thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
NHỮNG GHI CHÉP Ở TẦNG THỨ 14 [chương 14]

 

Đã đăng: [chương 1-2] - [3] - [4] - [5][6]
[7][8] - [9] - [10][11] - [12] - [13]

 

14.

 

1970. Thị trấn miền Đông.

Đây là năm trung học đầu tiên của Lễ. Trường này là trường trung học công lập duy nhất của thị trấn. Khi còn ở cấp tiểu học thì con gái học ở trường Nữ tiểu học, còn con trai thì học trường Nam tiểu học, hai trường riêng biệt, nằm cách nhau khá xa, chừng 2 cây số. Học sinh, bất kẻ nam hay nữ, nếu thi đậu đệ thất thì vào trường công; nếu thi rớt thì hoặc bỏ học, hoặc vào trường Bồ Đề, là một trường tư.

Theo nội quy của nhà trường, con gái phải mặc áo dài trắng, hoặc xanh nhạt; con trai thì sơ-mi trắng, quần tây xanh. Lễ chưa từng có chiếc áo dài nào. Mẹ mua vải, đặt chị Cúc gần nhà may cho Lễ hai áo, một trắng một xanh, hai quần, một đen một trắng, và mua thêm một đôi guốc sơn đen có chấm hoa.

Nhà Lễ có 4 người. Cha của Lễ là ông Kỳ, mẹ là bà Thoa, Lễ là con gái đầu, có một em trai là Thảnh. Ông Kỳ được mua một căn nhà nhỏ trong khu cư xá dành cho công chức. Ông bà cùng đi dạy, cho tới khi chiến tranh lan rộng, ông bị động viên vào lính đã 3 năm. Lễ biết ông mong sớm đến ngày được xuất ngũ, làm quân nhân biệt phái, trở về với công việc gõ đầu trẻ. Dạo này ông thường đi hành quân, ít khi ở hậu cứ, ở nhà chỉ có 3 mẹ con với nhau.

Vào Nam lập nghiệp, nhà Lễ không có bà con nào gần, ngoại trừ gia đình cậu Khương. Ông là anh em bạn dì của mẹ, cũng là bạn thuở thiếu thời của cha Lễ, cùng bỏ quê miền Trung vào đây. Con của cậu, Bửu và Hồng, anh em sanh đôi, một trai một gái, lớn hơn Lễ ba tuổi và học cùng trường. Mấy anh em lớn lên cùng nhau, chơi chung thân thiết như anh em ruột. Nhà cậu Khương ở gần khu gia binh, không xa nhà Lễ, cách chừng trăm mét, qua con dốc, bên kia con đường đất xẻ đôi cánh rừng cây cao-su, cành cây hai bên đường choàng qua, đan vào nhau, thành cái vòm sâu hun hút. Nhà Lễ nằm trong khu cư xá dành cho công chức, gọi là cư xá 60 căn, đối diện với đồn lính An ninh Quân đội.

Cu Thảnh khóc suốt đêm, người ta bảo rằng nó vẫn khóc dạ đề tuy đã 3 tuổi, nhưng mỗi khi cha về thì nó lại không khóc. Họ bày cho mẹ lấy cái áo cũ của cha, phải là áo bẩn có mùi mồ hôi của ông, cho nó ôm mỗi đêm thì sẽ hết khóc. Tuần trước cha về, mẹ kể lại cho cha nghe, rồi chừa lại một cái áo thun còn bết bùn của ông khi mang đồ ra giặt. Hai hôm sau cha lại đi trận. Mẹ bỏ hành lý vào ba-lô, thay cho ông áo mới, giữ cái áo bẩn lại.

Giường đôi, 3 mẹ con nằm với nhau, Thảnh nằm giữa, Lễ một bên, mẹ một bên; cha về thì ông ngủ trên chiếc ghế bố đặt ở phòng ngoài. Mẹ lấy cái áo bẩn ra, cuộn lại, nhét vào lòng Thảnh; cái áo bốc mùi khét nồng, mùi mồ hôi và nắng gió, vậy mà một lát sau nó nín khóc, ôm bình sữa mút, rồi ngủ. Lễ thấy không chỉ thằng Thảnh thôi, mà cả mẹ và mình cũng nghiện mùi cái áo. Mẹ len lén lấy áo khỏi tay Thảnh khi nó đã ngủ, úp áo lên mặt hít hà, rồi Lễ nghe mẹ khóc thút thít nho nhỏ. Những đêm vắng cha, Lễ cũng không ngủ được, muốn mò qua ôm mẹ.

Lễ nằm trên giường nhìn qua cửa sổ, một trái hoả châu bay chầm chậm trên bầu trời, toả ánh sáng soi khắp vùng, soi rõ đám cây lá và những mái tôle của trại gia binh. Dưới cánh dù nhờ nhờ trắng, nó trôi từ từ rồi rơi xuống, tắt ngấm, để lại một vệt khói trắng mờ, tan dần. Trước khi ánh sáng của trái hoả châu này tắt, thì một trái khác được bắn lên thay. Lễ băn khoăn không biết họ có bắn hoả châu suốt đêm hay chỉ bắn qua nửa khuya tới khi Lễ ngủ, lúc mọi người yên tâm sẽ không có cuộc tấn công hay pháo kích nào, thì ngưng. Có lần cha nói, khi trái châu chưa tắt thì hãy mở ra rồi cài lại chiếc cúc áo cuối cùng 10 lần, trong lúc làm như vậy thì ước điều mà mình mong mỏi nhất, điều ước đó sẽ thành sự thật, vì trên bầu trời khuya thì hoả châu cũng không khác với ngôi sao băng, chỉ tắt chậm hơn thôi. Lễ làm theo nhiều lần, lần nào cũng kịp cởi ra cài lại nút áo 10 lần trước khi hoả châu tắt, và chỉ ước có một điều. Lễ ước hết chiến tranh, ước hoà bình, để mọi người được bình an. Bình an có nghĩa là còn sống, không chết vì bom đạn. Từ khi hiểu được đôi điều, Lễ chưa từng thấy hoà bình. Cảnh đất nước thanh bình là những gì xa xôi và xưa cũ lắm, được mô tả trong sách tập đọc và những bài hát mà mẹ thường hát.

Chủ nhật, mẹ đưa 2 đứa đi nhà thờ. Mẹ bảo Lễ mặc áo dài xanh, tròng lên cổ một xâu chuỗi nhỏ làm bằng những hạt thuỷ tinh xanh lục, có chiếc thánh giá gỗ. Mẹ rất sốt sắng việc đạo. Khi rảnh là mẹ cầu nguyện và đọc kinh. Năm nay Lễ bắt đầu tham gia ca đoàn của nhà thờ. Mỗi chiều có buổi tập hát ở nhà thờ, chị Hồng chở Lễ cùng đi bằng xe đạp mini. Mẹ nói, cái gác chuông của nhà thờ này là do cha và cậu Khương, và một số thanh niên, giúp cha Luông — vị linh mục sở tại — dựng lên vào đầu năm 60, khi hai gia đình vào lập nghiệp ở thị trấn miền Đông này.

 

*

 

Chiều hôm qua người ta chở xác cậu Khương về bằng xe lam.

Cả xóm đã nghe tin ông bị Việt Cộng phục kích bắn chết hồi sáng, khi trên đường đi làm trên quận. Mợ Viên, vợ ông, tất tả chạy đi tìm chồng từ lúc trưa.

Cậu Khương là trung sĩ Địa phương quân, nhưng chỉ làm văn phòng trong thị trấn. Ông đi làm bằng chiếc xe mô-bi-lết. Người ta nói ông bị giăng dây hay quăng móc câu cho ngã. Thay vì bắt ông đi thì họ xử tử tại chỗ. Họ lấy đi khẩu súng lục, ví tiền, và đốt rụi chiếc xe máy của ông.

Mẹ đã đi dạy về rồi nhưng bà tất tả sang thăm và xem có thể giúp được gì cho đám tang. Lễ cũng đi học về, định đi theo nhưng bà không cho, bảo ở nhà trông em. Lễ thắt thỏm dắt Thảnh ra đường trước nhà đứng ngóng.

Bụi đỏ bốc mù lên tàn cây, những trái điệp đong đưa theo gió. Một con lốc từ từ dấy lên ở cuối con đường đất. Ban đầu chỉ có vài cọng rác xoay xoay bay, càng lúc càng nhanh, rồi lớn dần, cao dần, mù mịt như một cột bụi khổng lồ từ từ di chuyển ra hướng sân bóng, rồi dừng lại, hồi lâu mới tan. Có người xúi bọn nhóc rằng, nếu cầm một con dao phay và ôm chiếc nón lá để ngửa, xông vào giữa con lốc, chém một nhát, thì sẽ lấy ra được đầy một nón sóng sánh máu.

Tiếng máy xe nổ phành phạch từ xa vọng lại. Chiếc xe lam lừ đừ bò lên con dốc rồi dừng lại bên cây mít trước sân nhà. Đám đông túa ra, bu theo xe. Lễ cũng na thằng Thảnh chạy đến, cố len vào xem.

Xác cậu Khương được bó trong chiếu cói. Đầu cậu thò ra ngoài, tóc bệt máu che mặt, nghoẻo sang một bên, lắc lư theo nhịp bước của hai người lính khiêng ông từ xe lam xuống. Mẹ Lễ dìu mợ Viên đang khóc ngất, xỉu lên xỉu xuống. Lễ cố tìm xem Hồng ở đâu nhưng không thấy. Bửu đứng giữ cánh cổng gỗ, anh không khóc, mặt đanh lại, một tay thả xuôi hai bên hông, bàn tay gồng lên, nắm lại thành nắm đấm nhỏ.

Người ta để cậu Khương nằm trên ghế bố. Phải nhét bông gòn vào đầu cậu cho đầy, vì phần sau đầu bị bắn vỡ mất một miếng lớn, óc đổ hết ra ngoài. Sau lưng áo lính có dấu một bàn chân trần in hằn lên, hiện rõ những ngón bết bùn đỏ đã khô.

Tối đó, cả xóm tụ đến nhà đọc kinh. Chị em Lễ cũng được mẹ chít lên đầu chiếc khăn tang bằng vải xô trắng. Lễ đứng ngoài sân ngó vào. Chiếc quan tài choán hết căn phòng khách nhỏ đã dọn trống bộ bàn ghế gỗ. Con chó Ky rên ư ử, thấy mọi người không để ý lại tìm cách len vào nằm dưới quan tài chủ, ngước đầu ngó lên. Cậu Khương trong di ảnh là tấm hình được cắt ra từ hình cưới, nhìn Lễ chăm chăm, ánh mắt ông buồn quá đỗi. Lễ không thể nhìn lâu, không cầm lòng được, Lễ khóc.

Buổi cầu kinh vừa chấm dứt thì có tiếng còi hụ báo giới nghiêm, mọi người quày quả ra về. Con tắc kè trên cây cột gỗ trong góc nhà kêu lên mấy tiếng như lời tiễn khách.

Đám tang cậu, cha không về được. Cha về sau đó một tuần khi mọi chuyện tang ma đã xong, rồi cha lại về vào dịp làm đám cúng 49 ngày.

Con chó Ky nằm xoãi chân trước hiên, đứng dậy vẫy đuôi mừng cha. Chủ qua đời, nó bỏ ăn, gầy rộc, chỉ còn dúm lông xơ xác. Đêm đêm, trong tiếng đạn nổ ì oàng từ xa vọng về, Lễ nghe tiếng nó tru từng tràng dài. Cha phải can thiệp khi những người lính trong trại đòi bắn nó, vì họ không chịu nổi những tràng âm thanh thê thiết rợn người của con chó nhớ chủ.

Bửu đã bỏ học ngay sau đám tang, anh đang học đệ tam. Bửu gầy rạc, để tóc hippie dài chấm vai, đi lang thang những đâu không ai biết, chiều tối mới về. Mợ Viên sang nhờ cha nói chuyện với anh, nhưng không kết quả. Bửu không bày tỏ điều gì, chỉ đứng khoanh tay im lặng, nước mắt lưng tròng.

Hai người phụ nữ, mợ và chị Hồng, xoay xở lo lắng tìm phương cách tiếp tục đời sống. Hồi nào tời giờ mợ Viên chưa từng đi làm, chỉ ở nhà nội trợ. Trước đây, cả nhà sống nhờ vào tiền lương của cậu. Giờ, với số tiền tử không được bao nhiêu, hao cạn đi rất nhanh. Ở đây không thể buôn bán được gì vì là trại gia binh, toàn là gia đình quân nhân nghèo, thậm chí nheo nhóc, bất an. Phía bên nhà Lễ là khu cư xá dành cho công chức, cũng nghèo không kém. Khá nhất trong giai đoạn này là những nghề có dính líu đến chiến tranh, đến quân đội Mỹ, như thầu đổ rác hay làm việc trong các căn cứ Mỹ.

Mợ Viên chỉ mời gia đình Lễ và ông Kiên, ông Hà, ông Thái — ba người bạn thân của cậu và cha Lễ; họ đều làm bên an ninh quân đội. Mâm cúng đơn sơ, vài đĩa thức ăn và đồ nhắm mà cậu thích khi còn sống.

Nhang tàn, bốn người đàn ông ngồi vào bàn, đầu bàn để một chiếc ghế trống và chén đũa dành cho người đã khuất. Mợ Viên, mẹ, Lễ và Hồng bưng dọn và tiếp thức ăn. Cha Lễ mang qua chai rượu, ông rót ra ly nhỏ cho mọi người và cái ly trước chiếc ghế trống dành cho cậu.

“Anh Khương linh thiêng thì về chứng giám, uống với chúng tôi chén rượu.”

Ông đứng lên, nhấc cái ly nhỏ dành cho bạn, rồi rưới rượu trong ly vào bát hương.

“Phần ông đó. Dô đi, Khương...!” Ông Hà nói.

Mọi người cạn ly.

Hồng bưng lên hai đĩa thức ăn mới.

“Sao không để cúng mà giờ mới dọn ra, cháu?” Ông Kiên hỏi.

“Dạ, đây không phải món nấu nên không cúng ạ.”

“Món gì mà không mang cúng vậy?”

“Dạ, thịt hộp. Ngày xưa, cha con thích lắm.”

“À, đúng rồi. Chả khoái món thịt ba lát [1] này lắm. Nhớ, những lần hành quân chả đều nhét theo khẩu phần thứ này.” Ông Thái nói.

Mọi câu chuyện đều nói về người đã khuất, những thói quen, những kỷ niệm khi ông còn sống.

“Thằng Bửu đâu? Ngồi vào đây, giờ mày là đàn ông duy nhất trong nhà, thay mặt cho cha mày tiếp rượu cho mấy bác. Nếu mày ngại thì ngồi ghế này, tao ngồi ghế cha mày.” Ông Hà bảo Bửu, rồi đứng lên nhường ghế.

Bửu khép nép ngồi kế bên cha của Lễ.

“Uống đi mày... Anh Kỳ cứ để cho nó uống.” Ông Thái nói với cha, rồi rót rượu cho Bửu. Anh dốc ly rượu vào cổ, ho sặc sụa.

“Mày biết thằng nào giết cha mày chưa?” Ông Hà nói.

“Dạ, chưa...”

“Hai năm nữa, đủ lớn, tao sẽ cho mày biết.” Ông Kiên nói.

“Dạ... Sao bác không cho cháu biết bây giờ?”

“Mày chưa đủ lớn để trả thù.”

“Cháu lớn rồi.”

Ông Kiên lấy khẩu súng ngắn dắt sau lưng ra, dằn lên bàn.

“Chúng nó giết mày mất. Yên trí đi, bác sẽ giúp mày khi tới lúc, tao sẽ bắn nó nát óc như nó bắn cha mày, tao thề!”

Cha Lễ nói: “Thôi, lúc khác sẽ nói chuyện đó. Anh Kiên cất súng đi.”

“Các anh ơi, đừng nói chuyện đó bây giờ. Rồi sau này con sẽ biết, Bửu ơi!” Mợ Viên khóc, khẩn khoản.

Bửu say, sau hai ly, ra sau nhà ói thốc tháo.

Chai rượu cạn nhanh. Hết rượu, đến bia Con Cọp.

Buổi tiệc tàn. Lễ phụ dọn, lẫn trong mớ vỏ chai bia là những vỏ lon thịt hộp.

 

*

 

Bửu bỏ hai cái vỏ đạn người ta nhặt được bên xác cậu Khương vào cái hộp thiếc nhỏ đựng kẹo ho, rồi đặt lên tủ thờ. Cha Lễ phải khuyên rằng giữ cái hộp ở chỗ lúc nào cũng thấy sờ sờ như vậy là không nên, vì sẽ làm cho không khí trong nhà thêm nặng nề, thì Bửu mới nghe lời, mang cất đi.

Cái chết của cậu Khương làm mọi chuyện trở nên bất thường. Con Ky bắt đầu hoá dại, ban đêm xông vào sân nhà hàng xóm, phá tung chuồng rồi cắn giết gà họ nuôi, tha đi. Ban ngày nó đuổi cắn bọn trẻ trong xóm đi học ngang nhà. Hàng xóm ngày nào cũng đến nhà than phiền. Bửu lôi nó về, cột lại đánh nhưng nó lại cắn đứt dây, sổng chạy.

Lễ qua nhà tìm Hồng, không gặp. Khi quay ra, Lễ nhìn phía cuối vườn, Bửu đâm con Ky bằng lưỡi lê. Lễ đứng chết sững. Con chó hộc lên, giãy giụa, máu bắn ra thành vòi. Bửu vật nó xuống, một tay siết cổ, tay kia rút lê ra đâm tiếp. Bửu đâm điên cuồng. Máu chó ướt nhầy nhụa khắp mặt, bê bết tóc Bửu, văng tung toé khắp nơi.

Con chó co giật, lịm dần, nấc lên một cái cuối cùng rồi nằm im.

Bửu dừng, buông tay, lưỡi lê còn cắm trên ngực con Ky. Bửu đứng lên, ngó Lễ, mắt dài dại. “Lễ, đi về đi!”

“Sao anh giết nó?”

“Phải giết! Tao không giết thì người ta cũng giết.”

“Anh ác!”

“Em không hiểu đâu...”

“Anh ác lắm! Giờ thì làm sao đây?”

“Anh sẽ lo. Này, Lễ... không được nói lại với ai nhé.”

Lễ bước lùi ra sân, vừa chạy vừa khóc.

Bửu dọn dẹp sạch dấu máu, bỏ xác vào bao tải mang đi chôn ngoài suối. Bửu không nói lại với ai chuyện giết con Ky. Lễ cũng không nói. Mọi người nghĩ rằng nó lên cơn dại rồi bỏ nhà đi mất, hay đã bị những nhà bị trộm gà giết. Thỉnh thoảng mơ hồ giữa khuya, Lễ nghe có tiếng rên ư ử của con chó khóc chủ. Nhắm mắt, Lễ lại thấy cảnh nó nằm dưới quan tài cậu Khương ngước nhìn lên.

Một hôm, Lễ ngủ dậy, thấy trên bắp chân có dấu tím bầm to bằng nửa bàn tay, rõ ràng như dấu răng. Lễ sợ quá, bọn trẻ nói rằng đó là dấu ma cắn. Lễ nghĩ, con Ky đã thành ma, ma chó, nó về cắn Lễ vì đã không cứu nó.

Sang năm, Bửu đi học trường Quốc gia Nghĩa tử ở Sài Gòn, rồi nghe đâu đã đăng lính cho dù chưa đủ tuổi. Bửu đi Biệt động quân, đi biệt không về, thậm chí không cả viết thư cho mẹ.

Mợ Viên ít khi về nhà, có khi cả tháng Lễ mới thấy mợ về một hai hôm, lui cui dọn dẹp, rồi lại đi. Mợ nói với mẹ Lễ rằng mợ đi buôn hàng PX [2] ở căn cứ Long Bình. Hồng cũng đi. Hồng bỏ học trường công, vào học nội trú ở một trường dòng ở gần Biên Hoà. Hồng không mang chiếc xe mini theo, vì ở nội trú trong trường suốt, không sử dụng xe, chị mang qua tặng Lễ.

Căn nhà khoá cửa. Mợ Viên có giao cho mẹ Lễ chìa khoá nhờ thỉnh thoảng ghé qua trông chừng. Cái hàng rào gỗ mục rã, ngã dụi xuống. Cây mít trước sân bị trốc gốc sau một đêm mưa, mẹ Lễ thuê người cưa nhỏ, dọn lại một đống chất ngoài sân. Khoảnh vườn bỏ hoang, cỏ dại mọc um tùm, chỉ còn lại rải rác những bụi chuối già xơ xác. Có khi chuối chín rục buồng nhưng không ai lội vào chặt vì ngại lội vào vườn đầy cỏ dại và cây mắc cở nhiều gai. Chiều tối, dơi bay về từng đàn, tranh ăn xao xác.

Bẵng một thời gian khá lâu, cả hơn 2 năm, một hôm Bửu về. Không có chìa khoá, Bửu đạp bung cửa để vào.

Bửu đen thui, mặt già chát như thứ trái chín héo, cao và gầy, tóc ngắn sát da đầu như cạo trọc, bộ áo quần rằn ri rộng thùng thình, thắt lưng đeo hai trái lựu đạn lủng lẳng. Cánh tay trái bị thương, treo qua vai bằng một dải băng, trên bả vai hiện màu mực tàu xăm hai chữ “...oán trả!”, hai chữ cuối của hình xăm.

Qua nhà, chào mẹ Lễ xong, Bửu không ở lại ăn cơm, nói rằng con vừa ăn ngoài quán, không đói. Lát sau, mẹ bảo Lễ mang cà-mèn cơm qua cho Bửu.

Bửu ngồi một mình ngoài sân. Mấy vỏ chai bia 33 lùn nằm la liệt ở chân ghế xích-đu. Lễ bày cơm ra mâm, mang ra sân đặt lên 2 chiếc ghế nối lại làm cái bàn tạm.

“Anh Bửu ơi, sao ngó Bửu dữ tợn quá à...”

“Ừa, già đi thì vậy đó.”

“Tay Bửu còn đau không? Có bị nặng lắm không?”

“Bớt nhiều rồi. Chỉ bị miểng pháo, ở phần thịt thôi. Cũng may.”

“Sao Bửu không về thăm nhà? Đám giỗ cậu cũng không chịu về. Không nhớ mợ với Hồng sao?”

“Nhớ. Nhưng về thì buồn lắm, Lễ à...”

“Bửu đóng ở đâu, đi trận khổ không?”

“Nhiều nơi. Chỗ này chỗ nọ. Ra tới miền Trung luôn, kể hổng hết chuyện đâu. Hồi này thì ở Tây Ninh.”

“Đi trận khổ không Bửu? Rồi sẽ ra sao đây?” Lễ hỏi lại.

“Đụ má. Chết thì hết khổ!”

“Bửu đừng chửi thề với em.”

“Ừa, tại anh quen miệng.”

“Lễ có cầu nguyện cho Bửu... Mấy bạn trong trường cùng thỉnh thoảng cũng nhắc đến Bửu.”

“Họ nhắc anh làm gì ha? Lễ nhớ, chứ Chúa hổng nhớ anh đâu.”

“Bửu muốn nói hay nhắn gì, với ai không?”

“Không. Anh không nói được đâu.”

“Nói đi... Không sao đâu. Mình là anh em hoài hoài mà.”

“Ừa...”

“Ừa, sao?”

“Ở ngoài chợ người ta đồn má anh đi làm sở Mỹ. Có không Lễ?”

“Em không biết chuyện người lớn...”

“Em phải biết chứ. Đừng...” Bửu ngưng một thoáng rồi nói nhanh, nói như khóc, “Đụ má! Buồn quá, Lễ ơi...”

Một con rắn mối bò ra từ đống gỗ mục. Bửu với tay nhặt chiếc giày sô ném. Không trúng. Chiếc giày văng lên hất đổ mâm cơm.

Bửu đi. Ít lâu sau, mợ Viên về, sang lại căn nhà với giá rẻ bèo. Mẹ Lễ và mợ nói chuyện với nhau cho tới khuya. Lâu lâu mẹ nhận được thư và trao đổi vài lá thư với mợ, rồi bặt tin. Người ta nói mợ vô Long Bình làm sở Mỹ, còn chị Hồng cũng bỏ trường nội trú, vô Sài Gòn bán bar. [3]

Cha nói với mẹ, mấy ông An ninh Quân đội cho Bửu biết mấy người giết cậu Khương là cán bộ đang hoạt động trong vùng. Họ nghi ngờ một người quen đã điềm chỉ cho Việt Cộng phục kích ông. Người đó nằm vùng, làm kinh tài, mua gạo và thuốc men đưa vào mật khu, nhưng họ chưa có đủ chứng cứ để bắt. Bây giờ thì không cần nữa, Bửu đã lo chuyện đó xong rồi. Lễ nhớ lại cảnh Bửu chùi hai tay bết máu vào áo hôm Bửu giết con Ky.

Chiến tranh ngày càng lan rộng khốc liệt. Nhiều người bỏ thị trấn dời qua vùng khác tránh bom đạn, nhưng hầu như không còn nơi nào an toàn. Cha được giải ngũ, quyết định bán nhà vào Sài Gòn làm lại từ đầu, cũng bằng nghề dạy học.

1975, cuộc chiến chấm dứt. Thị trấn là nơi diễn ra trận đánh dữ dội nhất, là cơn giãy giụa, hấp hối sau cùng của con vật chiến tranh. Thị trấn thành bình địa. Khu chợ và những dãy nhà chung quanh chỉ còn gạch ngói ngổn ngang. Vậy mà kỳ lạ, ngôi nhà thờ không đổ. Tháp chuông là vật thể duy nhất còn đứng trơ trọi, lỗ chỗ dấu đạn. Thánh giá trên cao gãy gập, bay mất một bên tay, trơ giàn khung sắt trĩu xuống. Chúa đang cúi xuống. Cúi xuống niềm tin và hi vọng rách rưới của con người. Hoà bình.

Hoà bình mà sao tan nát, phân tán hơn cả khi còn chiến tranh!

Thỉnh thoảng có tin mơ hồ về mợ Viên, Hồng và Bửu, nhưng không thể biết họ chính xác đang ở đâu, chỉ nghe phong thanh nơi này nơi khác. Chẳng bao giờ Lễ gặp lại ai trong gia đình cậu.

“Mợ ơi, Bửu ơi, Hồng ơi, ở đâu? Còn sống không?”

 

(Còn tiếp)

 

_________________________

[1]thịt ba lát: một loại đồ hộp, thịt heo, trong khẩu phần của lính.

[2]hàng PX: các loại nhu yếu phẩm được bán cho lính Mỹ với giá rẻ.

[3] bar: quán rượu

 

 

-----------------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018