thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Tẩu khúc của cái chết (Todesfuge)
 
Bản dịch Diễm Châu
 
Sữa đen của hừng đông chúng ta uống buổi tối
chúng ta uống buổi trưa và buổi sáng chúng ta uống ban đêm
chúng ta uống chúng ta uống
chúng ta đào một cái huyệt ở trên không nằm rộng rãi
Một người ở trong nhà hắn chơi với rắn hắn viết
hắn viết khi đêm đen buông xuống nước Đức mái tóc của người vàng
óng Margarete
hắn viết điều ấy và bước ra trước nhà và các vì sao rực sáng hắn
huýt lũ chó ngao
hắn huýt đám người Do-thái của hắn ra khiến đào một cái huyệt ở
dưới đất
bây giờ hắn ra lệnh cho chúng ta chơi nhạc để khiêu vũ
 
Sữa đen của hừng đông chúng ta uống mi ban đêm
chúng ta uống mi buổi trưa và buổi sáng chúng ta uống mi buổi tối
chúng ta uống chúng ta uống
Một người ở trong nhà hắn chơi với rắn hắn viết
hắn viết khi đêm đen buông xuống nước Đức mái tóc của người vàng
óng Margarete
Mái tóc của người màu tro Sulamith chúng ta đào một cái huyệt ở
trên không nằm rộng rãi
 
Hắn kêu hãy đào sâu hơn nữa lũ bay hãy đàn ca lũ bay
hắn rút cây sắt từ thắt lưng vung lên đôi mắt hắn xanh
sâu thêm nữa những cán mai lũ bay chơi đi chơi đi để khiêu vũ lũ bay
 
Sữa đen của hừng đông chúng ta uống mi ban đêm
chúng ta uống mi buổi trưa và buổi sáng chúng ta uống mi buổi tối
chúng ta uống chúng ta uống
một người ở trong nhà mái tóc của người vàng óng Margarete
mái tóc của người màu tro Sulamith hắn chơi với rắn
 
Hắn kêu hãy chơi nhè nhẹ cái chết cái chết là một chủ nhân ông đến
từ nước Đức
hắn kêu hãy siết những cung đàn đen tối hơn rồi các người sẽ lên
không như khói
rồi các người sẽ có một cái huyệt ở hốc mây nằm rộng rãi
 
Sữa đen của hừng đông chúng ta uống mi ban đêm
chúng ta uống mi buổi trưa cái chết là một chủ nhân ông đến từ nước
Đức
chúng ta uống mi buổi tối và buổi sáng chúng ta uống chúng ta uống
cái chết là một chủ nhân ông đến từ nước Đức con mắt hắn xanh
cái chết đánh trúng người bằng một viên đạn chì cái chết đánh trúng
người thật chính xác
một người ở trong nhà mái tóc của người vàng óng Margarete
hắn phóng lũ chó ngao rượt đuổi chúng ta hắn tặng chúng ta một cái
huyệt ở trên không
hắn chơi với rắn và mơ tưởng cái chết là một chủ nhân ông đến từ
nước Đức
 
mái tóc của người vàng óng Margarete
mái tóc của người màu tro Sulamith
 
(Mohn und Gedächtnis, 1952)
 
------------------------------
PAUL CELAN (Paul Antschel, 1920-1970) sinh ngày 23.11.1920 tại Czernowitz, Bucovina, tỉnh lỵ của đế quốc Áo-Hung, thuộc quyền cai trị của Ru-ma-ni vào thời kỳ Đệ nhất Thế chiến. Cha mẹ ông gốc người Do-thái, nói tiếng Đức. Sau tú tài, ông khởi sự học thuốc ở Tours, Pháp, rồi vào tháng 7. 1939 trở lại Czernowitz học ngôn ngữ. Năm 1941, thành phố này bị Đức quốc xã chiếm đóng. Cha mẹ ông bị bắt nhốt vào trại tập trung. Ông trốn thoát nhưng sau đó lại bị bắt giữ trong trại lao động, phải đi đập đá... Mẹ ông bị Đức quốc xã bắn chết (không phải “cái chết màu hoa cà»!), cha ông cũng chết trong trại tù Đức quốc xã và chính ông cũng là một kẻ “sống sót” từ trại tù Đức quốc xã. Chiến tranh chấm dứt, Czernowitz thuộc quyền của Liên Sô. Celan làm việc trong một nhà xuất bản ở Bucarest (1945-1947) như một người phiên dịch. Năm 1947, ông di cư qua Vienne, nơi đây năm 1948 ông đã cho xuất bản tập Der Sand aus den Urnen, tập thơ đầu tiên của ông, dưới bút hiệu Paul Celan. (Tập thơ này sau đó bị thu hồi theo yêu cầu của tác giả, vì có quá nhiều lỗi ấn loát!) Cũng năm này, Celan rời Vienne để tới cư ngụ tại Paris, nơi ông tiếp tục học ngôn ngữ và văn chương, rồi trở thành giảng viên tiếng Đức tại École Normale Supérieure đường Ulm... Sau một chuyến thăm Israel vào tháng 10. 1969, Celan trở lại Paris; rồi tự trầm trên sông Seine vào tháng 4. 1970. Ông còn lại một người con trai duy nhất: Eric Celan...
 
Tất cả các thi phẩm của Paul Celan được xuất bản đều đặn ở Đức và sau khi ông mất... Sinh thởi, Celan vẫn cho rằng “thơ không còn áp đặt, thơ giãi bày»; yếu tính của thơ ông vẫn là “đối thoại”, “tìm tới người khác”... Gần đây, thư từ giữa Paul Celan và nữ sĩ Nelly Sachs (Nobel Văn chương, 1966) được công bố, còn cho thấy một con người dứt khoát trong chọn lựa, không thỏa hiệp. Theo một nhà nghiên cứu văn học hiện đại, con người chống-Stalin (trong việc dịch Mandelstam,..) không “thay đổi” gì con người cách mạng của Paul Celan... Celan là tác giả bài “Cho một người anh em ở Á châu” dành cho Việt-nam trong chiến tranh. Bài trên (Todesfuge) có lẽ là bài nổi tiếng nhất của ông, thường thấy trong nhiều tuyển tập Thơ thế giới. Bài «Todesfuge» cùng với một số bài khác bằng tiếng Việt có thể tìm thấy tại tủ sách về Paul Celan tại École Normale Supérieure, Paris. (DC.)
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018