thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Tuyệt tích
 
I
(Thuỷ Trúc dịch)
 
Bởi hết sức đơn độc, y lại bắt đầu –
 
như thể ấy là lần cuối
y hít thở,
 
và bởi thế ấy chính là lúc này
 
y hít thở lần đầu
ngoài
đơn độc.
 
Y sống, và bởi thế chẳng là gì hết
ngoài những gì chìm đắm trong hốc mắt
không đáy,
 
và những gì y thấy
là tất cả những gì không phải là y: một đô thị
 
của sự biến
không giải mã,
 
và bởi thế là một ngôn ngữ của đá,
vì y biết rằng trong suốt cuộc đời
một tảng đá
sẽ nhường chỗ cho một tảng đá khác
 
để dựng một bức tường
 
và rằng tất cả những tảng đá này
sẽ tạo thành một tổng số khủng khiếp
 
những chi tiết.
 
 
II
 
Ấy là một bức tường. Và bức tường là sự chết.
 
Nét nguệch ngoạc
không thể đọc ra của phản kháng, nơi phản ánh
 
và hình ảnh cương mô của cuộc đời –
 
và đông đảo những người có mặt ở đây
dù chưa từng sinh ra,
và những kẻ muốn lên tiếng
 
để tự khai sinh.
 
Y sẽ học ngôn ngữ của chốn này.
Và y sẽ học cách giữ miệng lưỡi.
 
Bởi nỗi nhớ của y là thế đó: một người.
 
 
III
 
Nghe thấy im lặng
theo sau chính lời y nói. Tiếng thì thầm
 
của tảng đá nhỏ bé nhất
 
được đẽo gọt trong hình ảnh
của đất, và những kẻ muốn lên tiếng
để chẳng là gì hết
 
ngoài tiếng nói nói ra họ
trong không.
 
Và y sẽ nói
từng sự vật mình thấy trong không gian này,
và y sẽ nói ra với chính bức tường
sừng sững trước mặt:
 
và cũng vì điều đó nữa, sẽ có một tiếng nói,
nhưng đó sẽ không phải là tiếng nói của y.
 
Dẫu như y nói.
 
Và bởi vì y nói.
 
 
IV
 
Họ thật đông đảo – và họ có mặt ở đây:
 
và với từng tảng đá mà y đếm giữa bọn họ
y tự loại bản thân y,
 
như thể, cả y nữa, y cũng có thể bắt đầu hít thở
lần đầu
 
trong không gian phân cách y
với chính bản thân y.
 
Bởi bức tường là một lời nói. Và không có một lời nói nào
mà y không tính
như một tảng đá trong bức tường.
 
Bởi thế, y lại bắt đầu,
và mỗi lần y lại bắt đầu hít thở
 
y cảm thấy như chưa từng có một thời
nào khác – như thể trong thời gian y đã sống
y có thể tìm ra mình
 
trong từng sự vật không phải là y.
 
Những gì y hít thở, bởi thế,
chính là thời gian, và lúc này y biết
rằng nếu y sống
 
ấy chỉ là nơi những gì đang sống
 
và sẽ tiếp tục sống
không y.
 
 
V
 
Trước mặt bức tường
 
y linh cảm cái tổng số
khủng khiếp các chi tiết.
 
Ấy chẳng là gì hết.
Và ấy chính là tất cả những gì là y.
Và nếu như y chẳng là gì hết, thời y hẳn có thể bắt đầu
ở nơi y hiện có, và như bất kỳ một người nào khác
học biết ngôn ngữ của chốn này.
 
Là vì, cả y nữa, y cũng sống trong im lặng
im lặng đi trước chính lời nói
của riêng y.
 
 
VI
 
Và về từng sự vật mà y đã thấy
y sẽ nói –
 
quáng mù
cuộc kiểm tra đá
ngay cả vào lúc lâm chung –
 
như không vì một lý do nào khác
ngoài sự việc y nói.
 
Bởi thế, y nói tôi,
và kể cả mình
trong tất cả những gì y loại bỏ,
 
tôi, cũng chẳng là gì hết,
 
và bởi y chẳng là gì hết
y có thể lên tiếng, điều đó có nghĩa là
không có một lối thoát
 
cho lời nói nảy sinh
nơi con mắt. Và dù y muốn thế
hay không,
 
không có một lối thoát.
 
 
VII
 
Y đơn độc. Và ngay từ lúc y bắt đầu hít thở,
 
y không ở đâu hết. Cái chết điệp trùng, nảy sinh
 
trong đôi hàm đơn nhất,
 
và lời nói muốn xây một bức tường
khởi từ tảng đá thầm kín nhất
của cuộc đời.
 
Bởi từng sự vật y nói tới
không phải là y –
 
và bất kể y
y nói tôi, như thể cả y nữa y cũng có thể bắt đầu
sống trong hết mọi người khác
 
không có đó. Bởi đô thị là một con quái vật
và cửa miệng nó không để
thoát ra một điều gì
 
mà không ngốn ngấu lời nói
của chính nó.
 
Bởi thế, họ thật là đông đảo,
và tất cả những cuộc đời vô số ấy
được đẽo gọt trong những tảng đá
của một bức tường,
 
và y kẻ muốn bắt đầu hít thở
sẽ học biết rằng không có một nơi nào hết để tới
ngoài nơi đây.
 
Bởi thế, y lại bắt đầu
 
như thể đây là lần cuối
y hít thở.
 
Bởi không còn thời gian. Và ấy chính là chung cuộc của thời gian
 
bắt đầu.
 
(1975)
--------------------------
Ghi chú của dịch giả:
PAUL AUSTER sinh ngày 3.2.1947 tại Newark, bang New Jersey, Hoa-kỳ. Ông là một nhà thơ, dịch giả, giáo sư, điện ảnh gia, và nhất là tiểu thuyết gia, con cả của một gia đình có hai người con.
Ông học đại học tại Columbia University; sống tại Pháp từ 1970 tới 1974, làm thơ, sinh sống chật vật, dịch Mallarmé, Sartre, André du Bouchet, Maurice Blanchot, và đã cho xuất bản tại Hoa-kỳ một Tuyển tập thơ Pháp thế kỷ XX (Random House, 1982). Là người viết chuyện phim Smoke, ông cũng là người cùng thực hiện phim Brooklyn Boogie, và thực hiện cuốn phim dài đầu tay vào năm 1998: Lulu on the Bridge. Ông đã lập gia đình với Siri Hustvedt, cũng là một nhà văn. Hai vợ chồng được hai người con là Daniel và Sophie (theo báo LIRE, tháng 5-2002). Ngoài ra, ông còn là một người viết tiểu luận văn chương sắc bén.
Ở Pháp, số thơ của Paul Auster, do nhà xuất bản Unes in từ 1987 đến 1993, gồm các tập: Effigies; Murales; Fragments du froid; Dans la tourmenteDisparitions. Tâp Unearth đã được Maeght in từ năm 1980. Tất cả do nhiều người dịch khác nhau thực hiện. Cuối năm 1993 qua đầu năm 1994, các nhà xuất bản Unes và Actes Sud hợp tác in toàn bộ thơ của Paul Auster (có thêm phần Rayons), dưới tựa đề Disparitions, bản dịch Danièle Robert.
Thủy Trúc đã dịch «Tuyệt tích» của Paul Auster theo bản Danièle Robert nói trên và cũng đã dịch theo nguyên tác của cùng một tác giả Những không gian trắng (Paul Auster, White spaces [Station Hill, 1980]), một tùy bút thơ, «một vũ điệu để đọc lớn tiếng».
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018