thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Hai nhà văn

 

Bản dịch của Thận Nhiên

 

ITALO CALVINO

(1923-1985)

 

Italo Calvino (1923-1985) hiển nhiên là một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương hậu hiện đại. Ông là tác giả của 21 tiểu thuyết, 4 tập luận văn, và chủ biên rất nhiều công trình văn học quan trọng. Bắt đầu xuất bản từ năm 1947, ông đã đoạt nhiều giải thưởng và vinh dự lớn như: Viareggio Prize, 1957; Bagutta Prize, 1959; Veillon Prize, 1963; Premio Feltrinelli per la Narrative, 1972; viện sĩ danh dự của American Academy and Institute of Arts and Letters (Hàn Lâm Viện Nghệ Thuật và Văn Chương Hoa Kỳ), 1975; Oesterreichiches Staatspreis fuer Europaeische Literatur, 1976; American Library Association’s Notable Book List for 1980; Grande Aigle d’Or du Festival du Livre de Nice (France), 1982; tiến sĩ danh dự của Mt. Holyoke College, 1984; và Premio Riccione (Italy), 1984.

 

 

HAI NHÀ VĂN

 

Có hai nhà văn nọ, sống trong hai căn nhà gỗ nằm trên hai sườn núi đối diện nhau ở một thung lũng, họ thay phiên dò xét nhau. Một người có thói quen viết vào buổi sáng, người kia thì viết vào buổi chiều. Trong mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều, nhà văn nào không viết thì dùng ống nhòm quan sát khi người kia đang viết. Một người viết rất dễ dàng, có khả năng sản xuất ào ào hàng loạt; trái lại, người kia thì viết rất khó khăn, trăn trở.[1] Tay nhà văn đẻ khó quan sát tay tay nhà văn mắn đẻ lấp đầy trang bằng những hàng chữ đều răm rắp, bản thảo nhô lên thành một xấp giấy ngăn nắp gọn gàng. Chẳng mấy chốc, cuốn sách sẽ được hoàn thành: chắc chắn nó sẽ là một cuốn best-seller — tay nhà văn đẻ khó nghĩ vậy với một chút khinh thị nhưng pha lẫn lòng đố kỵ. Gã cho rằng một nhà văn mắn đẻ thì chẳng hay ho gì hơn một tay thợ lành nghề, chỉ có khả năng làm ra những cuốn sách chế-tạo-bằng-máy, hạp với khẩu vị của công chúng; thế nhưng gã lại không thể đè nén cái cảm giác đố kỵ ghê gớm với người kia — kẻ giãi bày tâm tư của mình với niềm tự tin chắc mẩm như vậy. Đó không chỉ là sự đố kỵ, mà còn là lòng ngưỡng mộ, đúng vậy, lòng ngưỡng mộ chân thành: trong cái cách mà người kia trút hết năng lực vào việc viết lách thì chắc chắn có cái tố chất phóng khoáng, cái niềm tin vào sự thông tri, trong việc trao truyền cho người khác những gì mà họ mong đợi ở hắn, mà không tạo ra những vấn đề nội tâm dằn vặt cho chính hắn. Tay nhà văn đẻ khó sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì gã có để viết được giống như tay nhà văn mắn đẻ; gã muốn lấy hắn làm gương để noi theo; khao khát lớn nhất của gã là được trở thành như hắn.

Còn tay nhà văn mắn đẻ thì quan sát tay nhà văn đẻ khó trong khi gã ngồi xuống ở bàn làm việc, gặm móng tay, gãi đầu gãi tai, xé tan tành một trang mới viết, đứng dậy đi xuống bếp pha ly cà-phê, rồi pha tách trà, rồi pha một tách trà hoa cúc, rồi đọc một bài thơ của Hölderlin (mà rõ ràng là Hölderlin thì hoàn toàn chẳng dính dáng con mẹ gì với những gì hắn đang viết), chép lại một trang đã được viết rồi gạch bỏ hết hàng chữ này đến hàng chữ khác, rồi gọi điện thoại cho tiệm giặt ủi (mặc dù đã được chủ tiệm hẹn rằng bộ đồ màu xanh không thể xong trước hôm thứ Năm), rồi viết xuống vài điều không ích lợi gì lúc này nhưng có lẽ sẽ có ích về sau, rồi mở bách khoa toàn thư để tra cứu về Tasmania[2] (mặc dù rõ ràng là trong những thứ gã đang viết không có thứ gì liên quan đến Tasmania), xé bỏ hai trang, mở máy nghe một đĩa nhạc của Ravel.[3] Tay nhà văn mắn đẻ chẳng hề thích những tác phẩm của tay nhà văn đẻ khó; đọc chúng, hắn luôn cảm thấy như thể mình sắp sửa hiểu được, nắm bắt được mấu chốt của vấn đề, nhưng rồi nó vuột đi mất, và hắn bị bỏ rơi lại với một cảm giác bất an. Nhưng bây giờ, khi hắn đang theo dõi gã viết, hắn cảm thấy gã đang phải vật lộn với một điều gì kỳ bí, bất định, một mớ rối nùi, một con đường được đào xới để dẫn đến một nơi chốn không ai biết; có những lúc hắn thấy dường như gã đang bước đi trên một sợi dây căng trên khoảng không, và lòng hắn tràn ngập sự ngưỡng mộ. Đó không chỉ là ngưỡng mộ, mà còn là sự đố kỵ; bởi vì hắn cảm thấy cái viết của mình hạn chế quá, hời hợt quá, so với những thứ mà tay nhà văn đẻ khó đang tìm kiếm.

Trên sân thượng của căn nhà gỗ nằm ở đáy thung lũng có một phụ nữ trẻ đang nằm phơi nắng và đọc một cuốn sách. Hai nhà văn cùng dùng ống nhòm quan sát cô.

“Trông kìa, cô ấy say mê chưa kìa! Cô ấy nín thở kìa! Cô ấy háo hức lật trang sách kìa!” tay nhà văn đẻ khó nghĩ thầm. “Hẳn là cô ấy đang đọc một cuốn sách có sức hấp dẫn tuyệt vời, như các tác phẩm của tay nhà văn mắn đẻ kia rồi!”

“Xem kìa, cô ấy ngây ngất chưa kìa! Trông như đang xuất thần trong lúc thiền định vậy, như thể cô ấy đang mặc khải một chân lý bí nhiệm vậy!” tay nhà văn mắn đẻ tự nhủ. “Hẳn là cô ấy đang đọc một cuốn sách đầy ẩn nghĩa sâu thẳm, như các tác phẩm của tay nhà văn đầy thao thức, trăn trở kia rồi!”

Khát vọng lớn nhất của tay nhà văn đẻ khó là tác phẩm của mình được đọc say mê như người phụ nữ trẻ đang đọc. Gã bắt đầu viết một cuốn sách theo cách mà gã nghĩ rằng tay nhà văn mắn đẻ sẽ viết. Cùng lúc đó, mơ ước lớn nhất của tay nhà văn mắn đẻ là tác phẩm của mình được đọc ngây ngất như người phụ nữ trẻ đang đọc. Hắn bắt đầu viết một cuốn sách theo cách mà hắn nghĩ rằng tay nhà văn đẻ khó sẽ viết.

Thoạt đầu, một nhà văn tìm đến với cô gái, rồi ngay sau đó thì nhà văn kia tìm đến. Cả hai nhà văn đều nói với cô rằng họ muốn mời cô đọc bản thảo của cuốn sách mà họ vừa viết xong.

Cô gái vui vẻ nhận hai bản thảo. Sau vài ngày, cô mời cả hai nhà văn đến nhà cô, trong cùng một lúc, khiến họ ngạc nhiên ghê gớm. Cô nói: “Hai vị bày trò đùa quái gỡ gì thế này? Sao hai vị lại bắt tôi đọc hai bản sao y chang như nhau của cùng một cuốn sách!”

 

 

_________________________

Chú thích của người dịch:

[1]Trong bản dịch tiếng Anh, hai nhà văn này là “a productive writer” và “a tormented writer”. Để độc giả dễ theo dõi, tôi tạm dịch thoát ý là “nhà văn mắn đẻ” và “nhà văn đẻ khó”.

[2]Tasmania là một đảo nằm ở phía nam của châu Úc.

[3]Joseph Maurice Ravel (1875-1937) là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm và nhạc trưởng người Pháp.

 

------------
Trên đây là trích đoạn trong chương 8 của cuốn If on a Winter’s Night a Traveler của Italo Calvino. Thấy nó thú vị như một truyện ngắn nên tôi dịch lại và tạm đặt nhan đề “Hai nhà văn”.
 
Dịch theo bản dịch tiếng Anh If on a Winter’s Night a Traveler của William Weaver, nhà xuất bản Harcourt Brave Jovanovich, 1982, chương 8, tr. 172–175.
 

 

 

-------------

Đã đăng:

Những thành phố & hồi ức [1 & 2]  (truyện / tuỳ bút) 
... Chàng đã nghĩ đến tất cả những điều này trong lúc chàng khao khát đến một thành phố. Isidora, do đó, là thành phố mộng tưởng của chàng: chỉ có khác một điểm. Trong thành-phố-mộng-tưởng ấy, chàng là một thanh niên; nhưng khi đến Isidora thì chàng là một ông già. Tại một bức tường nơi quảng trường, những ông già ngồi nhìn ngắm các thanh niên đi ngang qua; và chàng ngồi cùng đám già ấy. Những khát vọng đã trở thành những hồi ức... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Lương tâm  (truyện / tuỳ bút) 
Chiến tranh bùng nổ và Luigi tự nguyện gia nhập quân đội. Ai cũng đầy tự hào. Luigi đến nơi phân phát vũ khí, lấy một món và nói: “Bây giờ tôi sẽ đi giết cái gã tên Alberto”... [Bản dịch của P.K.] (...)
 
Con cừu đen  (truyện / tuỳ bút) 
Ở một xứ nọ, mọi người đều là kẻ trộm... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Tia chớp  (truyện / tuỳ bút) 
Tia chớp loé lên trong một ngày nọ, tại ngã tư đường, giữa đám đông chen chúc đi lại... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Người gào tên Teresa  (truyện / tuỳ bút) 
Tôi bước ra khỏi lề đường, đi lùi một quãng, ngước mặt lên, và, từ giữa đường, đưa hai tay lên miệng để làm chiếc loa và gào lên tầng cao nhất của khu chúng cư: “Teresa!”... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Tiện túc  (truyện / tuỳ bút) 
Ở một trị trấn nọ, mọi thứ đều bị cấm đoán... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
[...] Văn chương phải dự tưởng một công chúng có văn hoá cao hơn, và cao hơn chính bản thân người viết. Một công chúng như thế có hiện hữu hay chăng là điều không quan trọng. Người viết nhắm đến một độc giả mà người này còn biết nhiều về điều đó hơn chính anh ta; anh ta sáng chế ra một hình ảnh của “chính mình” mà nó còn biết nhiều hơn anh ta, để nó nói cho kẻ nào khác mà kẻ đó còn biết nhiều hơn nó nữa... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Tính cách bội trương trong văn chương tương lai  (tiểu luận / nhận định) 
Những dự án mang tham vọng quá trớn có thể bị chối từ trong nhiều lĩnh vực, nhưng không thể bị chối từ trong lĩnh vực văn chương. Văn chương chỉ còn sức sống nếu chúng ta tự đặt ra cho chính mình những mục tiêu bất khả lượng đạt, vượt quá tất cả những hy vọng về sự thành tựu. Chỉ chừng nào các nhà thơ và nhà văn tự đề ra cho chính mình những công tác không có bất cứ ai dám tưởng tượng đến, thì chừng ấy văn chương mới đạt được tác dụng của nó... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018