thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Phan Xuân Sinh: Những suy nghĩ về ngày 30/4

 

Bài phỏng vấn dưới đây do nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình thực hiện. Một bản câu hỏi đã được gửi đến nhiều văn nghệ sĩ trong và ngoài nước. Tiền Vệ sẽ lần lượt đăng tải loạt bài này.
 
Tiền Vệ

 

_______

 

PHAN XUÂN SINH: NHỮNG SUY NGHĨ VỀ NGÀY 30/4

 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Tôi cố tình dành một khoảng trống cho tên gọi ngày 30-4. Xin bạn thử tìm một tên gọi khác cho ngày này, ngoài những chữ vẫn được gọi kêu thông thường như ngày Quốc Hận, Tháng Tư Đen, ngày Giải Phóng hay ngày Đại Thắng Mùa Xuân...? Và tại sao bạn lại muốn gọi như thế?

Phan Xuân Sinh: Theo tôi có cần thiết phải đặt ngày này một cái tên khác không? 37 năm nay ở hải ngoại thì cho ngày này là Ngày Quốc Hận, Tháng Tư Đen. Còn trong nước thì lại gọi là Ngày Giải Phóng, Ngày Đại Thắng Mùa Xuân. Nghe tên gọi là ta biết ngay họ thuộc thành phần nào rồi, quốc gia hay cộng sản. Nó đã ăn sâu trong đầu óc chúng ta. Nếu đứng bên này mà gọi lộn là Ngày Giải Phóng hay Đại Thắng Mùa Xuân thì sẽ gặp ngay búa rìu dư luận phang tới tấp lên đầu, nhân phẩm sẽ bị bôi nhọ ngay lập tức. Còn ở trong nước mà gọi là Ngày Tháng Tư Đen hay Ngày Quốc Hận thì ở tù mục gông. Thôi thì ta nên để nguyên vậy cho nó yên thân. Ông, bà nào mà chơi ngẳng gọi trật thì sẽ biết ngay hậu quả ra sao. Cũng vui thôi. Hình như nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình quen cung cách đổi mới, không chịu những gì trở thành khuôn mẫu nên lối đặt câu của cô rất “ấn tượng”. Thế nhưng chuyện nầy không phải chơi đâu. Nếu dư luận chấp nhận thì không nói gì, còn không thì tan xác như chơi. Tôi thì sợ mấy cái chuyện lẩm cẩm chính trị kiểu nầy. Nói kiểu nào cũng chết.

 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Nhà thơ Nguyễn Duy ở Việt Nam, với bài thơ “Nhìn từ xa... Tổ quốc” mà nhiều người vẫn tâm đắc, đã có lần viết câu thơ sau đây trong bài “Đá ơi”: “Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh / Phe nào thắng thì nhân dân đều bại”. Không biết bạn đồng cảm như thế nào với thi sĩ về hai câu này, cũng như liệu bạn có thể cảm tác thêm một vài câu “lấy liền” cho dòng thơ tháng 4 không?

Phan Xuân Sinh: Quả thật những điều Nguyễn Duy nói không sai. Nhưng theo kiểu này thì chúng ta ai cũng biết, và khi đọc lên ta cảm thấy nó “huề vốn” chứ nó không có gì là mới cả. Bây giờ chúng ta cũng đang ở “Từ xa tổ quốc” nhìn về quê nhà không có chiến tranh. Nhân dân cũng chỉ từ “bại” tới “bại”, nó còn tệ hại hơn trong lúc còn chiến tranh.

Xin lỗi tôi không có cảm hứng làm thơ theo kiểu này.

Tôi xin trích dẫn một đoạn thơ cũ của tôi liên quan đến cuộc chiến rất lâu rồi. Từ khi còn chiến tranh thì chúng tôi đã biết thắng hay thua, kẻ có lợi là đám chóp bu. Còn nhân dân hay những thằng lính như chúng tôi thì từ chết tới chết:

“thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau
nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu
bày làm chi trò chơi xương máu
để đôi bên nuôi mầm mống hận thù...
(“Uống Rượu Với Người Lính Bắc Phương”, trong tập thơ Đứng Dưới Trời Đổ Nát)

 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Cứ mỗi 365 ngày, vào thời điểm này, chúng ta lại có dịp nghe thấy hoặc chứng kiến “người anh em” trong nước tưng bừng giăng thêm khẩu hiệu, biểu ngữ, và cờ phướn tung bay ngập lối, cùng pháo hoa kèn trống diễn binh... như một thứ men say chiến thắng, trong khi đó ở hải ngoại thì những người lữ thứ kỷ niệm ngày 30/4 như một tưởng nhớ đau thương quốc hận. Như thế liệu tâm hồn bạn lúc này đang bay bổng ở đâu, khi gõ lại từng đường dây biến cố lịch sử mỏi mòn ấy? Bạn có nhớ tại sao lúc ấy bạn quyết định ở lại hay ra đi không?

Phan Xuân Sinh: Trước khi trả lời câu hỏi này, tôi xin được xác nhận. Trước 30/4/1975, tôi là người lính của Miền Nam. Một người lính tác chiến trực diện với chiến trường, thế nhưng khi cầm súng chúng tôi không có một chút xíu nào hận thù với người lính bên kia. Cuộc chiến dai dẳng quá, chúng tôi cũng chỉ thụ động cố gìn giữ đất đai và chỉ chống trả cố xua họ về bên kia vĩ tuyến. Có đôi khi quá sức mệt mỏi, bi quan nên nghĩ rằng bên nào thắng cũng được, miễn sao đất nước hoà bình, không còn tiếng súng. Thế nhưng cuối cùng chuyện giữ nước không thành công, trở thành bại trận. Cái giá mà chúng tôi phải trả cho cái ngày hoà bình thật vô cùng cay nghiệt. Có người chôn thân trong trại cải tạo, những người còn sống như những thây ma, vô hồn. Họ dùng những đòn thù quất lên đầu chúng tôi.

Cho nên cái ngày 30 tháng 4 năm 1975, cái ngày hoà bình thực sự trên đất nước cũng mở đầu cho cái ngày lao khổ mà chúng tôi nhận lãnh. Lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng dân tộc hoà bình, thống nhất. Xoá bỏ tất cả để xây dựng. Nhưng người thắng trận quyết trả thù, phủ lên đầu chúng tôi những tội danh mà chúng tôi chưa hề hay biết. Là một người cầm bút, chúng tôi kể lại những chuyện nầy như là một chứng nhân để lịch sử sau nầy phán xét, chứ chúng tôi không trút sự hận thù trên ngòi bút. Riêng cá nhân, tôi có kể lại trong những hồi ức trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, đứng trên bến tàu nhìn con tàu cuối cùng nhổ neo, mà chân mình không bước xuống vì không đủ can đảm rời xa đất nước. 15 năm sống trong nước tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu cơ cực, tủi nhục, mà người dân gánh chịu. Cái giá phải trả cho sự chọn lựa thật vô cùng đắt đỏ với tôi.

 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Vào những lúc cuối đời, thường thì trong lòng người ta vẫn dấy lên một chút lương tri đạo đức làm người gì đó, và những câu nói sau đây của ông Võ Văn Kiệt được xem như là những điển hình đáng ghi nhận: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. Là một người dân Việt, mà lại là một người cầm bút tử tế, bạn nghĩ chúng ta phải làm thế nào để có thể băng bó vết thương chung của dân tộc, khi hiểm họa của người phương Bắc càng ngày càng phủ chụp đất nước sau 37 năm Việt Nam vỗ ngực xưng hoà bình thống nhất?

Phan Xuân Sinh: Ông Võ Văn Kiệt nói câu đó sau khi ông không còn chức tước quyền lực. Thời của ông làm Thủ Tướng là thời kỳ nhân dân Việt Nam kiệt quệ, sống trong sự kềm kẹp của một hệ thống chuyên chính vô sản. Lúc đó mà ông tuyên bố như thế này thì dân chúng đỡ khổ biết mấy. Những lãnh đạo Cộng Sản tại chức từ Võ Nguyên Giáp, Trần Độ, Võ Văn Kiệt, họ khiếp sợ không dám hé môi để chiếc ghế của họ vững chắc. Đến khi trong tay hết quyền hành thì họ mạnh miệng phê phán để thể hiện một chút vì dân. Nhưng có ai nghe họ đâu, lời họ như nước đổ lá môn.

Theo tôi, chúng ta là những người đứng ngoài đất nước sẵn sàng quên tất cả để xây dựng đất nước. Thế nhưng ta muốn quên mà chính họ không muốn cho ta quên, cứ đào sâu ngăn cách. Họ cứ hô hào xoá bỏ hận thù mà tay họ không dám đưa ra. Chúng ta thụ động trong tay không có quyền hành thì dù ta có thiện chí cũng không thể làm gì được. Trong lúc này hiểm hoạ xâm lấn của Trung Cộng, đúng là lúc đoàn kết của toàn dân, thì họ không mở tay rộng để đón nhận.

Dù gì ông Võ Văn Kiệt cũng nói một câu nghe được.

 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Nếu bảo “thất bại trong hoà bình” mới là điều đáng lên tiếng luận bàn cho một lộ trình tương lai đất nước khả quan hơn, thì thử hỏi bạn có dám nói, dám viết, dám kiến nghị để lương tâm và chức năng của một người cầm bút không bị kiến cắn, kiến bò không? Và cho dẫu bạn không hề là một trong 75 vạn người mẹ đớn đau của những người con được phong tước anh hùng liệt sĩ gì đó, hoặc bị xem là “có nợ máu với nhân dân”, thì liệu bạn có phải bịt tai, bịt mắt để khỏi phải nghe hay thấy những bài ca rỗng tuếch nhai đi nhai lại ngợi ca xương máu chiến thắng?

Phan Xuân Sinh: “Thất bại trong hoà bình” sao tôi nghe câu này có cái gì trục trặc, oái ăm. Nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình muốn nói hoà bình đang hiện hữu trên đất nước không đáp ứng sự mong mỏi của toàn dân chăng? Như vậy thì tôi xin trả lời rằng: Có lẽ đất nước Việt Nam là trường hợp ngoại lệ, hoà bình kỳ quặc, dân tộc chia rẽ. Nếu hoà bình kiểu này thì chiến tranh còn hơn. Hàng triệu người bỏ nước, hàng trăm ngàn người tập trung vào tù, bị đối xử tàn tệ. Giáng lên đầu nhân dân những cái tát xây xẩm mặt mày: cải tạo công thương nghiệp, đổi tiền, kinh tế mới v.v.. trò chơi nào cũng chết người. Thỉnh thoảng tôi cũng viết lại những cảnh này vì chính tôi là nạn nhân.

Trong chiến đấu không ai muốn mình thua hay thất bại cả. Còn chuyện viết thì sợ gì mà không viết. Có một điều phê phán về chiến tranh bây giờ còn sớm quá, nói ra thì bên này hay bên kia chống đối. Bên này thì không chịu mình thua. Bên kia thì hả hê chiến thắng. Cho nên vấn đề 30/4 nó trở thành rối rắm. Trên Talawas trước đây tôi cũng có đăng một vài hồi ký nhân ngày 30/4. Tôi chỉ than thân trách phận cá nhân. Tôi cũng không dám khẳng định thua hay thắng. Không phải là sợ ai, nhưng nói trong lúc này không đúng thời điểm. Hơn 37 năm mà cứ tưởng như mới đây, đụng vào nó sẽ gây tranh cãi mà không đi tới đâu. Nói thế nào cũng chết. Đây là vấn đề nhạy cảm, dây dưa sẽ xảy ra đánh phá, lại đụng tới nhân phẩm. Thôi vấn đề nên để lịch sử sau nầy phán xét. Nhà văn không nên đụng vào nó. Hãy ghi lại những gì mình cảm thấy cần thiết, chân thật mà tránh sự ngộ nhận. Người hải ngoại đọc thì OK, người trong nước đọc thì cũng OK. Đừng lớn lối quá để cho họ sẽ nghĩ rằng mấy thằng thua trận chạy thục mạng, qua đây nói dóc. Còn cái chuyện ca tụng chế độ, cuộc chiến đấu thần thánh, những bài hát mà tiếng rống làm cho mọi người khiếp sợ, điếc tai, thì chắc chắn không ai bằng Cộng Sản.

 

Nguyễn Thị Thanh Bình: Ông Lê Duẩn đã từng biện bạch rằng “Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải là của riêng ai”. Vậy thử hỏi nỗi đau của “triệu người buồn” kia, cũng hệt như nỗi đau của nước sắp mất, và (ngôi) nhà Việt Nam sắp tan, không lẽ không phải là niềm đau chung của dân tộc? Đất nước chắc chắn nào phải của riêng ai, vậy tại sao lại chỉ có thứ độc quyền yêu nước hay bán nước? Sự kiện tiếp tục bỏ tù những trí thức yêu nước độc lập có phải là thái độ sợ hãi của một nhà cầm quyền chỉ muốn củng cố quyền lực hay không? Liệu bạn có thấy phấn khởi khi giới trẻ cũng bắt đầu quan tâm và muốn gánh vác phần nào câu chuyện lịch sử 30/4/1975 của cha ông mình?

Phan Xuân Sinh: Lê Duẩn, nghe tên ông nầy tôi còn khiếp sợ. Đây là một tên Cộng Sản sắt máu. Lúc đó ông bắt nhân dân Việt Nam phải “yêu nước tức là yêu chủ nghĩa xã hội”. Chính ông cùng với Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, đã biến ngày hoà bình trở thành ngày tang thương của dân tộc, đẩy hàng triệu người ra biển tìm đường vượt thoát, đẩy hàng trăm ngàn người vào tù và đẩy biết bao nhiêu gia đình đi kinh tế mới, chết trên rừng thiêng nước độc. Chế độ Cộng Sản họ dựng cái bình phong “nhân dân” để phủ che cho việc làm tồi tệ của họ, để dễ dàng cai trị, và họ bất chấp thủ đoạn. Chứ thực chất người dân như những con cừu non, họ xỏ mũi kéo đi. Họ sẵn sàng toa rập với kẻ thù của dân tộc, đàn áp những tiếng nói của lương tâm, để củng cố chiếc ghế ngồi vững chắc. Bên ngoài đất nước ta nhìn thấy rõ ràng nhất, họ ác với dân, nhưng nhu nhược, hèn yếu trước kẻ thù. Trí thức và tuổi trẻ trong nước đứng lên thì họ đàn áp, bẻ gãy, bỏ tù không nương tay. Trường hợp Việt Khang là điển hình nhất.

Lực lượng tuổi trẻ bây giờ chưa đủ mạnh vì họ chèn ép, cấm đoán, hạn chế những phương tiện truyền thông, nên ít người đọc và biết đến chế độ mất tự do, mất nhân quyền. Đến một lúc nào đó lực lượng tuổi trẻ ý thức được thì không ai cản nổi sự bùng nổ giống như phong trào Bắc Phi vừa rồi. Tôi tin rằng cái gì không thuận với lòng Trời thì khó có thể tồn tại.

 

 

-------------

Đã đăng:

10.05.2012
Lưu Nguyễn Đạt: ... Chúng ta có thể ngày nào đó tha thứ, bỏ qua, nhưng không bao giờ quên nổi tai ương quốc nạn của biến cố 30 tháng Tư 1975 và của những chính sách bạo tàn liên hệ... (...)
 
09.05.2012
Đinh Từ Bích Thúy: ... Khi mặc niệm về ngày 30 tháng 4, trong lúc này, gần bốn thập niên sau biến cố, Thúy thấy cái nhìn của mình không chỉ giới hạn trong khuôn khổ Việt Nam. Nó đã được hoàn cầu hóa, một phần vì những biến chuyển thế giới gần đây, như cuộc cách mạng ở Tunisia, Ai Cập, Lybia, Syria... [...] Mong rằng những người dân Việt ở Việt Nam đã và sẽ được hứng khởi, bừng mắt bởi những cuộc nổi dậy ở Trung Đông, cũng như những hành động dũng cảm của các nhà đối lập như Lưu Hiểu Ba, Lưu Hà, Ngải Vị Vị, Trần Quang Thành, v.v..., và tin vào khả năng tác động sự chuyển hóa của chính họ... (...)
 
08.05.2012
Nguyễn Hưng Quốc: ... Bi kịch của cá nhân thì nên quên. Nhớ, không ai chịu đựng nổi. Nhưng bi kịch của cả dân tộc thì phải nhớ. Quên, người ta đánh mất cơ hội để trở thành giàu có, sâu sắc. Và nhất là, trưởng thành. Với cá nhân, nước mắt là đá, nặng trĩu, kéo oằn người ta xuống; với dân tộc, nước mắt là ngọc trai, trong giếng Mỵ Châu, tỏa sáng, lấp lánh, làm người ta đẹp hơn. Và cũng cao hơn... (...)
 
07.05.2012
Chân Phương: ... Tôi hình dung đó là một bầy khủng long bằng sắt thép đêm ngày dò dẫm khắp rừng núi Trường Sơn tiến về phương Nam; nhưng khi chiếm được Sài Gòn thì nhanh chóng diễn ra tuồng kịch bi-hài của bọn khủng long chỉ có bộ óc không to hơn bát gạo bao nhiêu!... (...)
 
06.05.2012
Trần Trung Đạo: ... Tôi có một niềm tin sâu xa vào tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Giá trị của một con người không phải được thẩm định khi người đó bị xô ngã nhưng ở chỗ biết đứng lên và đi tới. Dân tộc Việt Nam cũng thế, đã bị xô ngã trong ngày 30-4-1975 nhưng đang đứng lên và đi tới... (...)
 
05.05.2012
Nhã Thuyên: ... Những bài học lịch sử ở trường phổ thông về “ngày giải phóng”, “chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”,... cũng như rất rất nhiều những kiến thức, nhiều quan niệm, nhiều “giá trị” tôi chỉ còn nhìn như những cụm từ rỗng nghĩa (nhưng không vô nghĩa). Tôi quan tâm đọc những gì mọi người viết về ngày này như một quan tâm về lịch sử-sống, những người có kí ức về nó đang kể lại, những tâm sự của những người chứng, là bên này hay bên kia, của bè bạn phương xa, của kẻ lạ, hay tôi quan sát, hỏi han, lắng nghe từ những người bình thường như chú xe ôm, bà hàng nước... (...)
 
04.05.2012
Phùng Nguyễn: ... Có những cái loa sẽ không bao giờ ngưng nghỉ việc phát ra tiếng ồn, đặc biệt những vu khống nhằm bôi đen đối phương của mình. Những tuyên truyền láo khoét mà tôi gọi là “nọc độc văn hóa” này lâu ngày sẽ trở thành những thực tế lịch sử không thể đảo ngược. Tôi cho rằng những vết nhơ văn hóa/lịch sử này cần phải được lật tẩy và xóa bỏ... (...)
 
03.05.2012
Hoàng Chính: ... Hiểm họa Hán hóa của những năm Bắc thuộc đã tỏ tường. Và người ta cũng chẳng bận tâm che giấu. Tôi đang nhìn thấy những ngày xuống biển mò ngọc trai, lên rừng săn voi lấy ngà, gom góp vàng bạc đúc tượng những ông Khổng, ông Trang, ông Mao, ông vân vân và vân vân... gửi về phương Bắc... (...)
 
Hồ Đình Nghiêm: ... Tháng 4, để mình lục soạn trí nhớ thử, từ cái cớ đau thương nọ hình như chưa có bài thơ nào gây ra xúc động? Mình luôn mang nỗi hoài nghi: Khi bạn chạm mặt buồn đau, tang thương nghiệt ngã, chắc bạn sẽ thấy bất lực khi muốn dùng chữ viết để bạch hóa nó ra. 37 năm qua, mình chưa đọc phải một cái gì nhức nhối về “cải tạo” về “vượt biển” về “lưu vong”... (...)
 
02.05.2012
Nguyễn Ngọc Bích: ... Đất nước chỉ còn có một hy-vọng độc-nhất, đó là đặt lên vai những tuổi trẻ hôm nay, những tuổi trẻ như Việt Khang, Huỳnh Thục Vy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Quốc Quân... và nhiều người còn trẻ hơn thế nữa! Họ là những con người trong sáng, không bị gánh nặng của quá-khứ đè trĩu trên vai, và đã từ lâu họ nhìn ra không còn Quốc-Cộng ở trong hàng ngũ họ nữa, chỉ còn “nghĩa đồng-bào” con Hồng cháu Lạc, con Rồng cháu Tiên!... (...)
 
Trần Mộng Tú: Ba mươi bảy năm rồi, người ta nói là Việt Nam đã hết chiến tranh, người dân đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhưng trên mạng, người Việt trong và ngoài nước vẫn có những dòng chữ gửi đến cho nhau mang theo những thông điệp thật buồn: Việt Nam tôi đâu? Người dân mất nhà, mất đất. Gái Việt bán sang Đài Loan. Gái Việt xếp hàng lấy chồng Đại Hàn. Không có Tự Do cho Việt Nam. Ngư dân Việt bị tầu Trung Quốc bắt ngay trên biển của mình. Nước Việt âm thầm mất dần từng mảnh cho Trung Quốc... (...)
 
01.05.2012
Nguyễn Tôn Hiệt: ... Tôi nghĩ, để “băng bó vết thương chung của dân tộc” thì, trước hết, ta không nên nhầm lẫn nó với những chiêu bài “hoà giải hoà hợp” giả hiệu. Không thể “băng bó vết thương chung của dân tộc” bằng cách tự đánh thuốc mê, tự chích thuốc tê, tự tẩy trắng mọi ký ức đau thương, khi vết thương thật sự vẫn còn nguyên trong tâm hồn và trên thể xác của biết bao người. Không thể “băng bó vết thương chung của dân tộc” khi những kẻ gây ra vết thương ấy không hề biết nhận lỗi, không hề biết sửa đổi, mà cứ tiếp tục dối trá, cứ tiếp tục tạo ra những tội ác mới, những sai lầm mới, cứ tiếp tục ca múa, giăng cờ, cụng ly trên chính vết thương ấy... (...)
 
30.04.2012
Bắc Phong: Tôi vẫn muốn gọi ngày 30 tháng 4 là ngày Quốc Hận vì tôi là công dân của nước Việt Nam Cộng Hoà bị mất vào tay Cộng Sản ngày đó năm 1975. Tôi buồn nhiều vì, giống số phận đau thương của nhân dân miền Bắc, nhân dân miền Nam cũng phải sống khổ dưới sự thống trị của Đảng Cộng Sản từ đó đến nay và chưa biết còn đến bao giờ nữa... (...)
 
Uyên Thao: ... Thời điểm đó, tôi đã nói với bạn bè là tôi thấy cuộc chiến không hề chấm dứt mà chỉ chuyển sang một đoạn đường mới kể từ ngày nào Sài Gòn rơi vào tay Cộng Sản. Trong nhận thức của tôi, cuộc chiến đang diễn ra dù gọi tên là gì, dù được giải thích ra sao thì thực chất chỉ là cuộc chiến do yêu cầu bảo tồn sự sống của người Việt trước nguy cơ huỷ hoại sự sống của một tập đoàn mê muội cuồng dại mà thôi... (...)
 
29.04.2012
Liêu Thái: ... Cứ mỗi dịp tháng Tư về, vườn nhà tôi thi thoảng nghe chó sủa đêm rồi lại tru, mẹ tôi bảo đó là chó sủa ma. Và mẹ tôi cũng nói rằng còn quá nhiều oan hồn uẩn tử, âm khí quá nặng, nên tháng Tư về, song hành với tiếng reo hò chiến thắng là tiếng chó tru đêm đầy rẫy trên quê hương. Và, đâu đó trong góc khuất cuộc đời, những oan hồn đang thở dài nhìn hiện tình đất nước, nhìn những người bạn năm nào giờ đang lưu lạc... Cứ như thế, đất nước vật vờ trong nhịp buồn tháng Tư – tháng Oan Hồn... (...)
 
28.04.2012
Nguyễn Viện: ... Tôi vừa đọc lại cuốn Chuông gọi hồn ai của Hemingway, cũng là cuốn sách viết về cuộc nội chiến Tây Ban Nha, và tôi nhớ có đoạn Hemingway để cho nhân vật của mình nói, đại ý: Cần phải có một cuộc giải tội tập thể cho cả dân tộc, bất kể anh ở phe nào. Vâng, tôi ước ao có một ngày mọi người dân Việt dù đang sống ở bất cứ đâu, cùng dành ra một giờ để xưng tội với nhau và xin tha thứ cho nhau. Cho cả những người đã chết, đang sống và sẽ sinh ra làm người Việt... (...)
 
Cảm tưởng về ngày 30/4  (tiểu luận / nhận định) - Nguyễn Thị Thanh Bình
... 37 năm nhìn lại với tôi là một chặng đường tuột dốc thê thảm: tước đoạt của mọi tước đoạt, tham tàn trên cả tham tàn, lừa mỵ phản trắc không diễn tả nổi. Những chiếc bánh vẽ to tướng mà đến cuối đời nhà thơ Chế Lan Viên mới tuồng như thấu hiểu, thì người ta vẫn thay phiên nhau tọng vô họng nhân dân... (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018