thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Công tước Guermantes phu nhân trong trại tù

 

Chân dung Josef Czapski

(1896-1993)

_________

 

CÔNG TƯỚC GUERMANTES PHU NHÂN TRONG TRẠI TÙ

Raphaëlle Rérolle

 
Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường

 

Có những cuốn sách vĩ đại hơn nhiều so với chính nó — vô cùng vĩ đại, trong mọi trường hợp, hơn các trang giấy chứa đựng chúng. Những cuốn sách này, rất lâu sau khi đã đóng lại, mở ra trong tâm trí người đọc như các chất phóng xạ. Từ những con chữ, những tình huống, những suy tưởng mà chúng đã mô tả, nảy sinh một loạt các hình ảnh để hình thành một cuốn sách khác, một tác phẩm ẩn, song song với tác phẩm gốc. Một tác phẩm lạ kỳ, không liên tục, nhưng có thể mang đi khắp mọi nơi, ngay cả khi ra đi không hành lý — vào một trại tù, chẳng hạn.

Đó là thân phận tác phẩm của Proust trong tâm trí một độc giả ngoại hạng tên là Joseph Czapski, một hoạ sĩ. Sinh năm 1896 trong một gia đình quý tộc Ba-lan, Czapski đã đến với Đi tìm thời gian đã mất vào năm 1925. Trong bản tiếng Pháp, tất nhiên. Bị động viên ngay từ lúc đầu của thế chiến thứ hai, ông đã bị quân Xô-viết bắt giam, ở Nga, trong trại tù Griazowietz. Tại đây, trong một tu viện cổ đã bị bom tàn phá hết phân nửa, 400 sĩ quan và binh sĩ Ba-lan được giao phó cho những công việc nhọc nhằn trong cái lạnh buốt giá của miền Siberia. Tuy nhiên, trong số những người lính xanh xao gầy gò ấy — những kẻ đã may mắn thoát khỏi vụ thảm sát ở Katyn — một số đã tưởng tượng và nghĩ ra cách để chia sẻ với các bạn tù những kiến thức của họ trước khi có chiến tranh.

“Trong một căn phòng nhỏ chật ních bạn bè,” Czapski kể lại, “mỗi chúng tôi cố nói về những gì mình còn nhớ rõ nhất.”

Đối với Czapski, đó là những bài giảng về hội hoạ và văn chương Pháp, bao gồm một khoá học về Proust. Được miễn làm các công việc khó khăn nhất, ngoại trừ gọt vỏ khoai và làm sạch chiếc cầu thang lớn của tu viện, người thầy bất đắc dĩ kia đã hồi tưởng. “Tôi được tự do hoàn toàn,” ông nhấn mạnh. “Tự do để kể lể cho các bạn tù, dồn đống dưới các bức chân dung Marx và Lenin trong lòng của mùa đông 1941, những câu chuyện về bà công tước Guermantes, cái chết của [nhạc sĩ] Bergotte và tất cả những gì tôi còn nhớ về cái thế giới của những khám phá quý báu về tâm lý và cái đẹp của văn chương.”

Biên soạn mà không có tài liệu để tham khảo, các khoá học này lúc đầu chỉ là những ghi chú, về sau được tác giả chép lại trực tiếp bằng tiếng Pháp. Chính văn bản này, cùng với các phiên bản những tranh phát hoạ nguyên tác, đã được in lại. Bằng một ngôn ngữ tuyệt vời, đầy tính sáng tạo, tuy có vài sai lầm nho nhỏ nhưng do đó càng thêm thú vị, Czapski không chỉ trình bày trọn vẹn nhiều cảnh trong Đi tìm, nhiều giai đoạn về cuộc đời của Proust, nhiều phân tích chói chang về quá trình sáng tạo, mà toàn bộ văn chương, nghệ thuật, và triết lý, “nơi ngâm rễ của cảm giác sáng tạo của Proust.”

Kết quả là một cuốn sách kinh hồn.[*] Trước tiên, là vì khi chúng ta hình dung những kẻ bị giam cầm gợi lại một tù nhân khác, Proust, tự giam hãm trong căn phòng lót liège quá nóng. Nhưng chủ yếu vẫn là trí nhớ, đề tài chính của Đi tìm, đã được vinh danh một cách quá tài tình, ngay cả khi tác giả đã khiêm nhường xin lỗi về một số sai lầm và phỏng chừng. Vì thế mà văn bản của Czapski đã toả sáng, linh động, còn “âm ỉ” mãi trong tâm trí của người đọc rất lâu sau khi đã đọc xong: một cuốn sách tuyệt vời và một bằng chứng về văn học có thể cứu vãn.

 

-----------
Nguồn: “La duchesse de Guermantes au goulag”, Le Monde des Livres, ngày 4 tháng Hai, 2011.

 

_________________________

[*] Proust contre la déchéance [Proust để chống tha hoá] (Paris: Noir sur Blanc, 1987).

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018