thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Những chuyến qua sông và những phận người

 

 

NHỮNG CHUYẾN QUA SÔNG VÀ NHỮNG PHẬN NGƯỜI

 

Những năm đầu thập niên 80 tôi thường đi miền Tây, hầu như tuần nào cũng một hai chuyến. Thời đó xe cộ còn khó khăn lắm, và cả thủ tục hành chánh nữa; muốn đi ra khỏi nơi cư trú thì phải có giấy phép đi đường mới có thể mua được vé và đăng ký tạm trú ở nơi đến. Tôi làm hợp đồng khâu phát hành cho một tờ báo ở Sài Gòn nên được cấp giấy. Công việc của tôi là nhận khoảng 1000 tờ báo ở toà soạn, rồi mang về phân phối lại cho các cơ quan và sạp báo ở các tỉnh bán lẻ. Các tỉnh ở miền Tây là nơi tôi thường chọn để đi, thường thì Cần Thơ, Mỹ Tho, Bạc Liêu... Thời đó những chiếc cầu Mỹ Thuận, Cần Thơ chưa có, để qua sông chỉ có thể đi bằng phà. Chuyến nào tôi cũng phải qua ít nhất là một chuyến phà Mỹ Thuận, hay hai, ba chuyến, như phà Cần Thơ, phà Vàm Cống. Người miền Tây thường không gọi là phà, mà gọi là bắc.

Vì sao người ta gọi con tàu chở khách sang sông là phà hay là bắc? Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì:

Phà hay bắc (phương ngữ Nam bộ, gốc tiếng Pháp: bac) là một chiếc tàu thủy (hoạt động trên sông hoặc ven biển) chuyên chở hành khách cùng phương tiện của họ trên những tuyến đường và lịch trình cố định. Có phà chỉ chuyên chở người, nhưng cũng có loại phà được thiết kế để chở tàu lửa hay xe hơi. Phà là một trong những phương tiện vận tải hữu ích nối liền nhiều điểm với nhau ở những thành phố vùng sông nước và, trong nhiều trường hợp, rẻ hơn nhiều so với việc xây dựng cầu hay đường hầm.

Những chuyến qua sông của tôi quá nhiều. Về sau, ký ức không níu giữ được mấy, tôi không còn nhớ được chi tiết của từng chuyến đi, chỉ đọng lại những hình ảnh người hàng rong rao bán xô bồ, xe đò sắp hàng dài chờ chuyến, mưa mịt mùng trên con sông rộng, những chồng báo nặng và bộ đồ ướt lèm nhèm trên người, mùi khai nồng của nước tiểu... Và có lần, một xác người trần truồng, mất đầu, nằm sấp, nhìn thoáng qua không biết là nam hay nữ, trôi bập bềnh rồi tấp vào cạnh bên chân phà. Người ta bảo cái xác nổi lên từ trưa, bấy giờ đã xế chiều. Những người đứng trên phà chốc chốc lại lấy cây sào dài cố đẩy ra, nhưng nó giạt ra rồi lại tấp vào như thể không muốn rời bỏ cái đám nhân quần từng là đồng loại. Vậy đó, tôi chỉ nhớ toàn những hình ảnh tồi tệ như vậy, nhưng cảm xúc của một thời trai trẻ thì cứ bám chặt vào ký ức.

Mấy mươi năm sau, lần lượt cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ được xây lên hoành tráng và tiện lợi, có khi lòng tôi nổi cơn sến, lại tự hỏi người ta mang những chiếc phà này đi đâu rồi, và những người sống nhờ vào chúng cũng đã ra sao.

Tôi đọc được trên mạng những bài thơ có tứ nói về những lần thi sĩ qua sông, thường là những chiều, hay đêm, hiu hắt trong thời chiến. Mà ngộ, theo những gì tôi đọc được, thì có sự trùng hợp là có ít nhất ba nhà thơ của miền Nam cùng viết về một không gian: bắc Vàm Cống; gần như cùng một thời điểm trong ngày: hai bài vào buổi đêm và một bài vào buổi chiều sập soạng; cùng một tâm cảnh: thân phận con người nhỏ nhoi trước sông nước và trước thời gian; cùng một thời điểm tàn khốc của lịch sử: thời chiến; cùng chút hơi rượu chạnh lòng giang hồ nhưng ngang tàng và bi phẫn: tuổi trẻ. Họ là các nhà thơ Tô Thùy Yên, Cao Thoại Châu và Huy Văn.

Tò mò, tôi tìm trên google về địa danh “bắc Vàm Cống” thì có những thông tin như sau:

Bến phà Vàm Cống nằm trên quốc lộ 80, nối liền 2 tỉnh Đồng Tháp và An Giang, với bờ phía Đồng Tháp đặt tại ấp Bình Lợi, xã Bình Thành, huyện Lấp Vò, và bờ phía An Giang đặt tại khóm Thới An, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên.

Tôi ghi lại dưới đây những bài thơ của thời chinh chiến.

 
ĐÊM QUA BẮC VÀM CỐNG
 
đêm qua bắc Vàm Cống
mối sầu như nước sông
chảy hoài mà chẳng cạn
cuốn phăng kiếp bềnh bồng
 
tôi đi xuống Lục Tỉnh
để rắc bỏ ven đường
tài, tâm hồn, kỷ niệm...
giữ làm gì đau thương
 
đã đôi lần nhầm lẫn
còn gõ cửa ái tình
van nài chút lưu luyến
của không về người xin
 
tôi châm điếu thuốc nữa
đốt tàn thêm tháng năm
chiếc bắc xa dần bến
đời xa dần tuổi xanh
 
nước tách nguồn về biển
sầu lại chảy về hồn
khi tôi vuốt lấy mặt
nghe bàn tay trống trơn
 
                   Tô Thùy Yên
 
***
 
ĐÊM QUA BẮC VÀM CỐNG
 
Lại về đây lững thững lên phà
Thảnh thơi như người đi hóng gió
Đôi bờ sông bên bồi bên lở
Sự phũ phàng tàn nhẫn của thời gian
 
Lại hứng của trời ngọn gió sông mát rượi
Thả hồn theo đám lục bình đêm
Và lại nghe tiếng phà róc rách
Cam lòng như thế đã bao năm
 
Người đàn ông mù và con chó tinh khôn
Vẳng đâu đây tiếng hò sông Hậu
Tiếng bể dâu đang lục tìm ký ức
Giai điệu buồn tiếng hát đi rong
 
Hàng quán bên này bên kia rất khác
Bởi lòng ta đâu còn giống năm xưa
Trong tâm khảm có một phần chai sạn
Biết bao mùa dãi nắng dầm mưa
 
Chiếc phà chở những lòng đời nặng lắm
Thêm lòng ta nên dáng hơi nghiêng
Hai dòng người qua chung cái bến
Dáng liêu xiêu phảng phất những cơn buồn
 
Qua Vàm Cống nhớ “Phong Kiều dạ bạc”
Bến và bờ còn đó vẫn vô tâm
Tiếng người nói hoà trong tiếng nước
Lạc đâu rồi tiếng quạ kêu sương!
 
Buồn và cũng giận thời gian
Giận con sông trôi đi nhiều thứ
Chuyến phà chở ta đi ngày ấy
Nhẹ nhàng không vướng bận bên trong!
 
                            Cao Thoại Châu
 
***
 
CHIỀU QUA BẮC VÀM CỐNG
 
Buổi chiều, mưa đổ trên sông vắng
Công-voa dừng lại đợi chuyến phà
Bến bắc chập chờn trong sương trắng
Một dòng trăn trở đục phù sa
 
Chiều qua sông thoáng buồn se sắt
Mưa thấm poncho, lạnh cõi lòng
Lạnh tràn lên mắt, lên thép súng
Lính trẻ xa nhà nhớ viển vông
 
Ta qua sông. Thì đang qua sông!
Mây mù giăng lối, trắng mênh mông
Mưa đọng hạt mềm trên nón sắt
Từng giọt rơi thầm vào hư không
 
Con đò đẩy ngược để thả xuôi
Chòng chành sóng vỗ, lục bình trôi
Lính cũng phong trần trên vạn lối
Bềnh bồng như đám lục bình thôi!
 
Đường ra mặt trận vùng châu thổ
Mang dấu phù sa, lấm đất màu
Giày sault lết bết, mưa lầy lội
Mỗi bước chân qua, một nỗi sầu
 
Tuổi trẻ thở dài vì chinh chiến
Chiều qua Vàm Cống thoáng chạnh lòng
Bên bồi, bên lở, sông vẫn đục
Cho đến bao giờ nước lại trong?
 
                            Huy Văn
                           (Trên đường vào Chi Lăng , Thất Sơn)
                           10-1973
 

Bài viết lan man này lẽ ra ngừng ở đây, nhưng không dưng tôi còn muốn thêm một đoạn, một bài thơ nữa, cũng về bến, bến đò; nhưng tâm tình và hoàn cảnh của nó thì khác, ở một thời đoạn khác: thời bình.

 
BẤT CHỢT TRÊN BẾN ĐÒ NGANG
 
Chiều qua bến đò ngang
tình cờ nghe bài hát cũ
người hành khất mù và cô gái nhỏ
cây guitar lạc phím
cũ mèm
chiếc thau nhôm móp méo
vàng ố
những đồng tiền
 
Cô bé hát
nỗi đau mênh mông của người tình phụ
chiều bay mưa hiu hắt dòng sông
khách qua đò cuối năm lưa thưa
có người dừng lại
mở bóp
tôi cho tay vào túi
rỗng không
 
Mấy mươi năm rồi người con gái qua sông
tôi viết lời ca sao buồn quá vậy
những lời ca cho lòng tôi thủa ấy
ai biết bây giờ
bố con người hành khất dùng để hát ăn xin
 
Chiều rây rây những bụi mưa êm
kỷ niệm cũ không hề sống lại
trong tôi chỉ loé lên câu hỏi
biết bố con người hát rong kiếm đủ sống không?
 
                                                       Đinh Trầm Ca
 

Rồi lại nhớ có lần Võ Quốc Linh đọc cho nghe hai câu lục bát mênh mang, buồn và đẹp, mà không nhớ là của ai:

Lang thang trong vạn hồn chiều

Nghe mùa gãy đổ dưới nhiều bến sông

Thơ của ai vậy Linh? Ừ, có khi lẩn thẩn vậy đó, những bến sông và những phận người!

 

SG, 07/03/2012

 

 

-----------------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018