thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Chuyện các biến cố
(Diễm Châu dịch)
 
Lần này chúng ta đã trở lại về đêm,
thời biểu của biển trông chừng chim chóc và những tấm kính,
những trạm ngừng đóng cửa trong ngày nghỉ ngơi hay im lặng này,
những sắc màu mà người ta còn có thể nói là có tính người khởi sự vào lúc tảng sáng
như những ngọn cờ đã phai nhạt.
 
Lần này con tàu chạy trong im lặng,
bọt nước như viền quanh một con tim rách nát giữa những hàng kim tuyến của đêm tối.
Có điều gì đó thuộc về chúng ta trong tiếng vỡ đổ xa xa của những đợt sóng,
trong dấu hiệu mỏng manh của đất liền, mà ban chiều trời đã giữ lại một khoảnh khắc
dưới dạng một cánh chim áp vào ngực mình,
có điều gì đó thuộc về chúng ta trong sức đẩy lúc này đã dịu bớt, tươi mát và tăm tối của những ngọn triều.
 
Ở bên kia tín điệp mà tóc của những người chìm đắm làm tỏa rạng,
bên kia vùng biển thấp để lộ những vành môi xám như nỗi đau vụng về,
bên kia những cánh rừng mục nát và muối đã kết tinh vì tội ác của những vùng quần tụ đơn độc,
bên kia lồng ngực ghi dấu sắt nung của im lặng ; xa hơn,
là tiếng kêu của con chim biển hủy hoại buổi chiều bằng một nhát mỏ mổ vào vừng mặt trời lặn,
người đàn bà băng qua đêm tối với một ký hiệu xanh ghi trong mắt,
người đàn ông lơ đãng đùa với ngày mới nhú như với một lưỡi dao đã mài bén, chói lòa.
 
Không có gì hết ngoài tiếng lao xao của làn gió nhẹ giữa những sợi thừng trên tàu,
ngoài nhịp thở đã nguôi ngoai của những người nằm ngủ như thể họ không ngơi nghỉ được ở biển,
mà chỉ trên bộ, trong bóng tối của bếp lửa.
Không có gì hết ngoài tiếng lao xao của làn gió nhẹ giữa những sợi thừng,
nhịp điệu ngấm ngầm của mùa Thu đang lại gần đất để kiểm điểm đất.
 
Và như thế chúng ta nằm dài trong đường hầm bí ẩn của bình minh,
những khuê phòng đón nhận chúng ta khi đã quá giờ,
những khách sạn được cho biết để ngủ dưới cánh của mùa đông,
trong kỳ niệm trái ngược phú cho con tim chúng ta làm nơi ký thác những pho tượng.
 
Chúng ta đã chỉ nói ở bên dưới muối,
trong những suy xét tối hậu về mùa mưa, trong ẩm độ dày đặc của rừng.
Chúng ta đã chỉ nói trong cửa miệng của đêm tối ;
ở đó, chúng ta đã nghe những cái tên mà những dòng nước hòa tan vào quên lãng.
Chiếc áo sơ-mi của tôi đầy những dấu tích tối tăm của ban ngày,
và Ngôn từ, cùng một Ngôn từ ấy, cắn xé cửa miệng tôi,
ngốn ngấu như một con thú đói khát trong tim của kẻ chịu đựng và thốt ra Lời.
 
Tôi, tôi đã quan sát theo kiểu của các dòng sông,
tôi đã kiểm nghiệm những lũy thành đổ nát, những mảnh người rách nát tả tơi mà vĩnh cửu đã rứt ra từ cái chết
như người ta rứt đồ băng bó ra khỏi một vết thương đã lành.
 
Tôi đã khám phá những dấu chân trong bình minh
và cái im lặng này khiến tôi bị chói lòa, cái im lặng tựa một bàn tay tăm tối
dường như phủ trùm sự sống của tất cả những gì ngủ.
 
Cả biển nữa cũng trở lại, và bình minh với mái đầu bốc lửa,
và tôi, tôi nhận ra trong mùi của làn gió nhẹ sự kề cận của bờ biển,
cái ngôn ngữ thức giấc nơi cửa miệng những người nằm ngủ
như một bầy côn trùng ẩm ướt và tỏa sáng.
 
Và em nữa em cũng đã trở lại, em đã trở lại từ một cách nhìn nào đó, từ một kết cục nào đó ;
cái hốc trổ trong tường nơi thân xác em thiếu không gian, khi duy trì hướng đi, hướng của em,
trong khoảng không gian mà nỗi buồn của em đã mở ra trước tiếng lao xao của những dòng nước.
Em đã lồng đôi mắt em vào kết thúc của đêm tối,
em trù tính máu em trong hết mọi tấm gương mà con thú mù sương đã lọt vào.
 
Và ấy chính là em, đứng thẳng trong đôi mắt, như kẻ nuôi dưỡng sự trần truồng của mình bằng gió,
em như bình minh đã thật gần vạch một trái tim màu vàng chung quanh những vành môi,
em lắng nghe tên em trong tiếng tôi như thể một con chim thoát khỏi vai em
rũ những chiếc lông trong cổ họng tôi ;
thong dong và đơn độc, hướng về tôi, với một nỗi sầu muộn chỉ che đậy nửa vời.
 
Và cả hai chúng ta đều trung thành với những cơn mưa, vào mùa Thu, thường khai quật vực thẳm,
cái vấn nạn này, cái vấn nạn từng đè nặng đến thế trên những vành môi,
rơi xuống, không thể cứu vãn, tận cùng đáy tiếng nói của chúng ta
hay thu mình trong một xó tối như một con chó hãi sợ
mà ta có kêu gọi khe khẽ cũng vô ích.
 
Thế tuy nhiên chúng ta đã có đó,
chúng ta đã có đó khi những bàn tay quấn quít lấy nhau và phớt qua con tim thiếp ngủ
như một lời cảnh giác dịu dàng,
trong sự mò mẫm này, khi những vành môi là linh cảm của thân xác.
 
Thân xác-kẻ viễn hành mà dấu hiệu trổi bật nhất là một vết sẹo mây,
cả em nữa em cũng đã nghe vào khoảnh khắc nào ai biết của buổi gió lặng ban đêm
cái tiếng xôn xao của những cánh buồm đeo chặt lấy đại dương khi ngày mới nhú,
cái hơi ấm đầu tiên chỉ dành cho những thân xác quấn quít vào nhau.
 
Tia nắng đầu tiên đã đặt lên nước những cánh hoa màu hồng
và sự phớt nhẹ của các vì sao, của những bàn tay nhợt nhạt hơn cả nỗ lực của buổi mờ sáng,
còn chạm tới chân trời mà biển đã tách xa.
 
Lần này chúng ta đã trở lại,
hừng đông gọi dậy trên khuôn mặt em như dáng vẻ linh động nhất của chính em,
tóc em nâng làn gió nhẹ,
cảng là một đóa hoa đã cắt trong đôi tay chúng ta.
 
(trích Relación de los hechos)
 
-----------------------------
JOSÉ CARLOS BECERRA (1936-1970) là một nhà thơ hiện đại Mễ-tây-cơ. Bài trên, dịch theo bản Pháp văn của Bruno Grégoire và Jean-François Hatchondo, đã được dùng làm tựa cho toàn tập thơ của ông. (DC.)

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018