thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Những chùm nho và gió
(Nguyễn Đăng Thường dịch)
 
Ôi Chili, cánh hoa dài
của biển và rượu nho và tuyết
ôi bao giờ
ôi bao giờ và bao giờ
ôi bao giờ
tôi gặp em
em sẽ quấn vòng đai
bọt nước trắng và đen quanh người tôi,
tôi sẽ buông thả thơ tôi
trên đất em.
 
Có những người
nửa cá, nửa gió
có những người khác làm bằng nước.
Tôi, tôi được cấu tạo bằng đất.
Tôi đi khắp thế giới.
mỗi lần đi thấy vui hơn:
mỗi đô thị cho tôi một cuộc sống mới
Thế giới đang mở mắt chào đời.
Nhưng nếu trời mưa ở Lota
mưa cũng rơi trên tôi,
nếu ở Longuimay trận tuyết
thổi lay những ngọn lá
tuyết cũng thổi xô mãi đến tôi.
Trong tôi mọc bông lúa mì đậm ở Cautin.
Tôi có một cây thông kiểng tại Villarica,
tôi có một bãi cát nơi miền Bắc,
tôi có một bông hồng đở ở vùng quê,
và cơn gió uốn cong
đợt sóng sau cùng ngoài khơi Valparaiso
đập vào ngực tôi
với một tiếng động yếu đi
như thể nơi trái tim tôi đó
có một khung cửa đổ nát.
 
Tháng Mười, ôi mùa xuân
Hãy trả ta về với dân tộc ta.
Ta sẽ làm gì nếu không được thấy muôn người đàn ông
muôn người con gái,
ta sẽ làm gì nếu ta không mang trên đôi vai
một phần hy vọng?
Ta sẽ làm gì nếu ta không đi cùng với ngọn cờ
đã chuyền tay nhau trong suốt
cuộc chiến đấu lâu dài
tới tay ta hôm nay?
Ôi, Quê hương, Quê hương
ôi Quê hương, bao giờ,
ôi bao giờ và bao giờ
bao giờ
tôi gặp em?
 
Ôi quê hương không áo quần tơi tả
ôi mùa xuân của tôi,
ôi bao giờ
ôi bao giờ và bao giờ
tôi thức dậy trong vòng tay em
đẫm biển khơi và sương sớm.
Ôi bao giờ tôi được gần
bên em, tôi sẽ quàng tay ôm ngang thân em,
lúc đó chẳng còn ai được động tới người em.
 
Giữa dẫy trường sơn
và biển Chili
tôi viết.
 
Dẫy trường sơn trắng.
Biển màu sắt.
 
Tôi đã trở về từ những chuyến đi
với những chùm trái mới.
 
Và gió.
 
Gió đã lay
trái đất, những rễ cây.
 
Tôi đã phiêu du với gió.
 
Hôm nay giữa biển và tuyết
và trái đất của tôi
tôi trưng bày những tặng vật
thu lượm từ khắp nơi.
 
Tôi dựng tình yêu tôi
như bụi cỏ nồng nàn
trên mùa xuân
của đất nước.
 
Tôi đã trở về ca hát.
 
Nơi tôi đã qua, cuộc sống
sáng tạo
rót vào tôi những mầm
và những trái.
Tôi đã trở về khoác trên mình
những chùm nho và ngũ cốc.
Tôi đã mang về hạt giống
những ngôi trường trong sáng
tán lá sắc
những xưởng máy tinh khôi
nhịp đập
của bền lòng và chuyển động
tràn lan chan chứa hương thơm.
 
Ở một nơi nào đó
tôi thấy ngày giảm lần
và ngoài xa trải rộng
những đồng lúa bao la.
 
Tôi đã thấy trong nhiều xứ chiến tranh
như những chiếc răng
gẫy
và tôi đã thấy bình yên tròn đầy
trên những miền đất khác
lớn lên như một vành ly
như đứa con trong bụng mẹ.
 
Tôi, tôi đã thấy.
 
Nơi tôi đã qua, mặc dầu
giữa những vùng gai nhọn
chực đâm tôi chảy máu,
tôi đã gặp chim câu
tung cánh nối liền
trái tim tôi cũng như trái tim
khác.
 
Tôi, tôi đã ngủ dưới tất cả
những lá cờ
họp lại
như dưới những lá cành
của một cánh rừng xanh duy nhất
và những vì sao kia đã là
những vì sao của tôi.
 
Cho nên, như trái đất
Tôi thuộc về tất cả.
Không có lấy một giọt
hận thù trong ngực tôi. Hai tay
tôi mở ra
rải những chùm nho
trong gió.
 
Tôi đã trở về từ những chuyến đi.
Tôi đã ra đi xây dựng
niềm vui.
Để tình thương bảo vệ chúng ta.
Để hoa hồng phơi ra
những trang sức mới. Để trái đất
muôn đời nở hoa
thắm tươi.
 
Giữa những dẫy trường sơn
và những ngọn sóng bạc đầu
của Chili,
một lần nữa tôi sinh ra trong máu
của dân tộc tôi
cho anh em tất thảy
cho anh em tôi hát.
 
Để tiếng hát lan rộng
trên mặt đất.
 
Để những chùm nho bay lên
Để gió thổi đưa chúng đi khắp chốn.
Trích từ Las Uvas y el Viento (1954).
 
-----------------------------------
Ghi chú về tác giả và bản dịch:
PABLO NERUDA (1904-1973). Nobel Văn chương 1971
«Neruda sinh ngày 12.7.1904 tại Parral, Chili, là con của một công nhân sở Hoả xa. Ông từng là lãnh sự Chili ở Diến-điện, Á-căn-đình, Tây-ban-nha, Mễ-tây-cơ... và cũng là một thượng nghị sĩ, một ứng cử viên Tổng thống...
      Khởi sự làm thơ từ năm lên 8, Neruda đã hoàn thành nhiều tập thơ nổi tiếng thế giới như các tập Residencia en la tierra (Cư ngụ trên trái đất), tập Las uvas y el viento (Những chùm nho và gió) và nhất là trường ca Cantos General... Tác phẩm toàn bộ của ông (Obras Completas) in tại Buenos Aires năm 1962 đã lên tới 1.923 trang. Ngoài ra, ông còn là tác giả của một vở kịch (Fulgor y muerte de Joaquím Murieta).
      Khi loan báo trao tặng giải Nobel cho Neruda, Hàn lâm viện Thụy Điển đã mô tả ông như "một thi sĩ của phẩm giá con người bị xúc phạm", một người đã "làm sống động số mệnh và những mơ ước của cả một lục địa."
      Pablo Neruda là thi sĩ thứ nhì của Chili được tặng giải Nobel Văn chương. Người đi trước ông là nữ thi sĩ Gabriela Mistral (1945)».
Trình bầy số 31 - Ra ngày 9 tháng Mười Một 1971.
 
Pablo Neruda tên thật là Neftalí Ricardo Reyes Basoalto. Ông chọn bút danh "Pablo Neruda" để tưởng nhớ nhà thơ Tiệp-khắc Jan Neruda (1834-1891). Tác phẩm toàn bộ của ông ấn hành năm 1968 đã lên tới 3.275 trang. Canto General (1950) là một trường ca vĩ đại về châu Mỹ la-tinh với 340 bài thơ mà nổi tiếng nhất là bài "Alturas de Macchu Picchu" (Trên đỉnh Macchu Picchu). Nhưng được độc giả mến mộ hơn cả là tác phẩm thời thanh xuân Veinte poemas de amor y una cancion desesperada (Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng) xuất bản năm 1924.
 
Bản dịch này đăng trong số Trình Bầy kể trên, do nhà văn Thế Nguyên (Hồi chuông tắt lửa) chủ nhiệm kiêm chủ bút, và nhà thơ Diễm Châu (Sáng muôn thu) làm tổng thư ký. Dịch theo một bản tiếng Pháp không nhớ của ai, nhưng có thể là của Jean Cau (lúc đó làm thư ký riêng cho Sartre), đăng trong tập san Les Temps Modernes [do Diễm Châu cung cấp].
(Nguyễn Đăng Thường)

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018