thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Kinh cầu cùng Njame | Ngạn ngữ của các vị lang băm | Chuyến thăm của con cá voi
(Diễm Châu dịch)
 
Kinh cầu cùng Njame
 
Hãy cho tôi một lời xưa để tới Angbala,
với bọc ý nghĩ của tôi mang trên đầu.
Tôi muốn đi nhận chìm chúng xuống nước.
 
Một lời giúp tôi trở thành đen,
trọn ngày ở dưới gốc dừa,
và quên hết bên dòng nước.
 
Hãy cho tôi một lời xưa để trở lại Angbala,
lời cũ kỹ nhất trong hết thảy, lời khôn ngoan nhất.
Sâu xa như con cá dưới nước.
 
Tôi muốn trở lại Angbala.
 
 
Ngạn ngữ của các vị lang băm
 
Khi một kẻ xa lạ gặp một kẻ lạ xa, y giết hắn hay y tra hỏi hắn.
Những kẻ lẻo mép có thể kéo dài vô hạn định cuộc trò chuyện để nhờ đó kéo dài cuộc sống, là vì... ai có thể đều được phép tự vệ.
Nhưng đừng bao giờ bỏ trốn. Là vì tại sao ta lại phải bỏ trốn hoài hoài?
Nếu con sói bắt kịp anh và ngốn ngấu anh, hãy nếm thử mùi vị sói chứ đừng bỏ trốn.
Ước gì cái khoái bị ăn của anh mạnh hơn của con sói.
Ấy là vì những lý do dựa trên lý sự, bởi không nên tìm kiếm những lý do mà chỉ nên tìm kiếm những định ý
và trong trường hợp này không nên nghi ngờ rằng con sói có hảo ý.
Chống lại cái Chết, chẳng thể làm gì, cả đến trá hình cũng không:
chẳng phải vì ông vua Ai-cập thời xưa nhồi phấn mà cái chết tha không nuốt ông.
Chối bỏ cũng không hủy diệt được cái Chết. Tôi, tôi xác nhận cái chết bằng cả mười hai cặp xương sườn.
Khiến nên chỉ còn cách kéo dài cuộc chuyện trò không dứt.
Có thể là kẻ đối thoại rút cuộc đâm mỏi mệt và bỏ đi đường hắn,
lại cũng rất có thể là sức chịu đựng của hắn không biết tới một giới hạn nào từng thấy và hắn quyết chờ cho đến khi ta khép mỏ lại.
Đúng lúc ấy thời hắn sẽ nã súng sáu mà biến đi cũng đột ngột như khi hắn tới,
là vì sau khi khẩu súng sáu đã nói thời cũng chẳng còn gì để nói hết.
Cái tệ nhất là ta không thể trở lui, là vì mỗi khi lộn lại ta lại mất bấy nhiêu ngày;
Bởi đó, đương đầu là dứt khoát, và mi biết rằng đối với mi không còn khả năng nào khác.
Ngoài nói. Nói.
Hãy duy trì lập trường của mi cho tới phút chót và tranh tụng bao lâu mi còn có thể.
Có lẽ mi sẽ đạt tới chỗ làm hắn lầm lộn và dìm hắn vào những mâu thuẫn.
Tuy nhiên mi cần phải bảo toàn sự thanh thản của mi và đừng tìm kiếm sáu cái chân nơi một con cừu chẳng có đến năm,
cũng chớ trèo quá cao là vì mi sẽ không còn thấy nữa.
Luôn luôn ở vị trí của mi. Vị trí của mi trong hàm sói.
Đừng tố cáo một người duy nhất, là vì hắn sẽ giết mi hoặc cho người giết mi.
Hãy tố cáo toàn nhân loại.
Như thế mi sẽ bị giết giữa mọi người.
Và những tên lang băm sau khi làm rối nùi mọi hiểu biết sẽ bỏ đi, ôm nhau mà cười vang.
Là vì bản thân chúng đã rơi xuống bẫy.
Cái bẫy là chính chúng.
Linh hồn tôi nói:
Không phải là những con chiên đi tìm Chúa.
Chính Chúa là người lo âu tới các con chiên.
Bởi nếu Người không lo, thời chúng sẽ biến thành chó sói.
Và chín mươi chín con sói sẽ ngốn ngấu con chiên còn lại.
Và chín mươi chín kẻ công chính sẽ ngốn ngấu con chiên còn lại, theo như một thuyết bản khác.
 
 
Chuyến thăm của con cá voi
 
Này đây một con cá voi đã đến thăm tôi
Từ những vùng biển xa xôi nó đã tới thăm tôi và nó chào tôi bằng ba vòi sương mù,
dừng lại trước lối vào hay hầm nhà tôi để xin yết kiến.
Tôi chạy tới để đón con cá voi (mà Thượng đế chào mừng) và lập tức cả hai trở thành thân thiết,
như đôi bạn quen biết nhau đã từ bao năm,
tôi nói với nó về thời tôi còn trẻ ở nơi một hang động trên một chỏm cao của rặng Aconcagua,
và về buổi mặt trời mọc đằng sau tai tôi,
và, vỗ vỗ bàn tay vào lớp da khôn dò của nó, chúng tôi đã cười vang như hai người bạn,
con cá voi, chiếc xe buýt của những vùng biển, và tôi kẻ đón tiếp nó ở lối vào hang hầm của mình;
và chúng tôi đã chuyện vãn mãi tới khi đêm xuống, ngả người trên tấm thảm cát lấp lánh thấm đẫm ánh sáng.
Nó kể cho tôi những gì nó đã thấy nơi những vùng biển sâu,
những kẻ bị đắm đuối sống nơi những con tầu chìm nghỉm và những thói tục dị kỳ của họ,
và những gì xẩy ra ngoài biển khơi trong lúc ban đêm.
Sau khi con cá voi đã dùng lời theo luật phép của sự tiếp đãi
và những lề lối quy định những hành vi của khách,
tôi đã bắt đầu nói với nó về những vùng sâu thẳm của tâm hồn tôi,
và khi tôi tạm ngừng, vào lúc hoàng hôn, nó không đáp lời tôi nữa.
Bởi thế tôi kéo nó ra và đặt bên bờ Biển để kẻ này đón nhận nó
và vào lúc bình minh, khi thủy triều rút, tôi đưa một bàn tay lên cáo biệt.
Con cá voi, mà Thượng đế tôn trọng và chào mừng, rời xa
rời xa khỏi biển thật mau và đụng tới
vầng thái dương như cái dĩa rốt cuộc đã xuất hiện ở chân trời;
quay lưng lại cảnh tượng này, tôi trở lại
hang động của tôi để hôn lên những con bọ cạp âu lo khổ sở của mình;
ôi! Quái vật đã giam cấm tôi trên ngọn núi này,
để bảo vệ thế giới khỏi sự ác độc dị kỳ của tôi!
 
 
---------------------------------
Ghi chú của dịch giả:
JAIME JARAMILLO ESCOBAR sinh tại Pueblorrico, Colombie ngày 25 tháng Năm 1932. Ông là một trong những người sáng lập phong trào «nadaísmo» ở Medellín và được coi như đã thành công trong lối thơ vừa trữ tình vừa ‘nôm na’ của một thi sĩ cố tình ra vẻ ngây thơ, thật thà, thuật lại những hồi đoạn thời sự thông thường trong một thành phố bị co giật, dúm dó... Cùng với Alvaro Mutis, Jaramillo Escobar thường được nhắc tới như một trong vài tiếng thơ đáng chú ý hơn cả của Colombie ở Mỹ châu la-tinh.
 
Các bài trên dịch theo bản Pháp văn của Denis Fernandez-Recatala trong tuyển tập L’épreuve des mots, nhà xuất bản Stock, Paris, 1996.
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018