thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Mùa gà tây

 

Bản dịch của Trần Minh Hương

 

 

MÙA GÀ TÂY

 

Tặng Joe Radford

 

Lúc mười bốn tuổi tôi được nhận vào làm việc ở Vựa Gà Tây cho mùa Giáng Sinh. Lúc đó tôi còn quá trẻ để có thể kiếm việc trong một cửa hàng hay làm nhân viên hầu bàn bán thời; tôi cũng còn quá nhút nhát.

Tôi là người mổ gà. Những công nhân khác cùng làm trong Vựa Gà Tây là Lily, Marjorie và Gladys, cũng là những người mổ gà; Irene và Henry, nhổ lông; Herb Abbott, người đốc công, chịu trách nhiệm giám sát toàn bộ công việc và tham gia vào bất cứ chỗ nào thiếu người. Morgan Elliott là chủ nhân kiêm giám đốc. Ông ta và con trai, Morgy, làm công việc giết gà.

Tôi biết Morgy hồi còn đi học. Tôi nghĩ anh ta đần độn và đáng ghét, và tôi thấy khó chịu khi phải chấp nhận anh ta ở một vị thế mới và có vẻ cao cấp hơn tôi, vì anh ta là con trai của ông chủ. Nhưng ông chủ đối xử với anh ta thật thô lỗ, mắng và chửi anh ta, xem anh ta chẳng hơn gì một thằng làm công mạt hạng. Một người nữa cũng có liên quan với ông chủ là cô Gladys. Cô là em gái của ông chủ, và trong trường hợp của cô thì hình như có sự đối xử ưu ái. Cô làm việc chậm chạp và ra về nếu cảm thấy không khoẻ. Cô có vẻ không ưa Lily và Marjorie, tuy vậy, cô có chút thiện cảm với tôi. Cô về ở nhờ với Morgan và gia đình ông ta sau khi cô đã làm việc nhiều năm ở Toronto, trong một ngân hàng. Đây không phải là công việc quen thuộc của cô. Lily và Marjorie hay nói lén về cô khi cô không có ở đó, họ nói cô bị suy nhược thần kinh. Họ nói ông Morgan bắt cô làm việc trong Vựa Gà Tây để trả cho chi phí ở nhờ. Họ còn nói, mà không sợ họ đang tự mâu thuẫn, rằng cô làm công việc này vì đang theo đuổi một người đàn ông, và người đàn ông ấy là Herb Abbott.

Trong mấy đêm đầu tiên sau khi bắt đầu làm việc ở đó, tất cả những gì tôi thấy mỗi khi nhắm mắt lại là lũ gà tây. Tôi thấy chúng được treo lộn ngược, trụi lông và cứng đơ, tái và lạnh, đầu và cổ mềm nhũn, mắt và mũi vấy máu bầm; những cái lông còn sót lại — sậm đen và dính đầy máu — trông như một cái vương miện. Nhìn chúng, tôi không thấy ghê tởm, mà chỉ có cảm tưởng là công việc sẽ bận bịu vô tận.

Herb Abbott chỉ việc cho tôi. Em hãy đặt con gà lên bàn và chặt cổ nó bằng con dao phay. Sau đó em cầm miếng da lỏng ở cổ và kéo ngược lại cho lòi cái cuống diều nằm giữa cổ họng và khí quản.

“Sờ viên sỏi này xem,” Herb nói với vẻ khuyến khích. Anh bảo tôi dùng mấy ngón tay túm lấy cái diều. Rồi anh chỉ cho tôi cách luồn bàn tay vào sau cái diều và cắt nó ra, cả cổ họng và khí quản nữa. Anh dùng cái kéo lớn để cắt xương sống.

“Túm lấy, túm lấy”, anh nói nhẹ nhàng. “Bây giờ, thọc tay vào.”

Tôi làm theo. Bên trong con gà thì lạnh ngắt và tối tăm.

“Cẩn thận tránh những cái giằm xương”.

Mò mẫm trong khoảng tối tăm ấy, tôi phải kéo những cái màng nhầy giãn ra.

“Đứng dậy nào.” Herb lật con gà và gập từng cái chân. “Quỳ lên, Mẹ Nâu. Nào.” Anh lấy con dao lớn để ngay lên khuỷu chân con gà và cắt đứt cái ống chân.

“Nhìn mấy con giun này”.

Những sợi dây màu trắng ngà, được kéo ra từ ống chân con gà, đang uốn éo.

“Đó là những cái gân gà đang rút lại. Bây giờ đến phần thú vị!”

Anh xẻ phần hậu môn của con gà, một mùi hôi bay lên.

“Em có được học hành đàng hoàng không vậy?”

Tôi không biết nói sao.

“Mùi gì biết không?”

“Hydrogen sulfide.”

“Em có học,” Herb nói và thở dài. “Được rồi. Em dùng mấy ngón tay móc bộ lòng ra. Từ từ, từ từ. Giữ mấy ngón tay lại với nhau. Cuộn bàn tay lại. Dùng mu bàn tay chạm vào những cái xương sườn. Dùng lòng bàn tay nắm lấy mớ lòng. Có cảm thấy gì không? Tiếp tục đi. Giựt đứt những sợi dây — càng nhiều càng tốt. Tiếp tục đi. Rờ thấy cái cục cưng cứng không? Đó là mề gà. Rờ thấy cái cục mềm mềm không? Đó là trái tim. Thấy chưa? Rồi hả. Móc mấy ngón tay quanh cái mề gà. Từ từ thôi. Bắt đầu kéo về phía này. Đúng rồi. Đúng rồi. Bắt đầu kéo nó ra.”

Việc này không hề dễ chút nào. Tôi cũng không chắc rằng cái tôi nắm được là cái mề gà. Tay tôi đầy một đống lầy nhầy lạnh ngắt.

“Kéo đi,” anh nói, và tôi lôi ra một đống lầy nhầy óng ánh.

“Được rồi. Mớ xôm xốp này. Em biết nó là gì không? Là phổi. Còn đây là tim. Cái này là mề. Còn đó là mật. Này, em đừng bao giờ làm bể túi mật, không thì nó sẽ làm đắng hết cả con gà.” Rất khéo léo, anh moi ra hết những thứ tôi còn để sót, kể cả hai hòn dái, trông như hai quả nho màu trắng.

“Một đôi bông tai dễ thương,” Herb nói.

Herb Abbott là người đàn ông cao, chắc và đầy đặn. Tóc anh đen và mỏng, được chải thẳng từ đằng trước ra đằng sau, và mắt anh hơi xếch, vì vậy trông anh giống như một ông Tàu da tái mét hay giống như bức hình của Quỷ Sứ, ngoại trừ mặt anh không có râu ria và trông hiền lành. Bất cứ việc gì anh làm trong Vựa Gà Tây này — từ việc mổ gà, như việc anh đang làm bây giờ, đến việc chất hàng lên xe tải, hay treo những xác gà lên — đều được làm với những động tác thuần thục, gọn gàng, một cách nhanh nhẹn và khoan khoái. “Để ý Herb xem — anh ta đi cứ như đang ngồi trên một chiếc thuyền trôi,” Marjorie nói, và quả như vậy. Herb đã từng làm đầu bếp theo mùa trên những chiếc du thuyền trên hồ. Rồi anh làm việc cho Morgan cho đến hết mùa Giáng Sinh. Thời gian còn lại, anh giúp việc cho một tiệm bi-da, làm bánh hamburgers, lau dọn, và ngăn chặn những cuộc đánh nhau trước khi chúng xảy ra. Đó cũng là nơi anh đang ở: anh có một phòng phía trên tiệm bi-da trên con đường chính.

Trong tất cả các công việc tại Vựa Gà Tây, dường như chỉ có Herb là người luôn nghĩ đến hiệu quả và uy tín của lò mổ; chính anh là người giữ mọi việc trong tầm kiểm soát. Nếu bạn thấy cách anh ta đứng trong sân nói chuyện với ông Morgan — một người đàn ông mập, lùn, mặt đỏ, và hay nạt nộ bất ngờ — thì chắc chắn bạn sẽ nghĩ Herb là ông chủ còn Morgan chỉ là người làm thuê. Nhưng thật ra không phải như vậy.

Nếu không có Herb chỉ việc cho tôi, thì chắc là tôi đã không học được cách mổ gà. Đôi tay tôi rất vụng về và tôi rất thường cảm thấy xấu hổ về điều đó, nên nếu người hướng dẫn tỏ ra một chút cử chỉ mất kiên nhẫn thì cũng đủ khiến cho tôi run rẩy luống cuống. Tôi không thể chịu được khi có bất cứ ai đứng nhìn tôi làm, ngoại trừ Herb. Cụ thể hơn, tôi không thể chịu được nếu Lily và Marjore, hai chị em ở tuổi trung niên, nhìn tôi mổ gà. Họ làm việc rất nhanh, thành thạo và hay ganh đua. Họ vừa làm vừa hát vừa trò chuyện thô lỗ và thân mật với những cái xác gà tây.

“Đừng có khoèo tôi chứ, cái thằng già bạo dâm!”

“Đúng là cái lỗ đít già!”

Tôi chưa bao giờ nghe phụ nữ nói chuyện kiểu này.

Gladys không phải là một người mổ gà nhanh nhẹn, nhưng cô rất thành thạo; nếu không thì chắc hẳn là Herb đã chỉ việc cho cô. Cô không bao giờ hát và không bao giờ chửi thề. Tôi nghĩ cô khá lớn tuổi, mặc dù cô trẻ hơn Lily và Marjorie; chắc là cô đã ngoài ba mươi. Cô có vẻ như bị xúc phạm bởi mọi thứ đang xảy ra, và cố giữ những lời phê phán chua chát trong lòng. Tôi chưa bao giờ thử nói chuyện với cô, nhưng một ngày kia cô bắt chuyện với tôi trong căn phòng vệ sinh lạnh lẽo và chật hẹp bên cạnh lán mổ gà. Lúc đó cô đang trét đồ trang điểm lên mặt mình. Phấn trang điểm rất chỏi với màu da của cô, trông như cô đang đắp sơn màu cam lên một bức tường trắng gồ ghề.

Cô hỏi có phải tóc tôi quăn tự nhiên.

Tôi nói là phải.

“Chứ không phải tóc uốn hả?”

“Không.”

“Em may mắn thiệt đó. Chị thì đêm nào cũng phải cuốn ống lô. Hoá tính tự nhiên trong cơ thể chị không cho phép chị uốn tóc quăn.”

Phụ nữ có nhiều cách nói khác nhau về diện mạo bên ngoài của họ. Một số người nói toẹt ra rằng họ làm đẹp vì nhu cầu tình dục, làm đẹp cho đàn ông. Một số người khác, như Gladys chẳng hạn, lại ăn mặc bình thường như làm công việc quản gia, đây là loại người tự hào về những điều khó khăn của mình. Gladys rất duyên dáng. Tôi có thể hình dung cô làm việc ở ngân hàng, trong chiếc áo đầm màu xanh dương với cái cổ áo màu trắng loại mà bạn có thể tháo rời ra và đem giặt vào ban đêm. Chắc hẳn là cô cũng hay than phiền và bắt bẻ.

Một lần khác, cô nói với tôi về chuyện kinh nguyệt của cô, nó ra nhiều và làm cô đau bụng. Cô muốn biết về kinh nguyệt của tôi. Có một vẻ khó chịu, nghiêm nghị và lo âu trên mặt cô. May thay Irene nói vọng ra từ buồng cầu và cứu tôi ra khỏi tình huống khó xử này. “Làm như tôi nè, rồi cô sẽ không bị những thứ rắc rối ấy nữa, ít ra cũng được một thời gian.” Irene chỉ lớn hơn tôi vài tuổi, nhưng cô ta vừa lập gia đình sau khi có bầu, và đang ở vào những tháng cuối của thai kỳ.

Gladys làm như không nghe thấy, vẫn tiếp tục hứng hai bàn tay dưới vòi nước lạnh. Tay của mọi người ở đây đều đỏ và tấy vì làm việc nhiều. “Chị không thể xài xà-bông này được. Nếu chị dùng nó, tôi sẽ bị ngứa,” Gladys nói. “Nếu chị mang xà-bông của chị vô đây, thì chị không thích người khác xài, bởi vì nó mắc lắm — đó là loại xà-bông chống dị ứng.”

Tôi nghĩ cái ý tưởng mà Lily và Marjore nêu ra — rằng Gladys mê Herb Habbott — thì chẳng qua là vì họ tin rằng những kẻ độc thân thì nên bị chọc ghẹo và làm cho xấu hổ bất cứ lúc nào, và chính họ cũng thích Herb, khiến họ có cảm giác rằng chắc chắn có ai đó đang theo đuổi anh ấy. Họ thắc mắc về anh ấy. Cái mà họ thắc mắc là: Tại sao một người đàn ông như anh ấy lại không muốn gì cả? Không vợ, không gia đình, không nhà cửa. Những chi tiết về cuộc sống hàng ngày của anh ấy, những sở thích nho nhỏ của anh ấy, đều được quan tâm. Anh ấy lớn lên ở đâu? (Nơi này, nơi kia, hay bất cứ nơi nào.) Anh ấy học đến lớp mấy? (Cũng vừa đủ trình độ học vấn.) Bạn gái anh ấy ở đâu? (Không bao giờ nhắc đến.) Nếu phải chọn giữa trà và cà-phê, anh ấy chọn thứ nào? (Cà-phê.)

Khi họ nói Gladys đang theo đuổi anh ấy, họ rất muốn nói về chuyện tình dục — anh ấy muốn gì và anh ấy có những chiêu gì. Chắc chắn họ cảm thấy một sự tò mò đầy khêu gợi về anh ấy, mà tôi cũng vậy. Anh ấy khơi dậy cảm giác tò mò vì anh ấy rất cẩn trọng và không bao giờ đùa giỡn giống như những người đàn ông khác quanh đây, đồng thời anh ấy cũng không quá khó tính hay quá lịch sự. Một vài gã đàn ông, khi chìa cặp dái gà tây cho tôi xem, thì chắc là vì họ nghĩ rằng những hòn dái sẽ là một trò đùa tục tĩu đối với tôi, khiến một đứa con gái như tôi sẽ cảm thấy mắc cỡ; một loại đàn ông khác thì lại cảm thấy xấu hổ về chuyện này và nghĩ là họ phải bảo vệ tôi để tôi khỏi bị trêu chọc. Người đàn ông nào không thuộc vào một trong hai loại này thì hình như là không bình thường — có lẽ đối với các phụ nữ lớn tuổi, cũng như đối với tôi. Nhưng một điều gì đó đối với tôi là chuyện bình thường, thì cũng có thể làm cho những phụ nữ khác khó chịu. Họ muốn gây sốc cho anh ấy. Họ muốn cả Gladys cũng gây sốc cho anh ấy, nếu có thể.

Thời đó — ít ra là ở Logan, Ontario, vào cuối những năm bốn mươi — chẳng ai có ý tưởng rằng đồng tính luyến ái đang lan ra khỏi những nơi kín đáo riêng tư. Chắc hẳn phụ nữ thời đó tin rằng đồng tính luyến ái là hiện tượng hiếm hoi và có những giới hạn nhất định. Trong thị trấn có vài người đồng tính luyến ái, và mọi người đều biết đó là những ai: đó là anh chàng nhã nhặn, có giọng nói nhẹ nhàng và mái tóc xoăn, làm nghề dán giấy tường và tự cho mình là nhà trang trí nội thất; đó là anh chàng mập mạp và được cưng chiều — con một của bà quả phụ của ngài bộ trưởng — anh ta đã dám tham gia vào các cuộc thi làm bánh của phụ nữ và đã tự tay đan móc một tấm khăn trải bàn; đó là một người đàn ông mắc bệnh tưởng, hành nghề nhạc sĩ phong cầm trong nhà thờ và dạy âm nhạc, luôn giữ trật tự cho dàn đồng ca và học trò của mình bằng cách la hét quát tháo. Một khi cái nhãn đã được dán xong như vậy, thì người ta có nhiều cảm thông hơn cho những người đồng tính luyến ái, và những tài nghệ về trang trí, đan móc, và chơi nhạc của họ được mọi người hưởng ứng — đặc biệt là phụ nữ. “Tội nghiệp cho anh ta,” họ nói. “Anh ta vô hại.” Họ — nhất là đám phụ nữ — thật sự tin rằng chính cái sở thích làm bánh và chơi nhạc là yếu tố quyết định, và đó là những công việc biến người đàn ông thành đồng tính luyến ái — chứ không phải những công việc khác mà anh ta làm hay muốn được làm. Cái khát vọng chơi vĩ cầm được người ta xem là tác nhân làm cho người đàn ông đánh mất nam tính, chứ không phải đó chỉ là một thứ đam mê nhằm tránh sự cám dỗ của đàn bà. Thật vậy, người ta có cái ý tưởng rằng bất cứ người đàn ông chân chính nào cũng muốn tránh sự cám dỗ của đàn bà, nhưng hầu hết đều mất cảnh giác, và đành chịu thua luôn.

Tôi không muốn đi sâu vào vấn đề Herb có phải là người đồng tính luyến ái hay không, bởi vì cái định nghĩa ấy hoàn toàn vô ích đối với tôi. Tôi nghĩ có thể anh ấy là người đồng tính luyến ái, nhưng cũng có thể không phải vậy. (Ngay cả khi xem xét lại những chuyện đã xảy ra sau này, tôi cũng nghĩ như vậy). Anh ấy không phải là câu đố quá hóc búa để giải đáp.

Một thợ nhổ lông khác, cùng làm việc với Irene, là cụ Henry Streets, một người hàng xóm của chúng tôi. Chẳng có gì đáng nói về cụ ngoại trừ cụ đã tám mươi sáu tuổi mà vẫn “làm việc như quỷ”, như cách cụ tự nói về mình. Cụ hay đổ rượu whisky vào trong cái bình thuỷ, và suốt cả ngày cứ thỉnh thoảng lại uống. Chính cụ Henry đã nói với tôi, khi chúng tôi đang ở trong bếp tại nhà, “Cháu nên kiếm một việc làm ở Vựa Gà Tây. Ở đó họ đang cần một thợ mổ gà.” Ngay lập tức ba tôi nói, “Không phải nó, Henry. Nó chỉ có mười ngón tay cái thôi,” và cụ Henry nói là cụ chỉ nói giỡn thôi — vì đó là công việc dơ dáy. Nhưng tôi đã quyết là sẽ làm thử công việc này — tôi rất muốn thành công trong một công việc như thế. Tôi ở trong tình trạng giống như một người trưởng thành cảm thấy xấu hổ rằng mình chưa bao giờ học đọc, còn tôi thấy mình vụng về trong các công việc tay chân. Đối với những người mà tôi biết, thì công việc của họ là những điều mà tôi không làm nổi, và người ta xem công việc là điều để họ tự hào về bản thân và dùng nó để đánh giá người khác. (Khỏi cần nói là những điều tôi làm rất tốt, như những bài tập ở trường, thì lại bị người ta nghi ngại hoặc bị khinh thường.) Bởi vậy thật là một sự ngạc nhiên và một sự khải thắng khi tôi không bị đuổi việc, mà còn có thể mổ gà tây với một tốc độ không đến nỗi quá tệ. Tôi không biết rằng mình có thật sự hiểu là Herb Abbott chịu trách nhiệm chừng nào về việc này, nhưng anh ấy hay nói, “Em làm tốt lắm”, hoặc vỗ vào hông của tôi và nói “Em đang trở thành một người mổ gà giỏi — em sẽ tiến rất xa,” và khi tôi cảm thấy cái chạm nhanh và dịu dàng xuyên qua cái áo ấm dày và cái áo khoác dính đầy máu mà tôi đang mặc, tôi cảm thấy mặt mình đỏ lên và muốn tựa vào anh khi anh đang đứng phía sau tôi. Tôi muốn tựa đầu mình vào bờ vai rộng và chắc nịch của anh. Buổi tối khi ngủ, tôi nằm nghiêng, cạ má của mình vào gối và tưởng tượng rằng đó là bờ vai của Herb.

Tôi tò mò muốn biết cách Herb nói chuyện với Gladys, cách anh nhìn cô ấy hay lưu ý đến cô ấy. Sự tò mò này không phải là sự ghen tuông. Tôi nghĩ tôi muốn có chuyện gì đó xảy ra giữa họ. Tôi run rẩy trong sự mong đợi hiếu kỳ, cũng như Lily và Marjorie vậy. Tất cả chúng tôi đều muốn thấy dấu hiệu gợi tình từ anh ấy, nghe nó trong giọng nói của anh ấy, không phải vì chúng tôi nghĩ nó sẽ làm anh ta giống như những người đàn ông khác, mà bởi vì chúng tôi biết với anh ấy nó sẽ hoàn toàn khác. Anh ấy tử tế và kiên nhẫn hơn hầu hết phụ nữ, đồng thời cũng nghiêm khắc và lãnh đạm, giống như bất cứ người đàn ông khác. Chúng tôi muốn biết làm cách nào để có thể gây cảm xúc nơi anh ấy.

Không biết có phải Gladys cũng muốn điều này hay không, nhưng cô ta không tỏ ra bất cứ dấu hiệu gì. Tôi không thể nào biết, đối với những người đàn bà như cô ấy, phải chăng họ đần độn và nguy hiểm như vẻ bề ngoài của họ, chẳng cần điều gì khác ngoài những cơ hội để gây hấn và chê bai người khác, hay phải chăng họ đều bị ngộp thở với những ngọn lửa âm thầm và những khát khao vô vọng.

Marjorie và Lily nói về hôn nhân. Họ không có điều gì tốt đẹp để nói về nó cả, ngoại trừ họ có cảm tưởng rằng đó là một trạng huống mà không ai được phép tránh né. Marjorie nói rằng chỉ một thời gian ngắn sau khi lập gia đình, cô ta đã vào căn chòi gỗ và định uống thuốc chuột.

“Lẽ ra tôi đã uống rồi”, cô ta nói. “Nhưng người đàn ông lái xe bán dạo đồ tạp hoá lại vừa tới nhà và tôi phải chạy ra mua các thứ. Chuyện này xảy ra khi tôi còn sống ở nông trại.”

Chồng cô ta đối xử rất tàn nhẫn với cô ta trong những ngày ấy, nhưng sau đó ông ta bị tai nạn — ông ta bị xe máy cày cán qua người và bị nặng đến độ sau đó ông ta mất khả năng lao động suốt đời. Họ chuyển đến thị trấn, và bây giờ Marjorie trở thành người trụ cột của gia đình.

“Một tối nọ hắn bắt đầu càm ràm và nói rằng hắn không muốn ăn tối. Thế là tôi cầm cổ tay hắn và giơ nó lên. Hắn sợ tôi sẽ vặn tay hắn. Hắn thấy rằng tôi sẽ làm điều đó. Tôi hỏi ‘Anh nói cái gì?’ Hắn liền nói, ‘Tôi sẽ ăn.’”

Họ nói về cha họ. Ông thuộc thế hệ cũ. Ông có một cái thòng lọng trong căn chòi gỗ (không phải cái chòi nơi Marjorie định uống thuốc chuột — cái chòi này cũ hơn và ở một nông trại khác), và mỗi khi họ làm ông điên tiết, ông bắt họ xếp thành hàng và doạ sẽ treo cổ họ lên. Lily, cô em, đã sợ run lẩy bẩy cho đến khi khuỵu xuống. Cũng người cha này đã sắp xếp cho Marjorie lấy người bạn nối khố của ông khi cô ta mới mười sáu tuổi. Đó chính là người chồng đã khiến cô ta muốn uống thuốc chuột. Người cha đã bắt Marjorie phải lấy chồng vì ông không muốn cô ta dính vào những chuyện rắc rối.

“Ông ta rất nóng máu,” Lily nói.

Tôi cảm thấy ghê sợ, và hỏi, “Tại sao các chị không bỏ trốn?”

“Lời nói của ông ta là luật lệ,” Marjorie nói.

Họ nói rằng đó là vấn đề đối với lũ trẻ bây giờ — nghĩa là bây giờ lũ trẻ quyết định mọi việc. Lời nói của người cha cần phải được tuân theo. Họ đã dạy con rất nghiêm khắc, và chưa đứa nào trở nên hư hỏng. Khi con trai của Marjorie đái dầm, cô ta doạ sẽ cắt chim thằng nhỏ với con dao mổ lợn. Thế là thằng nhỏ hết đái dầm.

Họ nói chín mươi phần trăm bọn con gái bây giờ uống rượu, và chửi thề, và vừa nằm vừa uống vừa chửi. Họ không có con gái, nhưng nếu họ bắt gặp chúng làm những chuyện này, họ sẽ đánh cho một trận nhừ tử. Họ kể rằng cô Irene thường đi xem khúc côn cầu với chiếc quần trượt tuyết có đường xẻ ở đáy quần và không mặc quần lót, để cho tiện việc đái xuống tuyết sau đó. Khủng khiếp.

Tôi muốn nêu ra một vài điều nghịch lý. Chính Marjorie và Lily cũng uống rượu và chửi thề, và có gì quá tuyệt vời về sự cả quyết của một người cha đã làm cho con mình chịu đựng cả một cuộc đời đau khổ? (Tôi chưa bao giờ thấy Marjorie và Lily vui vẻ với nhau — điều này không thể có, bởi vì cái cảm nghĩ của họ về hậu quả, bởi vì thái độ kiêu hãnh và lối sống của họ.) Tôi có thể nổi giận vì sự thiếu lô-gíc trong cách nói chuyện của hầu hết những người lớn — cách mà họ tuyên bố mà không cần biết là có bằng chứng hay không. Làm sao mà những đôi tay của những người đàn bà này lại thật tài tình, tinh vi và khéo léo đến thế — bởi tôi biết họ rất giỏi trong những việc khác cũng như trong việc mổ gà; họ rất giỏi may chăn, vá quần áo, vẽ, dán giấy tường, nhào bột và gieo hạt — nhưng cách nghĩ của họ thì thật cẩu thả, vụng về, và dễ gây phẫn nộ như vậy nhỉ?

Lily nói cô ta sẽ không để chồng cô ta đến gần mình khi ông ấy uống rượu. Marjorie nói từ cái lần chết hụt vì bị băng huyết, cô ấy không bao giờ để chồng mình đến gần, chấm hết. Lily nói khi ông ta đang uống rượu ông ta có thể làm bất cứ điều gì. Tôi có thể thấy đó là vấn đề sỉ diện khi không để chồng mình đến gần, nhưng tôi không chắc lắm rằng “đến gần” phải chăng có nghĩa là “làm tình”. Cái ý tưởng mà Marjorie và Lily đang tìm kiếm cho những mục đích như thế thì có vẻ hơi kỳ lạ. Răng của họ xấu tệ, bụng thì chảy xệ, khuôn mặt thì chán phèo và đầy tàn nhang. Tôi quyết định nên hiểu “đến gần” theo đúng nghĩa của nó.

Hai tuần trước Giáng Sinh là thời gian bận rộn nhất ở Vựa Gà Tây. Tôi phải vào lò mổ một tiếng đồng hồ trước khi đến trường và một tiếng đồng hồ sau giờ học và nguyên cả hai ngày cuối tuần. Buổi sáng khi tôi đi bộ đến lò mổ, đèn đường còn sáng và sao mai vẫn còn lấp lánh. Vựa Gà Tây ở ngay bên cạnh một cánh đồng tuyết trắng, với một hàng thông cao đằng sau, và luôn luôn, dù lạnh và vắng vẻ đến mấy, hàng thông vẫn vươn cao những cành cây, thở dài và rỏ nước. Dường như khó có thể tưởng tượng rằng trên đường tới Vựa Gà Tây, cho một giờ làm việc vào buổi sáng, tôi đã trải qua một cảm giác về sự hứa hẹn và đồng thời một cảm giác về sự bí mật hoàn hảo, bất khả tư nghị của vũ trụ, nhưng tôi đã trải qua như thế. Herb có điều gì đó liên quan đến cảm giác này, và cả cái lạnh nữa — một chuỗi những buổi sáng băng giá và trong trẻo. Sự thật là, những cảm giác như thế không phải là khó có. Tôi có được những cảm giác đó nhưng không biết làm sao kết nối chúng với bất cứ điều gì trong cuộc sống thật.

Một sáng kia, Vựa Gà Tây có thêm một người mổ gà mới. Đó là một kẻ lạ mặt, khoảng mười tám hay mười chín tuổi, tên Brian. Hình như hắn có họ hàng hay bạn bè gì đó với Herb Abbott. Hắn đang ở chung nhà với Herb. Hắn đã làm việc trên những chiếc du thuyền trên hồ vào mùa hè trước. Hắn nói hắn đã chán ngấy công việc đó, và hắn từ bỏ.

Nguyên văn hắn nói là “Đụ mẹ, mấy cái thuyền đó, tao chán lắm rồi.”

Ngôn ngữ được dùng trong Vựa Gà Tây thì xuề xoà và tự do, nhưng riêng chữ chửi thề này thì chưa bao giờ nghe ở đó. Và Brian sử dụng nó hình như không phải vì bất cẩn mà với vẻ phô trương, có cả sự xúc phạm và khiêu khích. Có lẽ cái thái độ của hắn đã tạo ra ấn tượng đó. Hắn khá đẹp trai: tóc vuốt keo, mắt xanh, da mặt hồng hào, cơ thể cân đối — loại đẹp trai mà ai mới nhìn cũng đều đồng ý. Nhưng một ý tưởng ấu trĩ và dai dẳng đã bám vào hắn và hắn đã để cho tất cả vốn liếng bản thân của hắn biến thành trò bắt chước. Cái miệng hắn trông ướt át và hầu như lúc nào cũng mở hé, cặp mắt hắn khép hờ, hắn diễn tả bản thân bằng một cái liếc mắt đầy hy vọng, và cử chỉ của hắn thì lười lĩnh, phô trương, mời gọi. Có lẽ nếu cho hắn lên sân khấu với một cái microphone và một cái đàn guitar và để hắn rên rỉ, gào thét và múa may, thì chắc là trông hắn giống như một danh ca thật sự. Không có sân khấu, trông hắn chẳng có sức thuyết phục. Sau một thời gian ngắn, trông hắn chỉ giống như một người bị chứng nấc cụt trầm trọng — cái vẻ gợi tình liên tục của hắn trở nên nhàm chán và vô nghĩa.

Nếu thái độ hắn nhẹ nhàng hơn một chút, thì có lẽ Marjorie và Lily đã thích hắn. Có thể họ đã bày ra cái trò chơi là bảo hắn hãy khép cái miệng nhớp nhúa của hắn lại và đừng có quơ tay lung tung như thế. Thay vì vậy, họ nói họ chán ngấy hắn, và đó là họ nói thật. Có một lần, Marjorie cầm con dao mổ lên. “Hãy giữ khoảng cách của mày,” cô ta nói. “Tao muốn nói là đừng đụng tới tao, em tao và con bé kia.”

Cô ta không nói là hắn phải giữ khoảng cách với Gladys, bởi vì Gladys không có mặt lúc đó và có lẽ Marjorie thật ra cũng chẳng muốn bảo vệ cô ấy. Nhưng chính Gladys là người mà Brian muốn chọc ghẹo. Gladys liệng cái dao xuống, đi vào nhà vệ sinh và ở trong đó mười phút và đi ra với khuôn mặt lạnh như đá. Cô ra về, nhưng không còn nói là cô cảm thấy bệnh như trước nay cô vẫn thường nói. Marjorie nói là ông Morgan đã rất giận Gladys vì cô ăn nhờ ở đậu mà không chịu làm việc và ông sẽ không bỏ qua cho cô nữa đâu.

Gladys nói với tôi, “Chị không chịu được những thứ như thế. Chị không chịu được những người nói về những chuyện như thế và cái loại... những hành động như thế. Nó làm chị muốn ói mửa.”

Tôi tin cô ấy. Mặt cô tái nhợt một cách khủng khiếp. Nhưng tại sao, trong trường hợp đó, cô không phàn nàn với ông Morgan? Có lẽ mối quan hệ giữa họ rất khó chịu, hay có thể cô không muốn chính mình phải nhắc lại hoặc diễn tả lại những hành động như thế. Tại sao không có ai trong chúng tôi phàn nàn — nếu không phải với ông Morgan thì ít ra cũng phàn nàn với Herb chứ? Tôi chưa bao giờ nghĩ về điều này. Brian dường như chỉ là một cái gì đó mà tôi phải chịu đựng, cũng như chịu đựng sự lạnh cóng trong cái lán mổ này và mùi máu, mùi rác rưởi. Khi Marjorie và Lily doạ là sẽ phàn nàn, thì lý do lại là sự lười biếng của Brian.

Hắn không phải là thợ mổ giỏi. Hắn nói hai bàn tay hắn quá to. Vì thế Herb mang hắn ra khỏi khu mổ gà, bảo hắn quét dọn, đóng gói lòng gà, và chất hàng lên xe tải. Điều này có nghĩa là hắn không phải ở một chỗ nhất định hay làm một việc nhất định trong một thời gian nhất định, vì thế rất nhiều khi hắn chẳng làm gì cả. Thường thì hắn chùi sàn, rồi bỏ đó và đi lau bàn, rồi bỏ đó và hút một điếu thuốc, tựa vào cạnh bàn và làm phiền chúng tôi cho đến khi Herb kêu hắn ta giúp chất hàng. Herb lúc này rất bận rộn và mất rất nhiều thời gian để giao hàng, nên có lẽ anh không biết mức độ chây lười của Brian.

“Tao không hiểu sao Herb không đuổi việc mày,” Marjorie nói. “Tao đoán câu trả lời là tại vì anh ấy không muốn mày ăn nhờ ở đậu miễn phí trong nhà anh ấy, và vì mày không biết đi chỗ nào khác để ở.”

“Tôi có chỗ để đi,” Brian nói.

“Câm cái miệng ướt nhẹp của mày lại,” Marjorie nói. “Tao thấy tội cho Herb, anh ta bị kẹt cứng.”

Ngày cuối cùng ở trường trước Giáng Sinh chúng tôi được về sớm vào buổi chiều. Tôi về nhà thay quần áo và đi làm lúc khoảng ba giờ. Không có ai làm việc cả. Mọi người đều ở trong lán mổ, nơi ông Morgan Elliott đang huơ con dao phay trên bàn mổ và gào thét. Tôi không biết ông đang gào thét vì chuyện gì, và nghĩ rằng ai đó đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng trong công việc; có lẽ người đó là tôi. Và lúc đó tôi thấy Brian đang đứng phía bên kia cái bàn, với vẻ mặt nhăn nhó và bần tiện, và đứng lùi lại khá xa. Cái vẻ dâm đãng vẫn còn trên mặt hắn, nhưng có phần giảm bớt, trộn lẫn với một vẻ cay cú bất lực và đôi chút sợ sệt. Đây rồi, tôi nghĩ, Brian đang bị đuổi việc vì cẩu thả và lười biếng. Ngay cả lúc tôi nghe ông Morgan nói “dâm tặc”, “nhơ nhuốc” và “bệnh hoạn”, tôi vẫn nghĩ là Brian bị đuổi việc vì lười biếng. Marjorie, Lily và ngay cả cô Irene ăn mặc diêm dúa, cũng đang đứng xung quanh, với vẻ thất vọng và khá thành khẩn, giống như cử chỉ của trẻ con khi thấy ai đó bị la mắng ầm ĩ và đuổi ra khỏi trường. Chỉ có cụ Henry là dường như còn giữ được một nụ cười kín đáo trên khuôn mặt. Gladys không có mặt ở đó. Herb đứng gần ông Morgan hơn mọi người khác. Anh không can thiệp vào nhưng luôn để ý đến con dao phay. Morgy thì đang khóc lóc, nhưng trông anh ta không có vẻ như đang chịu đựng điều gì nguy hiểm đến tính mạng.

Ông Morgan gào lên, bảo Brian phải cút ngay. “Cút ngay khỏi thị trấn này — tao nói thật đấy — và đừng chờ đến ngày mai nếu mày còn muốn các xác của mày nguyên vẹn! Cút ngay!” ông ta hét lên, và quơ con dao phay một cách đầy kịch tính về phía cửa. Brian bắt đầu đi về phía cửa nhưng, không biết hắn có cố ý hay không, cặp mông của hắn đưa qua đưa lại như trêu chọc. Điệu bộ này làm ông Morgan nổi điên và ông rượt theo hắn, quơ con dao phay như đang diễn trên sân khấu. Brian bỏ chạy, ông Morgan đuổi theo hắn, và cô Irene khóc thét lên, ôm lấy cái bụng bầu. Ông Morgan quá mập nên chẳng chạy nổi và có lẽ cũng không thể ném con dao phay quá xa. Herb đứng ở cửa ngó theo. Một lát sau, ông Morgan trở lại và liệng con dao phay lên bàn.

“Tất cả trở lại làm việc! Đừng có đứng trố mắt ra ở đây nữa! Tao không trả tiền cho tụi bây đứng đây mà trố mắt ra! Còn mày làm sao vậy?” Ông ta hỏi, nhìn thẳng vào mặt Irene.

“Dạ không có gì,” Irene trả lời một cách ngoan ngoãn.

“Nếu mày có vấn đề gì thì hãy rời khỏi nơi này.”

“Cháu không có sao mà.”

“Thế thì tốt!”

Chúng tôi trở lại công việc. Herb cởi chiếc áo choàng dính đầy máu, mặc chiếc áo khoác vào và bước ra ngoài, có lẽ anh đi xem thử Brian có kịp lên chiếc xe buýt cuối ngày hay không. Anh chẳng nói gì. Morgan và con trai ông đi ra sân, còn Irene và Henry thì đi sang lán bên cạnh, nơi họ nhổ lông gà, làm việc trong đống lông gà cao tới đầu gối mà lẽ ra Brian đã phải quét chúng đi rồi.

“Gladys đâu?” tôi hỏi nhỏ.

“Đang phục hồi thần trí,” Marjorie nói. Cô ta cũng nói nhỏ hơn thường ngày, và phục hồi thần trí cũng không phải là loại từ ngữ mà cô ta và Lyli thường dùng. Đó là những từ dùng để nói về Gladys, với ý định chế giễu.

Họ không muốn kể lại chuyện đã xảy ra, bởi họ ngại ông Morgan có thể quay lại và bắt gặp họ đang nói và sẽ đuổi việc họ. Những công nhân tốt như họ thì sợ bị đuổi việc. Ngoài ra, họ cũng đã chẳng thấy gì cả. Chắc họ đang bực mình vì họ đã không được chứng kiến. Sau này tôi mới biết là Brian đã làm gì đấy hay đã giơ cái gì đấy cho Gladys thấy khi cô ta vừa bước ra khỏi nhà vệ sinh, và cô ta bắt đầu la hét và trở nên hoảng loạn.

Có thể cô ta sẽ bị trầm cảm lần nữa, họ nói. Và hắn sẽ đi khỏi thị trấn này. Và đó là điều đáng mừng cho cả hai.

 

***

 

Tôi có bức ảnh chụp cả toán nhân viên của Vựa Gà Tây trong Đêm Giáng Sinh. Nó được chụp với một máy ảnh tự động có đèn flash — một món quà Giáng Sinh đắt tiền của ai đó. Tôi nghĩ máy ảnh đó là của Irene. Nhưng Herb Abbott chắc hẳn là người đã chụp bức hình. Chỉ anh ấy mới là người có thể tin được là biết sử dụng hay tức khắc học cách sử dụng những thứ mới mẻ, và máy ảnh tự động là thứ khá mới mẻ lúc bấy giờ. Bức ảnh được chụp vào khoảng mười giờ Đêm Giáng Sinh, sau khi Herb và Morgy trở về từ chuyến giao hàng cuối cùng và sau khi chúng tôi đã rửa sạch bàn và lau nền nhà xi-măng. Chúng tôi cởi bỏ những cái áo choàng dính đầy máu và những chiếc áo lạnh dày cộm, rồi đi vào một phòng nhỏ gọi là phòng ăn, ở đó có một cái bàn và một lò sưởi. Chúng tôi vẫn mặc quần áo làm việc: quần yếm và áo. Đàn ông đội mũ, còn đàn bà buộc khăn tay trên đầu, theo kiểu thời chiến tranh. Trong ảnh, tôi trông rắn rỏi, tươi tắn và biểu lộ tình đồng đội, nghĩa là tôi biến thành một mẩu người mà tôi chẳng nhớ nổi có phải lúc ấy mình đúng là như thế hay giả vờ như thế. Tôi trông già hơn nhiều so với cái tuổi mười bốn. Irene là người duy nhất cởi chiếc khăn buộc tóc, để xoã mái tóc đỏ. Cô ta nổi bật với vẻ hiền hậu, khêu gợi và mời gọi, đúng như tiếng đồn về cô ta, nhưng hình ảnh đó không giống như dáng vẻ mà tôi nhớ về cô ta. Vâng, cái máy ảnh ấy chắc là của cô ta; cô ta làm dáng cho bức ảnh, với điệu bộ đó, rõ ràng cô ta có chủ ý hơn bất cứ ai khác. Marjorie và Lily thì mỉm cưới, đúng như cái cách của chính họ, nhưng nụ cười của họ có vẻ chua chát và bất cần. Với mái tóc giấu sau chiếc khăn, và với dáng vẻ ấy khi họ ở bên nhau, họ giống như hai chàng công nhân tháo vát, vui vẻ nhưng rất dễ nổi cáu. Khăn buộc tóc có vẻ không hợp với họ; mũ lưỡi trai có vẻ hợp hơn. Cụ Henry thì rất phấn khởi, hài lòng là một thành viên của nhóm, cười toác miệng và trông trẻ hơn tuổi của cụ khoảng hai mươi năm. Và Morgy, với dáng xấu hổ, không tin vào sự hào sảng của bữa tiệc thưởng công, và ông Morgan rất xúc động, ra dáng ông chủ và mãn nguyện. Ông vừa thưởng cho mỗi chúng tôi một con gà tây. Mỗi con gà đều mất một cánh hoặc một chân, hoặc mất một cái gì đó, và những con gà này không thể đem bán nguyên giá. Nhưng Morgan cố gắng nói với chúng tôi rằng thịt của những con gà khuyết tật là ngon nhất, và ông còn khoe cho chúng tôi thấy rằng chính ông cũng lấy một con như vậy đem về nhà.

Chúng tôi đều cầm những cái cốc hay những cái tách sứ to và dày, trong đó không phải đựng trà mà đựng rượu whisky làm bằng lúa mạch. Ông Morgan và cụ Henry đã uống từ chập tối. Marjorie và Lyli nói họ chỉ muốn nhấm nháp chút xíu thôi, và chỉ uống rượu vì bây giờ là Đêm Giáng Sinh và họ đang lạnh cóng chân. Irene nói cô ta cũng lạnh cóng chân, nhưng điều đó không có nghĩa là cô ta uống ít. Herb đã rót rượu một cách khá hào sảng không chỉ cho cô ta mà cho cả Marjorie và Lily nữa, và họ không hề từ chối. Anh đong từng chút rượu cho tôi và Morgy, một cách rất hà tiện, và đổ Coca-Cola vào. Đây là lần đầu tôi uống rượu, và kết quả là suốt nhiều năm sau tôi cứ tưởng rượu-lúa-mạch-pha-Coca-Cola là một loại thức uống tiêu chuẩn và tôi luôn yêu cầu loại thức uống này, cho đến khi tôi thấy chỉ có một vài người uống thứ rượu pha ấy và điều đó khiến tôi tá hoả. Nhưng Đêm Giáng Sinh năm đó tôi chẳng bị gì cả; Herb đã không cho tôi uống nhiều đủ để tôi say. Ngoại trừ cái vị hơi lạ, và cảm giác riêng của tôi là sợ bị say, tôi đã uống thứ rượu pha ấy giống như uống Coca-Cola.

Tôi không cần có Herb trong bức ảnh để nhớ lại dung mạo của anh ấy. Nghĩa là lúc nào anh ấy cũng giống như chính anh ấy, trong suốt cả thời gian ở Vựa Gà Tây và vài lần tôi trông thấy anh ấy trên đường phố — vẫn đúng là cái dung mạo của anh ấy, mà lúc nào tôi thấy anh ấy cũng y như vậy, ngoại trừ một lần.

Cái lần anh ấy trông có vẻ khác với chính anh ấy là cái lúc mà ông Morgan đang nguyền rủa xua đuổi Brian và, sau đó, khi Brian đã chạy thoát ra ngoài đường. Sự khác biệt này là gì? Tôi cố nhớ lại, bởi vì lúc đó tôi đã ngắm anh ấy rất kỹ. Cũng không khác gì nhiều. Mặt anh ấy có vẻ tái hơn và tối hơn, và nếu bạn phải diễn tả sự biểu cảm trên khuôn mặt đó bạn có thể nói nó biểu lộ sự nhục nhã. Nhưng anh ấy cảm thấy nhục nhã vì điều gì? Nhục vì Brain, vì cái thái độ mà Brian đã ứng xử chăng? Chắc chắn lúc đó đã trễ rồi; vì có bao giờ Brian đã ứng xử khác đâu nào? Nhục vì Morgan đã phản ứng quá dữ dằn và đầy kịch tính? Hay nhục vì chính mình, bởi anh ấy nổi tiếng là người hay ngăn chặn những cuộc đánh lộn và cãi vả kiểu này ngay từ đầu, nhưng anh ấy lại không làm được điều đó ở đây? Hay anh ấy cảm thấy nhục vì đã không bênh vực cho Brian? Có phải anh ấy mong rằng đáng lẽ anh ấy phải làm điều đó, nghĩa là bênh vực cho Brian?

Đó là tất cả những điều tôi tự hỏi lúc bấy giờ. Sau này, khi tôi hiểu biết nhiều hơn, ít ra là về tình dục, tôi tin rằng Brian là người yêu của Herb, và Gladys đã cố gắng lôi kéo sự chú ý của Herb, và đó là lý do tại sao Brian đã làm nhục cô ấy — chẳng biết là có hay không có sự thông đồng và cho phép của Herb. Có thật là một người như Herb — loại người nghiêm nghị, kín đáo, trọng danh dự — lại thường thích loại người như Brian, lại đi phung phí tình yêu vô vọng cho một kẻ đồi bại, ngu xuẩn, một kẻ chưa phải là quỷ sứ, hay một con quái vật, nhưng là loại người chuyên gây ra phiền toái triền miên? Tôi tin rằng lúc ấy, với tất cả sự nhẹ nhàng và cẩn trọng của mình, Herb đã vì Brian mà oán ghét tất cả chúng tôi — không phải chỉ riêng đối với Gladys, mà đối với tất cả chúng tôi — và đó là cảm nghĩ của anh ấy khi tôi quan sát kỹ nét mặt anh ấy và thấy có một sự man dại và vẻ khinh bỉ hả hê. Nhưng đồng thời cũng có sự xấu hổ — xấu hổ cho Brian, cho cả anh ấy và cho cả Gladys, và ở một mức độ nào đó, xấu hổ cho tất cả chúng tôi. Nhục nhã cho tất cả chúng tôi — đó là điều tôi đã nghĩ vào lúc ấy.

Tuy nhiên sau này, tôi đã gạt bỏ lời giải thích này. Đã đến lúc tôi cần gạt bỏ những điều mà tôi không lý giải được. Giờ đây, tôi chỉ nghĩ đến khuôn mặt của Herb với vẻ biểu hiện khác thường và tổn thương; tôi nghĩ đến chuyện Brian đã làm trò khỉ đằng sau sự nghiêm trang của Herb; tôi nghĩ đến sự lưu tâm kín đáo của tôi đối với Herb, và ước muốn của tôi được quan hệ với anh ấy, giá như tôi có bất cứ một cơ hội nào, để rồi tôi dọn đến và ở gần bên anh ấy. Quyến rũ làm sao, thú vị làm sao, cái triển vọng thân mật ấy, với chính con người không bao giờ ban phát điều ấy. Tôi vẫn còn cảm nhận được sự lôi cuốn của một người đàn ông như vậy, của sự hứa hẹn và từ chối của anh ấy. Tôi vẫn muốn biết những điều đó. Bất cần những sự kiện. Cũng bất cần những giả thuyết.

Khi tôi uống hết ly rượu tôi muốn nói một điều gì đó với Herb. Tôi đứng bên cạnh anh ấy và chờ cái khoảnh khắc anh ấy không lắng nghe ai hay không nói chuyện với ai, và chờ khi cuộc chuyện trò càng lúc càng nhốn nháo của những người khác có thể che giấu những điều tôi cần nói.

“Em lấy làm tiếc khi bạn anh phải đi khỏi nơi đây.”

“Điều đó cũng bình thường thôi.”

Herb nói một cách ôn tồn và với chút hài hước, và cử chỉ đó đã ngăn chặn tôi, không cho phép tôi có quyền tiếp tục nhìn vào hay nói về cuộc sống của anh ấy. Anh ấy biết tôi đang muốn gì. Chắc chắn anh ấy đã từng có nhiều kinh nghiệm về chuyện này, với rất nhiều phụ nữ. Anh ấy biết phải đối phó như thế nào.

Lily uống thêm một chút whisky trong cốc và kể chuyện cô ta và người bạn thân thiết nhất của cô ta (đã chết, vì bệnh gan) có lần đã cải trang thành đàn ông và trà trộn vào phía dành cho đàn ông trong quán bia, nơi có bảng hiệu CHỈ DÀNH CHO ĐÀN ÔNG, bởi vì họ muốn xem nơi đó như thế nào. Họ ngồi trong một góc và uống bia, mở to mắt và giỏng tai lên nghe, và không ai thèm nhìn họ đến lần thứ hai hoặc thắc mắc gì về họ, nhưng chẳng mấy chốc thì sự phiền toái xảy ra.

“Bọn tôi đi đâu bây giờ? Nếu bọn tôi đi trở lại chỗ của đám đàn bà, và bất cứ ai thấy bọn tôi đi vào nhà vệ sinh nữ, thì họ sẽ gào lên như có án mạng xảy ra. Còn nếu bọn đi vào nhà vệ sinh nam, thì chắn chắn sẽ có người nhận ra là bọn tôi không đi tiểu đúng cách. Trong khi đó thì bia đang chảy xuyên qua bọn tôi như muốn nổ tung toé ra!”

“Khi bọn mày còn trẻ thì có thứ gì mà bọn mày không làm!” Marjorie nói.

Vài người nữa đưa ra lời khuyên cho tôi và Morgy. Họ nói chúng tôi nên vui chơi khi còn có thể. Họ bảo chúng tôi nên tránh xa mọi rắc rối. Họ nói họ đã qua thời tuổi trẻ. Herb nói rằng chúng tôi là một tập thể đoàn kết và đã làm việc rất tốt nhưng anh ấy không muốn làm phiền những ông chồng của đám phụ nữ vì đã giữ họ ở lại quá trễ. Marjorie và Lily biểu lộ sự thờ ơ đối với chồng của họ, nhưng Irene nói cô ta rất yêu chồng mình và sự thật không phải là anh ta đã bị lôi trở lại từ Detroit để cưới cô ta, mặc kệ ai muốn nói sao thì nói. Henry nói đó là một cuộc sống tốt nếu bạn không nản chí. Morgan nói ông chân thành cầu chúc mọi người một mùa Giáng Sinh vui vẻ nhất.

Chúng tôi rời Vựa Gà Tây trong khi tuyết đang rơi. Lyly nói phong cảnh giống như một tấm thiệp Giáng Sinh, và đúng là giống thật, tuyết bay quanh những ngọn đèn đường trong thị trấn và quanh những dãy đèn màu người ta trang trí trước sân nhà. Morgan cho Henry và Irene quá giang về nhà trên chiếc xe tải vì lòng ưu ái đối với người già, người có thai và mùa Giáng Sinh. Morgy lái xe theo đường tắt qua cánh đồng, còn Herb thì thả bộ về nhà, đầu cúi xuống và tay đút trong túi quần, bước chầm chậm, giống như anh đang ở trên boong một chiếc du thuyền trôi trên hồ. Marjorie và Lyli khoác tay với tôi như thể chúng tôi là những chiến hữu lâu năm.

“Tụi mình hát đi,” Lily đề nghị. “Hát cái gì bây giờ?”

“Hát bài ‘Ba Vua’ nhé?” Marjorie hỏi. “Hay bài ‘Chúng Ta, Ba Người Mổ Gà Tây?”

“Bài ‘Tôi Đang Mơ Một Đêm Giáng Sinh Đầy Tuyết Trắng.”

“Sao lại mơ? Mình đã có rồi mà.”

Và thế là chúng tôi cùng hát.

 

 

------------
Dịch từ nguyên tác “The Turkey Season”, trong Alice Munro, Selected Stories (New York: Vintage Books, 1991) 289-311.

 

-------------

Đã đăng:

Bầy cáo bạc  (truyện / tuỳ bút) 
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2013] ... Khi tôi mang nước đến, những con cáo đi lảng vảng lên xuống trong chuồng, rất ít sủa — chúng chờ đến khuya, lúc tập hợp lại thành một dàn hợp xướng điên cuồng — nhưng chăm chăm nhìn tôi, cặp mắt chúng cháy bỏng, vàng rực, trong vắt, trên những khuôn mặt nhọn hoắt và hung ác. Bầy cáo thật đẹp với những cẳng chân thon nhẹ, những cái đuôi trĩu nặng quý phái, bộ lông óng ánh bạc giữa nền đen trên lưng— vì vậy chúng có tên là cáo bạc — nhưng đặc biệt là ở khuôn mặt, khắc từng nét sắc sảo đẹp tuyệt với nỗi thù hận rõ ràng, và ở đôi mắt vàng ánh... [Bản dịch của Nguyễn Đức Tùng] (...)
 
Thị trấn bên đường  (truyện / tuỳ bút) - Munro, Alice
[NOBEL VĂN CHƯƠNG 2013] ... Cha tôi băng qua cánh đồng ôm xác một đứa bé trai bị chết đuối. Họ có nhiều người, trở về sau cuộc lùng kiếm, nhưng ông là người mang xác thằng bé. Những người đàn ông mình mẩy đầy bùn, mệt lả, bước đi đầu cúi xuống, như thể họ là những người có lỗi. Ngay những con chó cũng chán nản, lông nhểu nước từ con sông lạnh giá. Thế mà vài giờ trước đó khi khởi sự, chúng còn tỏ ra bồn chồn, chạy quanh sủa ăng ẳng, những người đàn ông quyết tâm, căng thẳng, và có một không khí kích động bị kìm nén lại, không diễn tả được, bao trùm toàn bộ khung cảnh. Lúc đó ai cũng biết rằng có thể họ sẽ tìm thấy một điều gì khủng khiếp... [Bản dịch của Nguyễn Đức Tùng] (...)

 

 

------------------

Bài liên quan:

Nhà văn Canada 82 tuổi Alice Munro (1931~), “bậc thầy của truyện ngắn đương đại”, vừa được trao tặng Giải Nobel Văn Chương 2013. Từ thập kỷ 1960 đến nay, Munro đã là tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng, và bà cũng đã từng đoạt nhiều giải văn chương quan trọng, kể cả giải Man Booker International Prize 2009 cho toàn bộ sự nghiệp sáng tác. Thật thú vị vì đây là lần đầu tiên một nhà văn chuyên viết truyện ngắn được trao giải Nobel Văn Chương. Hoàng Ngọc-Tuấn nói chuyện với Tú Trinh (SBS Radio) về bút pháp và thế giới quan của Munro, và về lý do vì sao bà đã chọn viết truyện ngắn thay vì viết tiểu thuyết... (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018