thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Chiều tà / Evening in Eclipse

 

 

CHIỀU-TÀ

Phần-hai, tiếp theo Đại-lộ zưới tàn-cây

(Accompanied with original English text titled Evening in Eclipse, and notes)

 

A

 

Theo Minh, suy-ngĩ không luôn luôn là vấn-đề của lí-trí bởi vì suy-ngĩ thực ra gắn liền với cảm-quan, một vấn-đế nằm trong fạm-vi tâm-lí. Cho nên, suy-ngĩ có thế đưa tới những nhận-xét lệch-lạc khi liên-quan tới đạo-đức. Bởi vậy, vấn-đề này có thể xảy ra bất cứ lúc nào – chẳng hạn chiều nay, vào khoảng đầu Tháng-Chín, khi Minh trò chuyện cùng Thoa. Cả hai ngồi trên đồi cao, cạnh tu-viện Cloisters, nhìn xuống sông Hudson. Sông Hudson rộng lớn cuồn cuộn chảy nên không bao jờ in bóng Pallisade –một ngọn đồi đá cao và zài như một bức thành. Thoa là một fụ-nữ đẹp, tuổi ngoài ba-chục, hiện là jảng-viên tiếng Fáp tại Hunter College. Thoa kể cho Minh về cuộc gặp gỡ với Tam gần đây tại Boston, nhân zịp Tam đến zự buổi tiếp-tân ra mắt bộ Từ-điển The Dictionary of Art của nhà xuất-bản Grove.

Minh lắng-nge từng âm Thoa nói. Jọng Hà-nội ấm-áp và ngọt-ngào của Thoa, chẳng khác jì lúc Thoa mới 17 hay 18. Nhưng hồi đó Minh chưa gặp Thoa, mãi cho đến khi biết Thoa, lúc đó Minh mới nge được tiếng nói ấy nhịp theo gót jày của Thoa bên Thánh-đường St. Bartolomew trên Park Avenue. Tiếng nói ấy Minh không bao jờ quên được, nhất là kể từ khi Thoa li-thân với chồng, khoảng hai năm về trước. Vợ chồng Thoa không có con. Thoa ngĩ đến Tam và mong gặp lai. Thoa không cho Minh biết nhiều về Tam, nhưng chỉ kể chuyện về mình, zư-định của mình, về những jì không thực-tế, ở jai-đoạn khó khăn đối với một người đàn-bà trí-thức đến từ Đông-fương, chẳng hạn hội-nhập vào xã-hội Hoa-kì ở tuổi cuối thời xuân-sắc của Thoa.

Minh ngồi bó gối, nhìn mặt fẳng rộng lớn của những tảng-đá khổng-lồ cách chỗ Minh và Thoa chừng tám bộ Anh. Những tảng-đá ấy nhô ra xa tạo thành một góc vuông vượt lên đầu những bụi cây chằng chịt, trông rất chênh-vênh, nguy-hiểm – một chốn có vẻ hoang-liêu, xuống tận chân đồi xa tắp. Minh ngĩ tới sức chịu-đựng thiên-nhiên của đồi đá mà không biết cơ-cấu chống đỡ ra sao.[1] Bên tai Minh tiếng xe ầm-ĩ rộn ràng từ Xa-lộ Fía Tây Thành-fố vọng lên từng đợt không ngừng. Minh quay về fía trái thấy cầu George Washington Bridge. Chiếc cầu khiến Minh nhớ tới kiến-trúc Crystal Palace zo Praxton hoạ-kiểu. Minh cũng nhớ tới Tháp Eiffel nơi Minh đã thường găp bạn vào những buổi xế trưa ngày Thứ Bảy khi Minh còn là sinh-viên ở École Politechnique. Minh quay mặt sang bên fải, qua khuôn mặt nhìn ngang xinh đẹp của Thoa, Minh thấy đồi Inwoods, trên đó có một chiếc xe chở hàng nhỏ bị đốt cháy đen sì, zấu vết của cuộc-đời hung-bạo và man-rợ đưa vào mảnh-đất tự-zo. Thoa bảo hiện-tượng đó là “La liberté assassinée” hay “Tự-zo bị thảm-sát” khi cả hai người từ đường Seaman quanh-quẩn lên đồi.

Thong-thả rồi Minh mới góp í-kiến về tâm-sự của Thoa. Minh fải rất tế-nhị không làm Thoa khó-chịu, vì trong cái nhìn của Thoa, Minh thấy sự kiêu-hãnh và trịch-thượng của con gái Bắc zo văn-hoá mà ra. Minh biết Minh là con của một Thi-trưởng gốc Huế, nhưng không zính záng jì tới Hoàng-tộc, mà zù có chăng nữa vẫn không xoá bỏ được óc kì-thị. Biết thế, nên Minh chỉ nhỏ nhẹ rằng: “Chuyện jì cũng tuỳ vào kích-thước to lớn của vấn-đề và vào ‘nhân-trước, quả-sau’, có khi cả một đời-người vẫn chưa hiểu được. Ở một điểm nào đó, vấn-đề còn cho thấy có nhiều liên-hệ tới những chuyện đâu-đâu. Ví-zụ, khi bàn đến tự-zo, chúng ta thấy khi tự-zo vượt ra ngoài khao-khát của con người, tự-zo trở thành câu chuyện ‘mình làm, mình chịu, kêu mà ai thương!’ Cái-cảnh ‘Chết đuối người trên cạn mà chơi’ không fải là tuồng-tích ziễn ra trên sân-khấu.”

Không để Minh hết lời, Thoa đủng-đỉnh: “Nhiều lần mình ngĩ về số-fận của riêng mình, nhưng mình cũng ngĩ đến định-mệnh chung của con-người, rồi mình thấy mình bi-quan. Mình đâm ra tò-mò về đời sống của Tam.” Thoa zuỗi chân cho nên gấu váy để lộ làn za trắng bóc. Mầu trắng sống-động của người đàn-bà còn trẻ nhưng sắp bước vào tuổi trung-niên khiến ai chợt thấy mầu trắng ấy cũng rung cảm tựa như cuộc-đời đang tươi trở lại. Thoa biết Thoa còn quyến-rũ nên Thoa mỉm cười. Thoa hỏi Minh ngĩ jì về người Zo-thái. Minh hỏi lại: “Thoa muốn hỏi điều jì về người Zo-thái?” Thoa zịu jọng trả lời: “Đời zi-tản của họ! Kể từ khi đế-quốc Assyria xâm-chiếm đất-đai của họ, đặc biệt zưới thời hoàng-đế Titus.” Minh fải thú-thật là Minh không thông sử-sách, cho nên Thoa cứ tiếp-tục jảng-bài, zường như độc-thoại về đề-tài “Người Zo-thái có bi-quan như người Hi-lạp hay không?” Câu hỏi của Thoa nge qua rất lạ, nhưng lại trở thành một đề-tài mới. Thoa đứng zậy, mỉm cười: “‘Vì fải ra đi, nên có ngày trở-lại’ hoặc là ‘Nếu đã sống trong ác-mộng, tất fải có những jấc-mơ! Người Zo-thái lạc quan.’ Có đúng thế không?”

Minh ngửng mặt nhìn Thoa, “Thật không Thoa?” Thoa đứng kiễng chân nhìn sang Palisade, với một nụ cười: “Fải chi mình có thể bay lên trên cao kia, rồi lượn về fía trái!” Thoa không muốn nge một câu-hỏi nào của ai hết, tựa hồ như Thoa đã là làn-jó mộng-mơ, và đã bay đi không bao jờ trở lại.

 

B

 

Nụ-cười có zính-záng jì tới cách suy-ngĩ hay không?

Sau hôm gặp Tam, Thoa mất tới hai ngày zọn nhà về ở chung với Kim, một nữ sinh-viên Cao-học đến từ Nam Hàn. Kim thuê căn hộ có hai fòng ngủ của cụ Hugabee, goá fụ của giáo-sư Hugabee. Đây là căn-hộ trong chung-cư zành cho jáo-chức thuộc Barnard College, ngay trên đại-lộ Clement. Kim là một cô gái trong tuổi hai-mươi rất quyến-rũ. Ja-đình đưa cô sang Hoa-kì học về Zoanh-thương tại Columbia University. Nhưng Kim đổi í chọn ngành Anthropology. Điều này làm bực lòng cha Kim nên Kim bị fạt, nếu không nge lời, sẽ không nhận được tiền cấp-zưỡng. Như thế cuộc đời “vương-jả” của Kim kể như trở thành mây khói. Kim rất bặt thiệp nên có nhiều bạn, nhiều bạn trai hơn là bạn gái.

Một buổi tối Thoa và Kim vào quán cà-fê để hưởng không-khí đầu Tháng-Chín. Quán cà-fê này nằm ở góc đường Sullivan và West Fourth. Trong quán cà-fê – lờ mờ được trang-trí bằng nhiều đèn tường xen kẽ với những chiếc nồi theo kiểu Bắc-âu – chỉ có độ hai chục người khách. Thoa hỏi Kim liệu Kim có thể biết một gã đàn-ông có vấn-đề bất-lực, mà không cần fải lên jường với gã hay không. Nge qua Kim suýt bật cười, một fản-ứng rất tự-nhiên.

Ánh mắt Thoa rực sáng và chợt thấy đôi mắt của Kim chứa đựng đam-mê thầm-kín. Thoa nhẹ-nhàng để mấy ngón tay lên bàn tay Kim. Kim không fản-ứng, rõ ràng muốn biết í của Thoa. Mấy ngón tay của Thoa vờn quanh cổ tay Kim. Thoa nhắc lại: “Em có thể biết không?” Kim chớp mắt trả lời: “Em không biết. Thực ra thì...”

Thoa hỏi: “Thì sao?”

Kim trả lời: “Em chưa gặp cha nào bất-lực cả.”

Thoa: “Thế thì tốt!”

Kim: “Chị nói jì vậy?”

Thoa: “Chị gặp một anh chàng. Chị ngĩ rằng anh ta ‘bất-lực!’”

Kim: “Anh ta có cố-gắng không? Hay là ‘cố mãi vẫn không lên’. Hay là chị?”

Thoa: “Chị không biết fải nói ra sao!” Nói xong Thoa mỉm cười, chợt nhận ra lối “châm-chọc” của mình. Một lối nhìn người thiếu cảm-thông, hay hơi một tí là chê-bai người-khác. Suy-ngĩ như thế zo chủ-quan hay khách-quan. Hay là lẫn-lộn cả hai. Thường thì suy-ngĩ zo hệ văn-hoá và tập-quán mà ra.

Thoa kể cho Kim nge rằng, sau buổi tiếp-tân của nhà Xuất-bản Grove, Thoa gặp Tam. Tam cùng Thoa zạo bước trong khu fố cổ, toàn là tư-ja bề-thế, hiên nay hoặc đã một thời, ở Beacon Hill. “Thằng cha đưa chị về tới nhà bạn chị. Có lúc chị muốn tống cổ hắn đi vì cái miệng của hắn lúc nào cũng ‘cô, cô.’” Kim không hiểu quán-ngữ tiếng Việt nên há miệng, ngạc-nhiên. Thoa tiếp lời: “Thật đấy! Nếu không vì lối nói bay-bướm rất hoa-lệ kiểu Hellenism của anh ta cho chị thấy rõ anh ta là một ‘tay Hàn-lâm’ đáng kể, thì...” Thoa ngừng, ngĩ lại tất cả những jì Tam nói để biết rõ thực-hư. Tối hôm ấy, trên thềm đá cao, trước khuôn cửa rộng, Thoa nhìn sâu vào đôi mắt sáng của Tam như chờ đợi những tiếng đàn êm-ái cuối cùng của một Serenade, khi Tam chào Thoa tạm biệt.

“Thật hân-hạnh được biết một người đẹp như cô.”

Thoa mỉm-cười rất hài-lòng về ngôn-ngữ và cách xã-jao của Tam. Thoa trả lời: “Cảm-ơn anh đã ‘nịnh’ Thoa quá! Anh rất ‘gallant’.” Thoa cố-tình đọc chữ “gallant” theo điệu Paris quyến-rũ, để cho Tam biết căn-bản văn-hoá và jáo-zục của Thoa, và đồng thới cũng tò mò về căn-bản của Tam.

Đối với Tam, điệu thuộc-địa kiểu Tây như thế đã qua lâu rồi, chết vùi trong lịch-sử, chỉ trừ trường-hợp mấy cô “ỏn-ẻn thích điệu” mới còn mơ-mộng như thế mà thôi. Tuy nhiên, Tam vẫn “mơn-trớn” cái ngã của Thoa và tránh không để Thoa biết là Thoa đã hão-huyền. Tam nói: “Rất cảm-ơn cô!”

Thoa: “Xin anh đừng gọi Thoa là “cô” nữa.

Tam: “Xin gọi là Thoa được không?”

Thoa: “Được chứ! Anh gọi thế đi.”

Tam: “Thoa có muốn xem một vở kịch trên “Off Broadway” tháng tới không?

Thoa: “Có! Kịch jì thế anh?”

Tam: “A Street Car Named Desire của Tennessee Williams.

Thoa: “Tuyệt!”

Tam khéo léo không để lộ tình-cảm, rồi vừa quay người đi vừa chào Thoa. Bỗng nhiên Thoa hỏi với theo:

“Nếu còn ở Boston, cuối tuần này anh lại đây đi. Lại đây Thoa làm chả-jò và gỏi cuốn. Bạn của Thoa còn ở New Port đến cuối tháng tới mới về.”

Tam: “Uổng quá! Thời-jan của mình ở Boston ngắn-ngủi và mình còn fải đi Dartmouth.”

Thoa: “Thế hả! Này, Thoa bảo thật, anh đừng đùa với Thoa đấy. Anh mà đùa với Thoa thì Thoa không tha-thứ đâu.”

Câu nói của Thoa khiến Tam khựng lại vì cảm thấy có-điều là lạ. Mới ngĩ tới đó Tam vội minh-bạch với Thoa là zần zần Thoa sẽ biết rõ tư-cách của Tam.

Thoa: “Anh vẫn chưa cho Thoa biết nhiều về anh! Cho Thoa biết ngay đi!”

Tam: “Nhiều? Ồ! ‘Càng ít càng tốt!’[2] Với lại, Thoa có zanh-sách những học-jả đóng góp bài-vở. Thoa chỉ cần mở cuốn 32 của bộ Dictionary of Art rồi xem kĩ là đủ. Cũng chẳng ra jì! Thoa nói ‘biết ngay’ là sao?”

Thoa: “Vào đây uống cà-fê đi.”

Tam: “Ồ! Để zịp khác!’

 

C

 

Ánh-đèn đường khắc sâu chiếc bóng lẻ-loi của Thoa trên mặt tiền của toà-nhà xây bằng đá nâu. Lúc ấy Thoa còn đứng iên, tay jữ chìa khoá đã nằm trong ổ khoá – iên như thế vì mắt Thoa đang đếm theo nhịp bước của Tam trên đường fố. Tam không đi về hướng như Tam đã nới với Thoa. Trong lúc Thoa ngẫm-ngĩ về í-định của Tam thì đèn của mấy chiếc xe rực lên cho thấy cảnh-fố rất đìu-hiu. Cảnh đìu-hiu đó là một kiếp-sống đã an-bài với sức cám-zỗ vô bờ-bến của thế-jới hão-huyền. Thoa thầm rủa: “Đồ chết-tiệt! Mười năm về trước thi đừng hòng nói chuyện với ta!”

 

D

 

Hoá ra tâm-sự của Thoa về cuộc gặp-gỡ với Tam vừa hão-huyền nhưng cũng quá rõ-ràng đến độ sự mâu-thuẫn bất-chợt mang mầu-sắc cay-cú như trong hài-kịch. Câu-chuyện ấy như một món-ăn không tiêu hay như một cái jì thiếu lành-mạnh khiến Thoa fá ra cười, với chính mình. Kim không hiểu jì cả nhưng cũng cười theo như kiểu một đám-đông lên cơn ngưỡng-mộ thần-tượng, khiến không ai hiểu được chứng “mắc-zịch” như thế là jì. Cô bồi-bàn còn trẻ, záng zấp cao thanh trong lớp áo xanh, ngước mắt nhìn lên coi Thoa và Kim chẳng qua cũng như bao nhiêu thị-zân khác trong một đô-thị iêu-cuồng sống vội. Cô ta lẳng-lặng vơ tiền “tip” trên bàn. Cô không ưa Thoa và Kim khi thấy hai người bước ra khỏi cửa, tay khoác tay, đầu kề đầu – không như những fụ-nữ Á-châu khác. Tiếng gót jày của họ nhịp theo làn jó mát, coi bộ rất hạnh-fúc vì sức quyến-rũ của mình. Cô bồi bàn tự hỏi: “Thật không?” Vỉa hè lát gạch hướng về Công-trường Washington có nhiều cây Sycamore zường như rất hợp với vẻ thướt-tha của họ. Trong chốc lát, nếu có ai trầm-ngâm thấy được cảnh-này, và nếu người ấy có khả-năng đem tất cả mảnh-đời của đô-thị vế đêm ráp lại với nhau thì người đó sẽ mường-tượng ra hoạ-fẩm của Prendergast.[3]

Minh iên-lặng ngắm Thoa rất lâu, rồi bảo Thoa ngồi xuống. Không biết có fải vì sức-mạnh trong lời nói của Minh, sự iên-lặng của không-jan và thời-jan, cái lạnh của chiều-tà hay là tất cả những jì lôi-cuốn của ảo-tưởng, khiến Thoa hạ thấp cặp mông xuống từ từ. Minh đưa tay đỡ tay Thoa, nhè nhẹ júp Thoa ngồi xuống nền đá an-toàn sát chỗ Minh ngồi để cho vòng tay của Minh ôm lấy eo Thoa, để cho vòng tay của Minh siết chặt từ từ và hơi ấm trong cơ-thể truyền sang nhau đến độ Thoa không còn cảm-jác đề-kháng, mà chỉ nhìn vào đôi mắt của Minh như chờ đợi một cái jì lôi-cuốn không sao biết được.

Đối với Minh, đây không fải là lúc ngĩ thế nào và nói ra sao. Làm sao cắt ngĩa “cơn động-nứng” zễ zàng như khi suy-luận. Kinh-ngiệm trước kia không có mặt, và rồi cũng chẳng có jì để nói, ở lúc này cũng như mai sau. Vợ của Minh đang ở Lille, con cái đã trưởng-thành, có ngề-ngiệp vững-vàng và đã lập ja-đình. Còn Thoa, từ ngày chia tay với chồng chưa hề hưởng cái tuyệt-đối của tự-zo. Đôi khi, Thoa tạm sống với mấy người đàn-ông zi-tản, những người mà Thoa ví họ như những con-người thô-thiển, không tương-lai, sống kiếp lưu-đầy, nhưng lại vũ-bão và rất tài-tình trên lưng ngựa. Bóng chiều che lấp khuôn mặt của Minh, một thứ bóng-tối trông như mặt nạ khiến Thoa không thể nhận ra mặt nào khác mặt nào. Mà trên thực-tế, Thoa cũng chẳng bao jờ muốn biết, ngay cả zấu-vết zục-thú ban đầu để lại trên thân-thể thanh-xuân nhất của Thoa, bởi vì Thoa vẫn còn mơ tưởng đi về “thời Trung-cổ”, chẳng hạn tới Canterbury.

Bên kia sông Hudson, ánh đèn sáng ở bến-thuyền fản-chiếu lập-lờ trên jòng nước cuốn. Thân-thể của Thoa đang mở ra, trở về thủa chín-mọng, như fong-cảnh Hội Xuân thời Trung-cổ, tuy cảm-jác sâu mạnh ban đầu đã qua lâu, nhưng cánh-đồng vẫn thèm khát lưỡi cầy đào xới để đón nhận những hạt móc mới mùa xuân – say như những jọt rượu thấm sâu vào rễ trong nương trên đồi – đúng kì đâm chồi nẩy lộc. Thoa iên lặng gật đầu khi Minh đề-ngị cùng Thoa tiếp-tục đêm nay ở Trung-tâm Manhattan vì niềm vui chưa thoả. Minh lịch-sự với Thoa, zù trong đôi mắt của Thoa, Minh không hào-hoa fong-nhã, nhưng Minh biết cách “vén màn” để jữ cho “đồi-núi” của Thoa ấm-áp, vì ngoài kia hơi lạnh đang toả ra khắp Tu-viện trên Đồi Inwoods. Minh nhìn miệng Thoa. Chiếc miệng đa-tình thì thầm: “Khi hơi ấm đã làm tan băng-já... Zã mạnh vào” [4 Minh zìu Thoa đứng zạy và thì thầm trên má Thoa: “Xin em! Anh chỉ là một gã mù-loà!”

 

________

 

 

EVENING IN ELCIPSE

The second sequence of The shady boulevard

 

That how to think not always concerns Minh’s rationality because the uniqueness of thinking has no discrimination against the sensitive or “plena” that matches thinking pattern to the deep of psychological that could lead him even to some ethical issues as well. This issue can surge out any time as this evening in early September when he is chatting with Thoa. They are sitting on the hill shoulder, near the Cloisters, looking over Hudson River whose powerful current has never printed picture of the Pallisade. Thoa, a beautiful woman in the mid-thirty, a French instructor at Hunter College, tells Minh that she had a chance to meet with Tam who came to Boston for the reception of Grove’s The Dictionary of Art.

Minh listens to every word Thoa says especially to her sweet and warm voice of Hanoi’s accent, unchangeable since her teenage, which he has no knowledge, other than that it rhymes with her foot past St. Bartholomew on Park Avenue and waxes Minh’s remembrance since her devorce of her husband, about two years ago. They had no children. Thoa thinks she would like to see Tam again. She tells Minh not so much about Tam, but about herself, her plan, in the time it is hard for an intellectual woman from the East to think about the unthinkable, such as how to fit herself in the mainstream while her late spring time is about to take leave.

Minh draws his knees up to his chin staring at huge boulder tops about some eight feet away. They jut out to form a forty-five degree, straightly over the density of bush and trees, perilous, rough, and somehow savage, all the way to the unseen hill’s foot. He is thinking about geological load-bearing without cantilever[1] as his ears cannot resist the loudly resounding rumble of traffic from the Westside Highway. To his left the view of George Washington Bridge reminds him of Praxton’s Crystal Palace and especially the Eiffel Tower where he used to make rendez-vous with friends before Saturday noon when he was a student at the Ecole Politechnique. To his right Minh sees the beautiful profile of Thoa offset on background of the Inwoods Park where a pickup truck was stolen and burned to bare frame, a stern testimony of violence and savage imports to the land of freedom. Thoa phrases it as “La liberté assassinée” or “the rape of freedom” when they toured the woods from Seaman street.

Minh slowly makes a point on Thoa’s confession, as he presents an issue he hopes it will not irk Thoa. Thoa looks at Minh with pride and perhaps with prejudice for some moment that gives him a signal to carefully think with the best possible choice of word he can express. He knows as a native of Hue without any drop of blueblood, but son of a mayor, still he feels cultural bias. He to Thoa: “An issue like what we think must involve with the magnitude and causality of any point of our life time. It might suddenly propagate and expose linkage of life events. Freedom for instance goes beyond one’s desire and so heart-tale possibly tells, unfortunately, a picture of human tragedy-comedy, not a stagecraft cliché.”

“Although I have had questions about my lot” Thoa stopped to Minh’s thesis, “I do think about human destiny, and I am a pessimist. I am curious about Tam’s life.” She straighten her legs, out of the skirt hem the white complexion of skin reveals vitality of early mid-life that still beckons anyone to think of youth fountain redemption, such that she has no fear of waning attraction, and she smiles. She asks Minh if he has ever thought about Jewish people. “In what way?” Minh tries to understand Thoa’s question. Thoa lowers her voice, “Their Diaspora! Since the time of Assyrian domination, and especially in the era of Titus.” Since Minh admits his historical deficit, Thoa smiles as she goes on, almost with her monologue, “Are the Jews pessimistic like the Greeks or they are optimistic?” Her conclusion sounds coy but surprisingly opens a new discourse when she stands up and smiles: “‘Since there is Diaspora, there is Exodus!’ and ‘Since there are nightmares, there must be good dreams! They’re optimistic.’ Am I right?”

Minh looks up at Thoa, “Do you think so?” Thoa tiptoes looking at the Palisade with a smile. “I wish I could fly over there and then make a left turn!” Repudiates she any questions as though she has already been with the wind of fantasy without return.

 

B

 

Does a smile allude to thinking?

After meeting with Tam, Thoa had two days busy to move in to live with her friend named Kim a graduate female student from South Korea, who sublet a spacious two-bedroom apartment of a widow, wife of Dr. Hugabee, a Professor Emeritus at Barnard College, who lived in Faculty House on Clement Avenue. Kim, an attractive and outgoing young woman of late twenties, was sent to the United States to major in Business at Columbia University. Instead she switched to Anthropology against her father’s expectation for which she would be indicted and so a future of gracious living would be out of question. Kim has many friends, more boys than girls.

One evening Thoa and Kim walked in a coffee shop, for a taste of early September weather, on the corner of Sullivan and West Fourth Streets. The glimmer of the interior decorated with some girandoles alternated by kitchen objects like Dutch stoves had only a score of customers. Thoa asked Kim if she could tell a guy’s impotence, without being in bed with him. Kim almost burst in a laugh, neither ridicule nor amusing.

Thoa’s eyes glinted but quickly caught Kim’s eyes registered with some unfathomable passion behind the pair of spectacles. She gently put her fingers on Kim’s palm. Kim did not move her hand, obviously felt out Thoa’s inciting motif. Thoa moved her fingers over Kim’s wrist, she insisted: “Can you?” Kim blinked her eyes, “I cannot tell. In fact...”

Thoa: “In fact what?”

Kim: “I’ve never met an impotent man.”

Thoa: “Good!”

Kim: “Is that what you said?”

Thoa: “I met a man. I thought he’s impotent!”

Kim: “Did he ever try but he failed? Or didn’t you?”

Thoa: “I don’t know how to say!” And then Thoa smiled at her possible euphemism that she lacked empathy and foredoomed someone’s trait, manner, or even psychological humdrum. Is that about objective or subjective predetermination or both? Generally speaking, thinking follows customs and cultural prejudices.

“After Grove’s Reception,” Thoa told Kim about her acquaintance with a man named Tam who strolled with Thoa through one of the old residence streets on Beacon Hill. “The guy escorted me to my friend’s place. He used the epithet “Miss” to me all the time that had annoyed me to some extreme that I wanted to say “goodbye” if it was not for his long narratives beautifully crafted to show a sort of Hellenistic oratory fashion and his elegant academic status.” And then that evening, Thoa wondered if Tam’s lulling speech underlined his playful allure. That night on the brownstone landing, at her friend’s huge door, she looked into his bright eyes wanting to search for in his mind the finishing touch of lilting serenade, when he said at the parting.

Tam: “It’s delightful to meet such a beautiful lady like you.”

Thoa smiled, very pleased at his manner, she to him: “Thank you for being so gallant to me!” She dandily articulated her sensuous vocal to transmit the word “gallant” to precise Parisian accent, a trademark of her cultural and educational background whose magic air hopefully could test out his own quality.

For Tam French colonial style as such had long gone and lumped history, so only person of coy-ness for the self would be slumbered in such a decadent dream. However, he tactfully waxed her ego and avoided making it vain: “My most humble to your gracefulness!”

Thoa: “Please do not call me “Miss”.

Tam: “May I call you by Thoa?”

Thoa: “Yes, please do!”

Tam: “Would you mind to see an Off-Broadway performance next month? Thoa: “Yes. What is that all about?”

Tam: “A Street Named Desire by Tennessee Williams.

Thoa: “Perfect!”

Tam averted his feeling and called himself away, saying goodnight to Thoa who suddenly asked him:

“If you’re still in Boston would you call in me this weekend? Just a stop-for homemade spring rolls and summer rolls, while my friend is still on vacation in New Port until the last week of this month?

Tam: “What’s a pity? My time in Boston is so short, and I will have to be at Dartmouth.”

Thoa: “Is that so? By the way! I hope you’re not fulsome to me! It will be unforgivable!”

It took Tam by surprise at Thoa’s freaking out tone that he mulled and then starkly assured Thoa that she would be surprised at his candor.

Thoa: “You forget to tell me “more about you. Can you tell me now?”

Tam: “What is more? Oh! ‘Less is More’.[1] By the way, you get a list of contributors. Please go to Volume 32 of The Dictionary of Art. In fact, it’s insignificant and what do you mean ‘now’?”

Thoa: “Come on in and have some coffee.”

Tam: “Oh! I will but not now!”

 

C

 

The streetlight etches lone shadow of Thoa on the brownstone façade as she is holding the key motionlessly in the door lock, her eyes rhythm with Tam’s pacing on the street, not in the direction he is supposed to follow. As she mulls his motif, headlights of some passenger cars unveil deserted street to a feeling on destiny in-existence and the temptation of unquenched vanity. She cursed “Invalid! If you met me about ten years ago, you did not have a chance to talk with me!”

 

D

 

The tale of Thoa’s heart vainly but unequivocally about the encounter with Tam suddenly alluded to a grudge of comedy that – like an indigestible food – and nutty like a fruitcake - could not save Thoa from busting out a laugh in front of Kim who followed her excitement like a nymphomaniac crowd to an icon that no one knew how acutely to detect its symptom. The young waitress, a slim and tall image in blue, looked on and probably thought of Thoa and Kim nothing as peculiar as the life pattern Gotham. Indifferently she took a nice tip for her on table, as she frowned on the way Kim and Thoa walk out through the door, arm-in-arm, head-to-head – unlike typical Asian women - as their high-hill shoes rhythmically struck fair breeze, a sort of exhilaration of attraction. The brick sidewalk towards Washington Square had rows of sycamore and, if one had a moment to conjure up bustling composites of city nightlife, the view seemed to comport their allure close to a Prendergast’s painting.[3]

In silence, Minh studies Thoa carefully, and then he asks her to sit down. Probably to the grudge of his voice, the quietness of space and time, the chill of evening temperature or all of these lurid webs of illusion, Thoa looks at him while her hips lower and lower. Minh holds her hand and gently assists her to safe ground level close to his that his arm reaches for her waist, as the grip tightens as the body heat transfers so that she has no feeling of resistance, but to look into his eyes, a wait of unknown temptation.

For Minh, this is not the time for how to think or how to talk. Since lust is not whined at as easy as rational, there are neither previous experiences, yet nor story to tell, now and in future. His wife lives with her children in Lille, who are all grown up and established professional in their own careers, and who even have their own family. As for Thoa, her absolute freedom has never been tested since she left her husband, and temporally spent sometimes with a few men of Diaspora, so called banished insignificant tartars, but mastery of the way to sit a horse and ride. The eclipse of evening shadows Minh’s face, a kind of shadow, and it resembles masks that once came to her life but she cannot distinguish them, and has never had any desire of knowing, even the first mark of pleasure left on her body hay-day, because she has a wish fulfillment of being in a fairytale-like pilgrimage to Canterbury.

Across the Hudson River, lights of the marina dot their irregular reflection on moving current. Thoa’s body, a landscape of some Medieval spring festival, embroidered with the first prick still awaits marvelous ploughs to furrow deep and wide for fresh spring dews to come - engendering intoxicating drops of liquor to the root of meadow plateau. She silently expresses her consent when Minh proposes to sack out with him in downtown Manhattan since the pleasure has not been in full cycle, he has not been boorish to her, and although not having a sovereign value in her eyes, he knows how to unfold a sari, as to keep the warmth on her Venus’ mount from the chill on the Cloisters by the Inwoods Hill. Minh looks into her mouth that says: “Thaw follows frost... Hard on her”. [4] Minh holds her upright and whispers to her chick, “Please! Darling! I’m but like a blind man!”

 

Nguyễn Quỳnh
January 7, 2015

 

------------------
Notes/Gi-chú
 
[1] Cantilever, a load-bearing structure, mainly consists of two horizontal steel bars that extend out from the main building to form an outer space without support from the ground. It was successfully used by Frank. L. Wright for the terraces of Kauftmann’s The Falling Water, Bear Run, PA. USA. The same method proves sufficiency and appeals to aesthetics for the construction of the Skywalk at The Grand Canyon in the West, Arizona, USA.
 
[2] “Less is More” as Mies van der Rohe’s famous dictum for his International Style of architecture –simple, grand and pure, The Seagram Building in New York City is one of his prime examples.
 
[3] Maurice Prendergast brilliantly executes his painting that displays the quintessence of Impressionism and Expressionism.
 
[4] Thoa quotes Boetius’s poem but deliberately twists it to her own intent. Boethius, a philosopher and poet of the Middle-Ages, is acclaimed as the last important and influential author of Latin tradition. His writings all arranged in metrical rhythm, are rich in Symbolist and Romanticist images, for the Glory of God, of nature, and Christian virtues.
 
Thaw follows frost, hard on the heel of spring
Treads summer sure to die, for hard on hers
Comes autumn with his apples scattering;
Then back to wintertide, when nothing stirs
(tr. Housman)
 
From The Poetry of Boethius by Gerard O’Dally, Book One, 4. Nature in the Poetry of Consolation. University of North Carolina Press, 1991, Chapel Hill and London.

 

 

-------------------

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018