng lẽ đám ăn thịt người này là hoá thân của lũ thuồng luồng cá sấu ở dưới sông? Nàng lại rỉ tai tôi với vẻ lo sợ trông thấy rõ. Cái cách nghĩ của nàng làm tôi thêm rối rắm. Nhưng rồi đám thuồng luồng cá sấu hoá thân của nàng không ăn thịt nàng, sau khi lặn xuống nước một hồi, bọn họ đã mang trả nàng cái mái chèo đã mất. Đến lúc này tôi mới dẹp được những ý nghĩ về cái chết, để mở đầu cho một cuộc chuyện trò có đầu có đuôi. Tôi cứ nói thật với bọn họ rằng chúng tôi đi tìm con nước đầu nguồn của con sông ấy, và đi đến đó thì gặp nạn. Bọn họ lại cười to lên. Tôi hỏi là chúng tôi trông có vẻ buồn cười lắm phải không? Tức cười là chuyện đi tìm con nước đầu nguồn kia. Anh chàng cao lớn nhất đám nói. Hình như cũng chỉ mỗi anh ta, người đã hỏi chúng tôi ở đâu đến, là mới biết cách trò chuyện. Sao đi tìm con nước đầu nguồn thì tức cười? Tôi hỏi. Anh ta bảo cứ đi miết cho đến đời con đời cháu chưa chắc đã đến nơi ấy. Tôi vẫn chưa hiểu thế là sao, nên lại tiếp tục quần anh ta về chuyện con nước đầu nguồn. Còn nàng, có lẽ cho đến lúc ấy mới ra khỏi chuyến đi tìm tình yêu vĩnh hằng do chính nàng nghĩ ra. Các anh là chưa bao giờ đến đầu nguồn con sông này hay sao? Nàng bắt đầu tham gia vào cuộc chuyện trò. Tôi với nàng quần đám người trai trẻ ấy một hồi thì rõ dần mọi chuyện. Với bọn họ thì thế giới gồm có cái xóm làng như không người ở nằm tiếp giáp với dãy núi như lúc nào cũng bị đè nén bên dưới những đám mây màu xám, gồm có con sông nước khi đầy khi vơi, mà tự cổ chí kim, bao nhiêu lớp người sinh ra và lớn lên ở miền đất bán sơn địa ấy đều giữ trong lòng niềm kính ngưỡng cái thác nước trên sông, nơi ranh giới giữa thế giới con người và thế giới của những thế lực siêu hình, từ thác nước trở xuống hạ nguồn là thuộc về con người, từ thác nước trở lên thượng nguồn là không thuộc con người, cho nên, tự cổ chí kim là chưa có người nào dám một lần thử bơi qua cái thác nước ấy, và cũng chưa có ai lại đi nghĩ đến chuyện đi đến đầu nguồn con sông ấy một lần cho biết, bởi tự cổ chí kim, những con người sinh ra ở miền đất ấy đều nghĩ sông là bắt đầu từ chỗ bắt đầu của đất, cái thế giới được thu nhỏ lại trong tầm mức nghĩ ngợi của những con người ở đây hoá ra lại là nơi chốn có vẻ bình yên nhất trời đất, bởi, lúa thóc thì chỉ lấy từ đất, cái mảnh đất nhỏ hẹp, cằn cỗi, trải theo chân núi, ngày in dấu chân con người, đêm có thêm dấu chân lũ nai lũ thỏ, thịt thà rau cỏ thì chỉ lấy từ trên rừng, thịt là thịt của con chồn con mang, rau cỏ là rau cỏ mọc hoang, con cá con cua thì lấy từ con sông có cái thác nước thiêng, cho nên giăng câu là để bắt con cá vượt thác chứ không phải để bắt con cá xuôi thác, bởi, con cá xuôi thác thì đến từ thế giới không phải của con người. Khi hiểu ra thuyền đã mắc lưới trên sông, nàng vui vẻ gọi đám người trai trẻ ấy là các vị thần sông nước của thời hiện đại. Các anh quả là những vị thần của thời nay, bởi vì thần mà cũng biết cởi trần đi giăng câu. Nàng nói. Các anh chàng người tiền sử (từ lúc ấy tôi gọi bọn họ là các anh chàng người tiền sử) chắc chỉ hiểu câu nói của nàng theo cách nửa nạc nửa mỡ, nên nh chàng cao to nhất đám nói ra một câu có vẻ cũng nửa mỡ nửa nạc. Hay là hai anh chị cũng làm thần thời nay, cởi trần với bọn này, đi bắt con cá vượt thác cho biết! Bọn họ lại cười ầm lên. Nhưng cái thác nước ấy có ở gần đây không? Tôi hỏi. Thấy bọn họ im, chẳng đáp, thì biết là mình đã chạm vào một thứ kiêng kỵ nào đó của vùng đất ấy, nên phải lảng sang chuyện khác. Này các anh chàng người tiền sử, thuyền thì chúng tôi tặng cho các anh đấy. Tôi quyết định hơi đột ngột, nên nàng cũng tỏ ra ngạc nhiên. Còn đám người tiền sử ấy thì bắt đầu nhảy múa quanh tôi với nàng. Nói nhảy múa là để củng cố thêm cho cái ý nghĩ tiền sử của tôi đấy thôi, chứ thật ra là bọn họ vừa nhảy cẫng lên vừa la ó, rằng, bọn họ sẽ mang cái thuyền nan ấy về làng để mùa lên làm đồ đựng thóc. Quyết định của bọn họ cũng hơi đột ngột như quyết định tặng thuyền của tôi, nên lại đến lượt tôi ngạc nhiên. Thuyền là để bơi dưới nước chứ tôi chưa bao giờ nghe nói là để chứa thóc.

Cái xóm làng nằm ven chân núi quả là vùng cư trú thuộc thời Đá Mới như cách nghĩ của tôi. Về sổ bộ của làng thì những con người ở đấy thuộc thời hiện đại, nhưng cách chăn nuôi trồng trọt của bọn họ lại thuộc thời nông nghiệp sơ khai. Tức vừa cày bằng bò ở ruộng nước, vừa cày bằng đao, trồng bằng lửa ở ruộng rẫy. Còn như nuôi con heo, thì giống heo vừa lấy ở đồng bằng, vừa lấy từ các cuộc săn bắt đám heo hoang trên rừng. Người ta vây quanh tôi và nàng với những ánh mắt hiếu kỳ, y như có một anh ngoại quốc nào đó đã lọt vào làng. Mọi thứ là cũng tại anh chàng người tiền sử cao lớn nhất đám. Vừa đưa tôi đến làng thì anh ta giới thiệu ngay với người làng rằng chúng tôi đã chèo thuyền tự dưới biển lên. Biển thì anh ta cũng vừa mới nghe được qua cuộc chuyện trò với chúng tôi ở bờ sông. Các anh chị định đi đâu mà đi bằng thuyền? Dường như người ta chỉ muốn biết mỗi chuyện đó. Thì tôi với nàng cũng cứ nói thật là mình đi tìm con nước đầu nguồn con sông ấy. Nói ra lời ấy, chúng tôi có ý chờ những gợi ý nào đó của người làng về con đường dẫn đến nơi mình chưa hề biết. Nhưng không. Con nước đầu nguồn con sông ấy thuộc về cái thế giới nằm bên ngoài thế giới hiểu biết của bọn họ. Những anh chàng người tiền sử khiêng thuyền đã về tới làng. Hai anh chị đã tặng cho làng mình đấy. Bọn họ nói, và đặt chiếc thuyền nan xuống trước mọi người. Lập tức người ta kéo đến chỗ chúng tôi, dường chẳng sót một người làng nào. Người ta đến là để xem hai kỳ quan mới của thế giới: Thuyền chèo lên non. Và hai con người đang trên con đường đến nơi bắt đầu của đất.

 

[còn tiếp]

 

_________
MỘT CÁCH NÓI KHÁC CỦA NIỀM KHAO KHÁT là cuốn tiểu thuyết thứ sáu của Nguyễn Thanh Hiện [1. Những Tháng Năm Nghiệt Ngã - 2. Trở Lại Xương Quơn (NXB Văn Học, Việt Nam, in năm 2007) - 3. Vật Gia Bảo Của Một Dòng Họ - 4. Bên Này Trần Gian - 5. Người Đánh Cắp Sự Thật (NXB Văn Học, Việt Nam, in năm 2008) - 6. Một Cách Nói Khác Của Niềm Khao Khát - 7. Rốt Cuộc Thì Bọn Họ Là Ai?], sách gồm 38 chương, chưa nhà xuất bản nào in.

 

 

Đã đăng:

... Mặt đất này thì rộng lớn, và con sông nào cũng có chỗ bắt đầu của nó, mà các người đi tìm nguồn con sông nào? Ông hỏi. Tôi nói là con sông chảy qua quê nàng. Con sông quê của người mình yêu. Ông quảng diễn thêm câu nói của tôi. Rồi bảo hai chúng tôi có vẻ khăng khít nhau thế còn đi tìm nguồn con sông đó chi nữa. Tôi nói đó là bí mật của tình yêu. Hoá ra không phải chỉ tôi với nàng mới có bí mật của tình yêu. Đêm đó, nơi căn nhà lá ở giữa rừng, người coi rừng đã nói cho chúng tôi biết ông cũng có một bí mật của tình yêu... (...)
 
... Rằng từ khi loài người biết truyền những ý nghĩ cho nhau bằng máy móc thì thần không còn trực tiếp cai quản núi rừng, nhưng không phải là không để mắt đến chuyện con người, rằng trong cuộc chuyển lưu lớn lao của vạn hữu thì không phải hễ là thần thì nhìn thấy được sự thật của mọi sự, rằng ngày xưa, ngay chính bản thân vũ trụ cũng chưa biết mình do đâu mà có, thì lớp cha ông của thần quả đã cho rằng hễ là thần thì biết hết mọi sự, từ đó mới có chuyện toàn trị của các vị thần... (...)
 
... Xin chào bác homo sapiens! Đám đồng bào của ta nơi mặt đất đã bớt lạnh lẽo gọi ta là bác homo sapiens. Là homo sapiens, hay không là homo sapiens, thì có hệ trọng gì đâu. Bởi điều đáng nói là ta đã vượt qua cuộc thử thách lớn nhất trong trời đất, cuộc thử thách diễn ra hằng triệu triệu năm, để được thiên hạ trong trời đất gọi ta là con người... (...)
 
... Có cái gì là chẳng ngoi lên từ cõi hỗn mang? Một vùng trời đất âm thầm, từ đấy ngân vang những giai điệu nguyên sơ. Sáng tỏ và u uẩn. Ôm ấp và cô đơn. Mở và khép. Gặp lại và chia xa... Buổi ban đầu ấy là một cuộc lưu luyến kỳ cục giữa ngẫu nhiên và tất yếu. Ai đã ngang qua đất trời lãm thuý?... (...)
 
... Lại hỏi về cây thong dong. Thưa, có bao giờ thấy mặt trời mặt trăng vội vã đâu, nếu là biển, thì sáng tinh mơ, mặt trời trườn đi trên nước, nếu là bầu trời đêm có nhiều mây, thì mặt trăng ẩn hiện ở trong mây, cái cách như thế của mặt trời mặt trăng thì gọi là thong dong... (...)
 
Mùa thu năm ấy chúng tôi ngược về thượng nguồn một nhánh sông của con sông quê nàng. Và bị cầm chân ở ngôi làng ấy. Khoa học hiện đại dù đã phát hiện được bao nhiêu là luật lệ của trời đất, nhưng những con người ở ngôi làng ấy vẫn khăng khăng vị thần làng của mình là thần của tất cả các thần, là tổ thần, không có vị này thì không có người làng và cũng không có cả loài người... (...)
 
Quả tình mùa thu ở đây vàng một nỗi ám ảnh. Ám ảnh bởi một thứ quá khứ đã được tinh kết thành thứ từ vựng tinh tế, kiêu sa, và không phải cứ nghe thấy là hiểu. Ám ảnh bởi một thứ hiện tại được biểu lộ trong một diện mạo có vẻ minh bạch, nhưng không dễ gì cứ trông thấy là hiểu. Đúng là tôi với nàng không dễ gì rời khỏi một nơi chốn như thế... (...)
 
... Một người đàn ông nằm trên mặt đất, chắc là đã chết, trước mặt có con bò rừng đứng trong tư thế kỳ lạ, như đang sắp ngã xuống, ruột gan tràn ra bên ngoài, bên sườn có cắm một ngọn lao. Đó là nội dung một phiên bản tranh hang động thời tiền sử treo ở nhà vị trưởng tế... (...)
 
... Hãy nói cho tôi nghe là ngài căn cứ vào đâu để bảo đó là sự thật? Một văn bản bằng giấy ư? Hay một văn bản bằng đá? Mà chép trên giấy, hay trên đá, thì đều là ngôn ngữ của con người, ai dám bảo với ngài rằng ngôn ngữ ấy thuật lại đúng sự kiện đó, xin ngài hãy nhớ cho, khi ngài tham gia vào việc nói về sự kiện đó thì nó không còn là nó, mà sẽ hiện ra theo cái cách của ngài nói về nó... (...)
 
... Khi kể ra những sự tích đó, người làng muốn nói với chúng tôi, mà họ vẫn đinh ninh là những nhà báo của chính phủ, rằng cái gò hoang là bản gia phả chung của các dòng họ trong làng, rằng những thế kỷ đã trôi qua, các dòng họ đó vẫn giữ gìn bản gia phả đó như giữ gìn dòng máu tộc họ của mình... (...)
 
... Các vị đại diện nhà nước bắt đầu thay nhau nói, rằng cái gò hoang không phải là nghĩa địa, nghĩa địa sao lại không có mồ mả, mà chỉ là nghe kể lại rằng tổ tiên của dân làng đã chôn ở đó, nên việc yên nghỉ đó cũng chỉ là khái niệm, cũng như nói cái gò đó là gia phả chung của các dòng họ thì cũng là khái niệm, nói gọn lại, dẫu cái gò hoang đó không còn thì những khái niệm kia vẫn còn. Nhưng về chỗ này thì đám dân làng không dễ gì mủi lòng để các vị đại diện nhà nước biến mồ mả tổ tiên thành những khái niệm... (...)
 
... Ta phải nói thế nào với các người đây? Sự cư trú của con người trên mặt đất này thì có vẻ ngẫu nhiên. Chẳng ai muốn chọn những nơi nghèo nàn như ngôi làng ấy để sống. Mà chuyện ngẫu nhiên như thế xảy ra khắp nơi trên mặt đất này. Và bằng trí tuệ của mình, con người đã vượt qua được biết bao cái ngẫu nhiên để làm nên những cuộc đổi thay có tên là những nền văn minh nhân loại... (...)
 
... Nhưng nàng bảo để có nền văn minh đương đại, các nhà khoa học đã phải cống hiến cho nhân loại cả tinh thần lẫn thể xác của họ. Việc làm cái nhà máy thuỷ điện là thừa hưởng thành quả của văn minh đương đại, nhưng người chỉ huy công việc làm này lại nói về nền văn minh này theo ngôn ngữ của loài chim là điều chẳng thể chấp nhận. Bởi trong mối quan hệ giữa các loài trong hiện tại thì chỉ có loài người nói về loài chim, chứ không thể có chuyện loài chim nói về loài người... (...)
 
... Chúng tôi lại lặng đi trong giây lát. Trí tuệ con người lớn lao biết bao mà cũng nhỏ nhoi biết bao trước vẻ kỳ bí của tự nhiên. Nàng nói. Và khẽ rùng mình. Tôi cũng khẽ rùng mình... (...)
 
... Đây là thời hết thảy các chính phủ trên mặt đất này mở miệng là nói phải làm giàu đất nước, là thời mà sự giàu có được coi như niềm đam mê mới mẻ nhất trong việc trị nước của các vị nguyên thủ của hầu hết các quốc gia hiện đang có mặt trên bản đồ thế giới, là thời mà việc xuất nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia được coi như chìa khoá mở cửa vào cõi giàu có, bởi từ cân đường cân thịt cho đến tri thức của con người đều được xem là hàng hoá... (...)
 
... Nàng hỏi có phải anh ta đang nói đến ảo ảnh cuộc đời hay không? Anh ta bảo con người là sinh vật duy nhất biết có ngày mai, trong cái gọi là ngày mai thì có cái chết, biết là chết mà vẫn cố tạo ra bao nhiêu chuyện để hướng tới gọi là tương lai, nếu như cái ảo ảnh ấy không phải là vĩnh hằng, tức chết trước cái chết, thì loài người đã treo cổ chết cả từ lâu... (...)
 
... Em chết mất. Nàng chỉ kịp nói thế. Và bị dòng nước cuốn phăng đi. Dốc hết cả sức lực, tôi lao theo nàng. Bấy giờ thì tôi nhìn thấy quá rõ cái tương lai chẳng mấy tốt đẹp của chúng tôi. Nên đã đi đến quyết định có chết là phải chết cùng nàng. Nhưng rồi tôi cũng chẳng thể thực hiện được cái quyết định đó. Bởi con nước đã đẩy tôi dạt vào bờ. Có nghĩa là không chết. Còn nàng thì chẳng hiểu là con nước cuốn về đâu... (...)
 
... Con người đang hô hoán lên khắp nơi rằng mình đang toàn cầu hoá. Nhưng máu lại đang chảy rất nhiều trong các cuộc chiến nhằm để chia tách một quốc gia cũ ra thành nhiều quốc gia mới. Con người đương tự hào với nhau rằng mình đương củng cố ngôi nhà chung của mình trên mặt đất. Nhưng ta nghe dường như đây là thời mà một tay đại bịp cũng muốn dựng tượng đài riêng cho mình? Dường như đây là thời trăm nhà đua tiếng, kẻ đê hèn cũng có thể nói được lời cao cả?... (...)
 
... Thời mà cha ông bọn này chỉ ăn củ mài để sống có phải là thời thần thánh nhập vô các vị vua quan, khiến các vị chỉ lo chuyện bòn rút của dân mà không lo việc cơm áo cho dân? Tôi với nàng đã điên đầu với những câu hỏi như thế. Có vẻ như khi vây hỏi chúng tôi về nỗi bất hạnh, bọn họ đã từ cảnh trí siêu hình tụt xuống cảnh trí trần thế? ... (...)
 
... Vào một ngày có lũ khỉ đùa giỡn trên cây còn lũ chim bồ chao thì làm như núi rừng là của chúng, một người đàn ông và một người đàn bà ngồi ở nơi gộp đá ấy nhìn trời đất đang chìm trong hoang dã. Làng xóm của ta là ở đây. Người đàn ông nói. Người đàn bà lấy một viên sỏi cuội vạch lên gọp đá như viết lên một lời thề... (...)
 
... Trên các dòng sông ta đi lại đã bắt đầu nghe thấy mùi máu. Máu của các cuộc thể nghiệm về các cuộc cãi vã. Lịch sử là biên niên sử về các cuộc thể nghiệm các cuộc cãi vã. Cho đến lúc nước trên các dòng sông pha màu máu, thì ta, kẻ náu mình trên sông nước, chỉ còn biết thở dài. Thì còn biết làm sao khi các cuộc thể nghiệm đã thuộc về cách thức tồn tại của con người... (...)
 
... Các nhà thông thái có vầng trán vừa đủ để tỏ ra mình là thông thái đang rao giảng thứ thuyết lý cao siêu vốn lấy từ kinh điển của thế kỷ trước nhưng đã được sửa sang qua nhiệt tình cháy bỏng của các vị. Nếu không có nó, đám trẻ tuổi các người hỏng bét hết... Cứ sau một hồi giảng thuyết, các vị lại thét vào tai đám cử toạ trẻ tuổi thứ lửa hoả ngục chết người ấy... (...)

 

 

----------------

 

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018