thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Thơ mùa gặt
(Diễm Châu dịch)
 
CHICAGO
 
         Kẻ mổ heo cho Thế giới,
         Kẻ chế tạo dụng cụ, kẻ chất đống lúa mì,
         Kẻ chơi với những đường rầy và kẻ chuyên chở hàng hóa cho Quốc gia;
         Vũ bão, vạm vỡ, oang oang,
         Thành phố của những đôi vai lớn:
 
Thiên hạ bảo ta ngươi thật xấu xa và ta tin họ, là vì ta đã thấy những phụ nữ bôi son trét phấn của ngươi đứng dưới những ngọn đèn khí thắp rù quến những gã con trai từ các nông trại.
Và thiên hạ bảo ta ngươi thật bất lương và ta đáp: Phải, đúng vậy, tôi đã thấy tên anh chị giết người và lại thong thả đi giết người ta nữa.
Và thiên hạ bảo ta ngươi thật tàn nhẫn và câu đáp lại của ta là: Trên những khuôn mặt đàn bà và trẻ em tôi đã thấy những dấu vết của cơn đói cào cấu.
Và đáp trả như thế rồi một lần nữa ta quay lại những kẻ cười nhạo thành phố này của ta, và ta trả lại họ tiếng nhạo cười mà nói với họ:
Các người hãy đến chỉ cho tôi một thành phố nào khác đầu ngẩng cao ca hát hết sức hãnh diện vì mình vừa linh hoạt vừa thô lậu vừa cường tráng vừa ranh mãnh.
Phóng ra những câu nguyền rủa thật cuốn hút giữa cái vất vả của chồng chất công kia việc nọ, đây là một người lao động cực nhọc cần mẫn vạm vỡ và táo tợn in lên thật sống động trên những thành phố nhỏ yếu mềm;
Dữ dằn như một con chó lưỡi cuộn lại sẵn sàng hành động, ranh mãnh như một người sống cảnh đời man dã phải đương đầu với chốn hoang vu,
         Đầu trần,
         Tay xúc xẻng,
         Phá bỏ,
         Hoạch định,
         Xây dựng, đập phá, lại xây dựng,
Dưới khói mù, bụi bám cùng trên miệng, lớn tiếng cười với hàm răng trắng,
Dưới sức nặng khủng khiếp của định mệnh lớn tiếng cười như một người trai trẻ cười vang,
Lớn tiếng cười dẫu như một người chiến đấu ngu dốt, chưa một lần thất trận, cười,
Cười nói oang oang rằng dưới cườm tay mình là mạch đập, và dưới lồng ngực mình là trái tim của nhân dân,
                                         Lớn tiếng cười!
Cười tiếng cười bão tố, mạnh mẽ, ồn ào của Tuổi trẻ, mình trần, nhễ nhại mồ hôi, hãnh diện là Kẻ mổ heo, kẻ chế tạo dụng cụ, kẻ chất đống lúa mì, kẻ chơi với những đường rầy và kẻ chuyên chở hàng hóa cho Quốc gia.
 
 
HẠNH PHÚC
 
Tôi đã xin các vị giáo sư giảng dạy ý nghĩa cuộc đời cho tôi hay hạnh phúc là gì.
Và tôi đã tìm tới các vị quản trị thời danh điều khiển công việc của hằng ngàn người.
Họ đều lắc đầu và cười mỉm với tôi làm như tôi đang tìm cách chọc quê họ.
Thế rồi một buổi chiều Chủ nhật tôi ra khỏi nhà đi lang thang dọc theo dòng sông Desplaines
Và tôi đã thấy một đám người Hung-ga-ri dưới hàng cây cùng với vợ con họ và một thùng bia và một cây phong cầm.
 
 
MAG
 
Anh nói cùng Chúa ước chi anh đừng bao giờ gặp em, Mag.
Ước chi em đừng bao giờ thôi việc và bỏ đi với anh.
Ước chi chúng mình đừng bao giờ trả tiền làm giấy giá thú và mua tấm áo trắng
Để em làm lễ thành hôn vào ngày chúng ta vội vàng chạy tới vị mục sư
Nói với ông rằng chúng ta sẽ yêu nhau và chăm sóc lẫn nhau
Mãi mãi và mãi mãi bao lâu còn nắng và mưa ở bất kỳ đâu.
Phải, lúc này anh ước chi em đang sống ở một nơi nào đó xa khuất nơi đây
Và anh là một kẻ du thủ du thực bầm dập trên cây cản xe chết dí ở cách xa cả ngàn dặm.
         Ước chi đừng bao giờ có xấp nhỏ
         Và tiền nhà tiền than tiền áo quần phải trả
         Và người bán thực phẩm đòi tiền,
         Ngày nào cũng tiền đậu tiền mận khô.
         Anh nói cùng Chúa ước chi anh đừng bao giờ gặp em, Mag.
 
 
GIỚI HẠN
 
Tôi đáp một chuyến tàu tốc hành giới hạn, một trong những đoàn tàu số một của quốc gia.
Lao qua đồng không trơ trụi vào sương mờ xanh và không khí âm u là mười lăm toa toàn thép chứa một ngàn người.
(Toàn thể các toa tàu sẽ là sắt vụn và rỉ sét và toàn thể đàn ông đàn bà cười nói trên những toa nhà hàng và toa giường nệm đều sẽ trở thành bụi tro.)
Tôi hỏi một người trong toa dành cho người hút thuốc rằng ông ta đi đâu và ông ta trả lời: «Omaha.»
 
 
CON CHÁU NGƯỜI LA-MÃ
 
Người phu xẻng gốc ngoại1 ngồi bên đường rầy
         Ăn bữa cơm trưa gồm bánh mì với xúc xích đỏ.
         Một chuyến xe lửa vụt qua, và đàn ông đàn bà ngồi bên bàn ăn
         Thật sinh động với hoa hồng đỏ và bông «thủy tiên»2 màu vàng
         Ăn những miếng bít-tết đẫm nước sốt màu nâu,
         Những trái dâu với cà-rem, bánh ngọt nhận kem với cà-phê.
 
Người phu xẻng gốc ngoại kết thúc miếng bánh khô với xúc xích đỏ,
Nuốt trôi đi với gáo nước từ tay người đưa nước,
Và trở lại với nửa sau của công việc mỗi ngày mười giờ
Gìn giữ bệ đường cho những bông hồng và bông thủy tiên
Chẳng hề lung lay chút nào trong những bình pha lê có hình khắc
Đứng thon thon yểu điệu trên bàn trong những toa xe nhà hàng.
 
------------------------------------
1. Nguyên văn: The dago shovelman: người phu sử dụng xẻng, gốc Ý, Tây-ban- nha hoặc Bồ-đào-nha. (người dịch)
2. Nguyên văn: jonquils: một giống hoa «thủy tiên» màu vàng nhạt. (người dịch)
 
 
DƯỚI TRĂNG MÙA GẶT
 
     Dưới trăng mùa gặt
Khi ánh bạc mềm mại
Lấp lánh nhỏ giọt
Trên những đêm trong vườn,
Cái Chết, kẻ bỡn cợt hắc ám,
Tới thì thào với anh
Như một người bạn xinh đẹp
Vẫn nhớ.
 
     Dưới những đóa hồng mùa hạ
Khi màu đỏ thắm chói chang
Lẩn lút trong nhá nhem
Của những chiếc lá đỏ hoang dại,
Tình yêu, với đôi bàn tay nhỏ,
Tới chạm vào anh
Với cả ngàn kỷ niệm,
Và hỏi anh
Những câu hỏi dễ thương, không sao trả lời được.
 
 
ĐI KHỎI
 
Trong thị trấn của chúng tôi ai cũng đã yêu Chick Lorimer.
                     Lâu rồi
             Ai cũng đã yêu nàng.
Thế là hết thảy chúng tôi đều yêu một người con gái man dại
             Bấu chặt lấy một giấc mơ mà nàng muốn.
Lúc này không ai biết Chick Lorimer đi đâu.
Không ai biết tại sao nàng đã thu dọn chiếc rương. . . Một vài món cũ kỹ
Và đi khỏi,
                 Đi với chiếc cằm nho nhỏ của nàng
                 Đưa tới phía trước
                 Và mái tóc mềm mại bay bay thật vô tư
                 Từ dưới một vành nón rộng,
Một vũ công, ca sĩ, một người tình say đắm hay cười.
 
Đã có mười hay một trăm người săn đuổi Chick?
Đã có năm hay năm chục người với con tim nhói đau?
         Ai cũng đã yêu Chick Lorimer
                 Không ai biết nàng đi đâu.
 
 
trích ĐỒNG XANH
 
Tôi sinh trên đồng xanh ngút ngàn và sữa của lúa mì, sắc đỏ của bông ba lá, đôi mắt người phụ nữ đã cho tôi một bài ca và một tiếng hô dễ nhớ.
 
Nơi đây nước chảy xuôi, những núi băng lướt nhanh với sỏi đá, những lũng sâu và lòng thung rít lên, và đất đen mầu mỡ tới, cùng đất cát vàng rượm.
Nơi đây giữa những mái nhà thô sơ của rặng Núi Đá và dẫy Appalachian, nơi đây lúc này một ngôi sao buổi sáng đánh một dấu lửa trên những khu rừng cây có người nhận và đồng cỏ thả bò, vành đai bắp, vành đai bông, những trại lớn nuôi gia súc.
Nơi đây những đàn ngỗng xám bay năm trăm dặm và trở lại với một nhạc khí kẹp dưới cánh kêu gào một chỗ ở mới.
Nơi đây tôi biết mình sẽ chẳng thèm khát gì cho bằng thêm một buổi mặt trời mọc nữa hoặc một vành trăng lửa trên trời lồng với một vành trăng nước dưới sông.
 
Đồng xanh ngút ngàn ca hát cho tôi vào buổi sáng và tôi biết ban đêm tôi sẽ nghỉ ngơi thoải mái trong đôi cánh tay của đồng xanh, trên trái tim của đồng xanh.
 
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Ôi mẹ đồng xanh, tôi là một đứa con của mẹ.
Tôi đã yêu đồng xanh như một người với trái tim mỏi mòn đẫm sầu tình.
Nơi đây tôi biết mình sẽ chẳng thèm khát gì cho bằng thêm một buổi mặt trời mọc nữa hoặc một vành trăng lửa trên trời lồng với một vành trăng nước dưới sông.
. . .
 
Tôi nói tới các đô thị mới và những con người mới.
Tôi nói với các người dĩ vãng là một thùng tro.
Tôi nói với các người hôm qua là một cơn gió đã tắt, một mặt trời rụng ở phương đoài.
Tôi nói với các người trên thế giới không có gì hết
duy một biển những ngày mai,
một trời những ngày mai.
 
Tôi là anh em của những người chà bắp những người thường nói lúc mặt trời lặn:
Mai là một ngày.
 
 
BẮP CƯỜI
 
Hôm kia đã có một cuộc ngao du lớn thật thú vị
Trong đám bắp vàng.
 
Và ngày mốt trong đám bắp vàng
Sẽ lại có ngao du lớn thật thú vị nữa.
 
Bắp chín vào muộn hè
Và chín tới với tiếng cười đắc thắng,
Chín tới với tiếng cười đắc thắng và lớn.
 
Những con sáo đuôi dài tiếng đã khan.
Một trong những con sáo nhỏ hơn chíu chít trên cành bắp
Và trên vai có một chấm đỏ
Và tôi đã chẳng bao giờ nghe tên nó trong đời.
 
Vài trái bắp mở bung.
Một dòng mủ trắng hoạt động bên trong.
Tơ bắp lan ở ngọn bắp và đung đưa trong gió.
Luôn luôn—tôi đã chẳng bao giờ biết được cách nào khác—
Gió với bắp bàn tính chuyện với nhau.
Và mưa với bắp và nắng với bắp
Bàn tính chuyện với nhau.
 
Vắt ngang con đường là ngôi nhà của nông trại.
Bên hông thời trắng và một tấm màn cuốn xanh lục bị sút.
Phải tới lúc chà bắp mới sửa lại được.
Hai vợ chồng trại chủ bàn tính chuyện với nhau.
 
 
CỦI
 
Nancy Hanks mơ màng bên ánh lửa;
Nàng mơ màng, và những khúc củi lép bép,
Và những lưỡi lửa vàng leo.
Những đường chỉ đỏ le lói lối đi trong ánh lửa chập chờn.
A, hãy lép bép, hỡi những khúc củi.
A, hãy mơ màng, hỡi Nancy.
Đã đến thời dành cho một đứa trẻ xinh đẹp.
Đã đến lúc một chàng trai cao lớn bước tới.
 
 
NAM THÁI BÌNH DƯƠNG
 
Huntington ngủ trong một căn nhà dài sáu bộ.1
Huntington mơ tới những đường xe lửa ông đã xây dựng và làm chủ.
Huntington mơ tới mười ngàn người nói: Dạ, thưa ông.
 
Blithery ngủ trong một căn nhà dài sáu bộ.
Blithery mơ tới những đường rầy và đòn ngang anh đã đặt.
Blithery mơ nói với Huntington: Dạ, thưa ông.
 
Huntington,
Blithery, đều ngủ trong những căn nhà dài sáu bộ.
 
------------------------------------
1. bộ (foot): thước đo của Anh-Mỹ tương đương với 0,3048 mét. Sáu bộ: tiêu chuẩn chung cho những người--chủ cũng như thợ--không còn cần tới nhà cửa thực sự nữa.
 
 
BÀI THÁNH CA CỦA NHỮNG NGƯỜI RA ĐI TRƯỚC KHI RẠNG NGÀY
 
Người cảnh sát mua giầy chậm rãi và cẩn thận; người đánh xe bò mua bao tay chậm rãi và cẩn thận; họ chăm sóc chân và tay họ; họ sống với chân và tay họ.
 
Người giao sữa không bao giờ tranh cãi; anh lao động một mình và không ai nói với anh; đô thị hãy còn thiếp ngủ khi anh làm công việc của mình; anh đặt một chai bên sáu trăm cửa vào và kêu đó là một ngày làm việc; anh leo hai trăm cầu thang bằng gỗ; đồng bạn với anh chỉ có hai con ngựa; anh không bao giờ tranh cãi.
 
Những người làm máy cán và lá thép là anh em với cứt sắt; họ trút cứt sắt từ trong giầy ra sau ngày làm việc; họ kêu vợ vá lại những gối quần bị cháy lủng; cổ và tai họ đầy muội; họ chà cổ và tai; họ là anh em với cứt sắt.
 
 
NHỮNG NHÀ MỒ LẠNH LẼO
 
Khi Abraham Lincohn1 được vùi lấp dưới mộ, ông đã quên những viên đạn đồng và kẻ sát nhân . . . trong cát bụi, trong nhà mồ lạnh lẽo.
 
Và Ulysses Grant2 không còn nghĩ gì tới những kẻ chống đối và phố Wall,3 bạc tiền và những vật dụng linh tinh đã biến thành tro . . . trong cát bụi, trong nhà mồ lạnh lẽo.
 
Thân xác Pocahontas, yêu kiều như thân bạch dương, ngọt ngào như trái sơn tra đỏ thắm vào tháng Một hay trái đu đủ vào tháng Năm, phải chăng nàng đã tự hỏi? phải chăng nàng còn nhớ? . . . trong cát bụi, trong nhà mồ lạnh lẽo?
 
Hãy lấy bất cứ một con đường nào đầy những người đang mua sắm áo quần và thực phẩm, đang hoan hô một vị anh hùng hoặc ném hoa giấy và bóp còi inh ỏi . . . hãy cho tôi hay phải chăng những kẻ yêu nhau là những kẻ thua thiệt . . . hãy cho tôi hay liệu có ai được nhiều hơn những kẻ yêu nhau . . . trong cát bụi . . . trong nhà mồ lạnh lẽo.
 
------------------------------------
1.Abraham Lincohn (1809-1865) sinh tại Hodgenville, Kentucky; chính khách Hoa kỳ, chống mãi nô, trong thời Nam Bắc phân tranh. Tái đắc cử tổng thống, bị ám sát sau chiến thắng của Bắc quân.
2. Ulysses Grant (1822-1885), tướng Mỹ, sinh tại Point Pleasant, chỉ huy trưởng các lực lượng liên bang vào cuối cuộc chiến tranh Nam Bắc, được bầu làm tổng thống từ 1869 tới 1877.
3.Tên đường ở Nữu-ước, nơi đặt thị trường chứng khoán Mỹ. (người dịch)
 
 
CỎ
 
Hãy chất những thây người lên cao ở Austerlitz và Waterloo.1
Hãy vùi lấp chúng và để ta làm việc—
                                 Ta là cỏ; ta trùm khuất tất cả.
 
Và hãy chất chúng lên cao ở Gettysburg2
Và hãy chất chúng lên cao ở Ypres và Verdun.3
Hãy vùi lấp chúng và để ta làm việc.
Hai năm, mười năm, rồi hành khách sẽ hỏi người hướng dẫn:
                                 Đây là nơi nào?
                                 Chúng ta đang ở đâu?
 
                                 Ta là cỏ.
                                 Hãy để ta làm việc.
 
----------------------------------
1. Austerlitz và Waterloo: tên các chiến địa ở Moravia (Tiệp) và ở phía nam Bruxelles (Bỉ). Ở nơi trước, năm 1805, Napoléon đánh bại quân Áo và Nga; ở nơi sau, năm 1815, quân Anh và Phổ thắng Napoléon.
2. Gettysburg, bang Pennsylvania: chiến thắng của Bắc quân (1863) trong cuộc Nam Bắc phân tranh ở Hoa-kỳ.
3. Ypres và Verdun: tên các chiến địa ở Bỉ và ở Pháp, từng bị quân Đức tấn công ác liệt trong thời Đệ nhất Thế chiến. (người dịch)
 
 
CÔ THU NGÂN NHÀ HÀNG TÓC ĐỎ
 
Hãy hất tóc em về phía sau, Hỡi cô gái tóc đỏ.
Hãy buông thả tiếng cười của em và để hai vết tàn nhang kiêu hãnh trên cằm.
Ở đâu đó có một người đương tìm một cô gái tóc đỏ và một ngày nào đó người ấy sẽ nhìn vào đôi mắt em để kiếm một cô thu ngân nhà hàng và gặp được một người yêu, có lẽ.
Lượn quanh lượn quanh cả chục ngàn người đang săn lùng một cô gái tóc đỏ có hai vết tàn nhang trên cằm.
Tôi đã thấy họ săn lùng, săn lùng.
Hãy hất tóc em về phía sau; hãy buông thả tiếng cười.
 
 
KHI NGƯỜI XỬ GIẢO VỀ NHÀ
 
Người xử giảo nghĩ gì
Khi anh đi làm về ban đêm?
Khi anh ngồi xuống với vợ con
Xơi chén cà-phê và đĩa thịt đùi heo với trứng,
Mấy người đó có hỏi anh
Công việc trong ngày của anh có được tốt đẹp
Và mọi sự có êm xuôi hay
Tránh né một vài đề mục và chỉ nói
Tới chuyện mưa nắng, dã cầu, chính trị
Và mục chuyện bằng tranh trên nhật trình
Cùng tuồng chớp bóng? Những người đó có nhìn
Đôi bàn tay anh khi anh với tới chén cà-phê
Hay đĩa thịt đùi heo với trứng? Nếu lũ trẻ nói
Chơi cưỡi ngựa đi, Ba, thừng đây-
Anh có đáp trả như bỡn cợt:
Thừng, hôm nay tao thấy đủ rồi?
Hay khuôn mặt anh lại rạng lên
Như một đống lửa reo vui ngoài vườn và anh nói:
Thế giới ta đang sống thật tốt lành và tuyệt vời.
Và nếu mặt trăng trắng bạch nhòm vào
Qua một khung cửa sổ nơi một bé gái đang ngủ
Và ánh trăng hòa lẫn với đôi tai bé và tóc bé
Thời—người treo cổ tội nhân—
Sẽ xử sự ra sao lúc đó? Đối với anh
Chắc hẳn là dễ. Với người treo cổ... người thì cái gì chả dễ,
Tôi đoán thế.
 
 
NHỮNG TƯỢNG MÁNG XỐI MẶT SỨT MẺ
 
Tất cả những gì ta có thể cho em là những tượng máng xối mặt sứt mẻ.
Lúc này hãy còn quá sớm để ca hát và nhảy múa trước tang lễ,
Mặc dù ta có thể thì thào với em ta đang tìm kiếm một kẻ lo liệu tang ma ngân nga một khúc à ơi và phóng đôi chân trong một vũ điệu nện gót thật huyền bí và mau lẹ, khi thấy khi không.
 
Những con cá để bơi lội một vũng ao trong vườn nhà em làm lóe lên một ánh bạc lấm chấm,
Một thúng những chất men làm tràn ngập buồng em màu đỏ đậm rực rỡ cho đôi mắt và ngạt ngào mùi những vườn cây ăn trái dưới lòng thung cho khứu giác,
Một xô cá xinh đẹp như thế, một thúng táo xinh đẹp như thế, ta không thể đem tới cho em lúc này.
Hãy còn quá sớm và ta chưa được thong dong.
 
Trong đêm tối khi ta tới ta sẽ tới với búa và cưa.
Ta sẽ tới bên cửa sổ, nơi em thường nhìn ra khi mở mắt vào buổi sáng,
Và ở đó ta sẽ đập nát những căn nhà nho nhỏ cùng với những nơi tắm dành cho những chim tước và chim sâu có đôi cánh luôn luôn chấp chới ở, dành cho những giống chim có đầu mút cánh màu vàng vỗ mịt mờ và vù vù êm dịu suốt mùa hè,
Thế rồi ta sẽ dựng những căn nhà khùng điên xinh xắn có những cánh cửa, những cánh cửa lúc nào cũng mở để tất cả và mỗi một có thể bỏ đi khi muốn.
Ta sẽ tới đúng như thế đó mặc dù lúc này hãy còn sớm và ta chưa được thong dong,
Mặc dù lúc này ta vẫn còn đang tìm kiếm một kẻ lo liệu tang ma với một khuôn mặt dãi dầu sương gió thô lậu và một vũ điệu trên gót chân.
Ta hẹn em (hãy ghi lại) vào sáu giờ chiều sau đây một ngàn năm.
 
Tất cả những gì ta có thể cho em lúc này là những tượng máng xối mặt sứt mẻ.
Tất cả những gì ta có thể cho em lúc này là một cái đầu đười ươi khỉ đột có hai mặt với hai miệng cá và bốn mắt chim ưng móc trên một bức tường đường phố, đang nhểu nước và nhìn suốt cả hai phía đầu cuối con đường tìm kiếm những con người mới, những người xa lạ trai trẻ, đang tới, đang tới, lúc nào cũng đang bước tới.
 
         Còn sớm.
 
 
BÀI CA GIÓ
 
Đã từ lâu tôi học được cách ngủ,
Trong một vườn táo xưa nơi gió lướt qua trong lúc đếm bạc và quăng đi,
Trong một vườn cây ăn trái heo hút gió nơi những cành cây chĩa ra và nghe ngóng hay cũng chẳng bao giờ nghe ngóng gì hết,
Trong một đám vô số những cây nơi cành lá cuốn bẫy gió thành tiếng rít, «Ai, ngươi là ai?»
Gối đầu trên khuỷu tay tôi đã ngủ vào một buổi xế trưa mùa hè và ở đó tôi đã học một bài học ngủ.
Từ đó tôi ra đi mà nói: tôi biết tại sao chúng ngủ, tôi biết cách chúng đánh bẫy những ngọn gió ranh mãnh.
Đã từ lâu tôi học được cách lắng nghe gió vi vu và cách quên đi và cách nghe tiếng rên siết sâu xa,
Táp mạnh và qua nhanh dưới ngày xanh và đêm sao:
         Ai, ngươi là ai?
 
                 Ai có thể quên được
                 lắng nghe gió đi qua
                 gió đếm bạc của gió
                 và quăng đi?
 
 
TRƯỚC CỔNG NHÀ MỒ
 
Các nền văn minh được dựng lên và đánh đổ
hệt như những trái ki trên lối đánh ki.
 
Các nền văn minh đổ vào những toa xe rác
và được kéo đi hệt như vỏ khoai
hay bất cứ món cạo nồi nào khác.
 
Các nền văn minh, tất cả công trình của các nghệ sĩ,
nhà sáng chế, kẻ mộng mơ giàu tưởng tượng và thiên tài,
đều lần lượt đi về bãi rác.
 
Hãy im lặng về chuyện đó; bởi trước cổng nhà mồ
im lặng là một món quà tặng, hãy im lặng; bởi ở những dòng bia mộ
viết trên không, bởi ở những tiếng hát thiên nga lơ lửng trên không,
im lặng là một món quà tặng, hãy im lặng, hãy quên đi.
 
Nếu có kẻ nào khùng điên, bi bô, hay ba hoa, đứng lên mà nói:
Ta hãy dựng một nền văn minh nơi những điều thánh thiêng và xinh đẹp của lao lực và thiên tài sẽ bền vững mãi-
 
Nếu có gã nào ồn ào như thế đứng lên và khiến mọi người
nghe thấy—hãy gạt gã ra-cột một cái lon sắt lên người gã—nhốt gã lại
ở Leavenworth—xiềng gã lại ở hỏa lò Atlanta
—cho gã ăn bằng đĩa thiếc ở Sing Sing—
quăng gã vào San Quentin nằm ép rệp chung thân.
 
Ấy là định luật; khi một nền văn minh chết đi và nằm xuống
để liếm láp bụi tro cùng hết thảy những nền văn minh đã chết khác
—ấy là định luật: tất cả bọn mộng mơ cuồng dại dơ bẩn chết trước—
hãy gang họng chúng ra, nhốt chúng lại, khiến chúng bầm dập.
 
Và bởi trước cổng nhà mồ im lặng là một món quà tặng,
hãy im lặng về chuyện đó, phải, hãy im lặng—hãy quên đi.
 
 
ĐẤT CANH TÁC CẢI THIỆN
 
Cây cao đã từng mọc nơi đây, nơi đây trên một nông trại thuộc vành đai bắp dọc theo dòng Monon.
Nơi đây một nửa dặm cây đã cắm sâu những nhánh rễ mỏng manh vào đất mầu để nắm giữ chống lại những cơn bão gió.
Thế rồi những người cầm rìu đã tới và những mảnh cây vụn bay lên với tiếng vút của lưỡi thép và cán rìu—những người làm rào cột mảnh khảnh cắt những cây to trước, những cây dẻ và cây sồi, rồi đến những lùm bụi.
Cốt mìn, xe tải và ngựa chuyển những gốc cây—cày bừa cắm răng vào—lúc này đất trở thành đất trồng bắp hạng nhất—ruộng vườn cải thiện—và đàn heo ụt ịt trên đám rạ khô.
Giờ đây nửa dặm đất canh tác cải thiện này dọc theo vòng đai bắp ở thung lũng sông Monon, trên một vùng của miền Đồng xanh Lớn, thật khó mà nhớ được rằng ngày trước mình đã từng có một đại gia đình những cây cối reo ca.
 
 
MỘT ĐÔI VỢ CHỒNG
 
Chàng ở Cincinnatti, nàng ở Burlington.
Chàng thuộc nhóm những người đặt và sửa chữa đường dây của Điện tín Bưu điện.
Nàng là một người làm bếp trong một nhà nội trú.
Nàng viết cho chàng: «Tiếng khóc lẻ loi».
«Ở đây cũng thế,» chàng đáp.
Mùa đông qua và chàng trở lại và hai người lấy nhau
Rồi chàng lại ra đi nơi mưa bão hạ ngã những cột điện tín và những đường dây rơi rớt cùng mưa đá đóng băng.
Và nàng lại viết cho chàng, «Tiếng khóc lẻ loi.»
Và chàng lại đáp, «Ở đây cũng thế.»
Năm đứa con của họ đi học trường công.
Chàng bỏ phiếu cho người đảng Cộng hòa và đóng thuế cho nhà nước.
Họ được biết tới giữa những người quen biết họ
Như những công dân Hoa kỳ lương thiện sống cuộc đời lương thiện.
Có nhiều điều làm buồn phiền người khác không bao giờ làm họ buồn phiền.
Họ có năm đứa con và họ là một đôi vợ chồng.
Một cặp chim gọi nhau và lấy làm mãn nguyện.
Chắc chắn như chàng đi xa nàng viết cho chàng, «Tiếng khóc lẻ loi»
Và chàng mau chóng đáp lại câu trả lời cũ kỹ, «Ở đây cũng thế.»
Cũng đã lâu rồi chàng là một người trong nhóm đặt và sửa chữa đường dây ở Cincinnatti
Và nàng là một chị bếp trong một nhà nội trú ở Burlington;
Vậy mà họ chả bao giờ chán nhau; họ là một đôi vợ chồng.
 
 
HỌ HỎI PHẢI CHĂNG THƯỢNG ĐẾ CŨNG CÔ ĐƠN
 
Khi Thượng đế vốc một nắm bụi,
Nhổ lên đó và nắn hình người,
Thổi vào đó một luồng hơi và bảo nó đi—
Ấy là một ngày lớn.
 
Và phải chăng Thượng đế làm như vậy vì Thượng đế cô đơn?
Phải chăng Thượng đế đã nói với chính Ngài rằng mình cần phải có bạn
Và bởi đó Ngài đã khiến con người cất bước trên trái đất
Và dành riêng những giáo đường để nói và hát với Thượng đế?
 
Ấy là những câu hỏi.
Chúng ngoằn ngoèo trong những hang động xưa.
Chúng được sơn phết trong những tòa thánh đường cao ngất.
Có những người đàn ông và đàn bà quá cô đơn khiến họ tin
         Cả Thượng đế nữa cũng cô đơn.
 
 
CÓ LẼ
 
Có lẽ chàng tin em, có lẽ không.
Có lẽ em sẽ lấy được chàng, có lẽ không.
Có lẽ gió trên đồng cỏ,
Có lẽ gió ngoài biển khơi,
Có lẽ có ai đó, ở đâu đó, biết được.
Em sẽ ngả đầu trên vai chàng
Và khi chàng hỏi em, có lẽ em sẽ thưa
Có.
 
 
trích NHÂN DÂN, PHẢI
 
. . .
 
         Một đóa hoa mỏng manh mọc trên một lối dốc
         đôi khi làm rụng rời và rạn nứt một khối đá.
 
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Nhân dân là Mọi người, hết mọi người.
Hết mọi người là anh là tôi và tất cả những người khác.
Những gì hết mọi người nói là những gì chúng ta hết thảy đều nói.
         Và những gì hết thảy chúng ta đều nói là gì?
 
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
         Chúng ta sẽ thấy những gì chúng ta sẽ thấy.
         Thời gian là một người thày vĩ đại.
         Hôm nay tôi và ngày mai có lẽ em.
Cái đe cũ kỹ này từng cười nhiều cây búa gẫy.
Những gì cay đắng phải chịu hôm nay rất có thể là ngọt ngào khi nhớ lại ngày mai.
Mỹ tự không phết bơ lên giống rau củ. Ánh trăng chẳng làm khô được những chiếc bao tay.
Dẫu đá xô phải bình hay bình xô phải đá thời vẫn khốn nạn cho đời bình.
Một bàn tay chùi rửa bàn tay kia và cả hai chùi rửa mặt.
Thà để mũi trẻ dơ còn hơn là vắt sạch.
Hết thảy chúng ta đều cùng thuộc một gia đình lớn và cùng chung một mùi.
Mó vào mật, vào dầu hắc hoặc phân là thế nào cũng có chút ít dính vào tay.
         Kẻ nói dối đi tới chỗ tin cả những lời nói dối của chính mình.
Kẻ tự thiêu đốt hẳn phải ngồi trên những vết phỏng.
         Chỉ có Thượng đế mới hiểu được những người điên.
Người mẹ câm hiểu đứa con câm.
Lao lực vất vả, sống vất vả, chết vất vả, để rồi rốt cuộc cũng xuống địa ngục thời vất vả ơi là vất vả!
Mi có thể đánh lừa mọi người một thời gian nào đó và đánh lừa một số người mọi lúc nhưng không thể đánh lừa hết mọi người hết mọi lúc.
         Cần phải có đủ mọi loại người mới làm nên một thế giới.
 
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
              Biển có cá cho hết mọi người.
         Mỗi lá cỏ có phần sương của nó.
              Ngày dài nhất cũng có lúc chấm dứt.
         Đời người ư? Một ngọn nến trong gió, sương muối
                   trên đá.
         Không có gì chắc chắn hơn cái chết và không có gì
                   vô định hơn giờ phút này.
         Con người sống với nhau như chim chóc trong một
                   khu rừng; khi tới lúc thời mạnh ai nấy bay.
         Như sóng tiếp theo nhau từng đợt, những người mới
                   thế chỗ những người cũ.
 
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
         Tiền là quyền lực: có người đã nói thế.
         Tiền là cái nệm êm: một người khác đã nói thế.
         Tiền là căn nguyên của mọi sự xấu: lại một người khác nữa
              đã nói thế.
         Tiền có nghĩa là tự do: một câu cách ngôn xưa
              cũng có nói.
 
         Và tiền là tất cả những thứ ấy—và hơn nữa.
         Tiền trang trải bất cứ thứ gì anh muốn—nếu
              như anh có tiền.
         Tiền mua được thực phẩm, áo quần, nhà cửa, đất đai,
              súng ống, châu báu, đàn ông, đàn bà, thời gian để
              ở không và nghe nhạc.
         Tiền mua được hết thảy mọi thứ, trừ ái tình,
              nhân cách, tự do, bất tử,
              im lặng, bình yên.
 
         Bởi thế thiên hạ đánh nhau vì tiền.
         Bởi thế thiên hạ trộm cắp, chém giết, lường gạt,
              đi đứng như những kẻ giả hình và những nhà mồ
              quét vôi trắng.
         Bởi thế thiên hạ nói năng nhỏ nhẻ dịu dàng lận trong mình
              những ý đồ, chất độc, vũ khí, mỗi người trong
              mưu định: Những lời lẽ từ cửa miệng y ra là
              bơ sữa nhưng chiến tranh đã ở trong lòng y.
         Bởi thế các quốc gia nắm giữ lẫn nhau, những cuộc nắm giữ
              dị kỳ; oanh tạc khởi đầu, các chiến xa
              tiến tới, các chiến tuyến mũi nhọn bị chiếm cứ, các phi công
              đi lại trên không; các xe tải đầy những chân tay chia lìa
              được kéo đi.
 
         Tiền là quyền lực, tự do, cái nệm êm,
              căn nguyên của mọi sự xấu, kết số của mọi phước
              lành.
 
              «Hãy cho chúng tôi hay tiền là gì.
         Vì chúng tôi ngu dốt về tiền, về lề thói và ý nghĩa
              của tiền,
         Mỗi người là một đứa trẻ trong bão tố tối tăm nơi thiên hạ
              kêu gào tiền. »
 
         Xác thú ở đâu ruồi nhặng bu lại đó.
         Nơi nào có kho tàng châu báu thời cũng có trái tim.
              Tiền đẻ ra tiền.
              Tiền điều động thế giới.
         Tiếng nói của tiền lớn hơn cả tiếng nói của tiếng nói.
         Không một vành tai nào điếc trước khúc hát của kim tiền.
         Tiền được hoan nghênh ngay cả khi nó nặng mùi.
         Tiền là động lực của tình yêu và của chiến tranh.
         Tiền làm tan nát đàn ông và hủy hoại đàn bà.
              Tiền là một tiện nghi lớn.
              Mỗi người đều có cái giá của mình.
         Có những người đàn ông không thể mua được.
         Có những người đàn bà ở ngoài cuộc mãi mại.
         Khi anh mua quan tòa thời có kẻ bán công lý.
         Anh   có thể   mua   bất cứ thứ gì ngoại trừ ngày   và   đêm.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
 
HỘP VÀ BỊ
 
Hộp càng lớn chứa càng nhiều.
Hợp rỗng cũng chứa đựng hệt như đầu rỗng.
Đủ số hộp rỗng nhỏ liệng vào một hộp rỗng lớn cũng làm đầy hộp lớn.
Một hộp rỗng một nửa nói, «Bỏ thêm vô.»
Một hộp lớn đủ có thể chứa cả thế giới.
Voi cần những hộp lớn để chứa một tá khăn tay của voi.
Rận gấp những chiếc khăn tay nho nhỏ và xếp chúng gọn gàng xinh xắn trong những hộp khăn tay của rận.
Bị tựa vào nhau và hộp đứng độc lập.
Hộp thời vuông có góc trừ phi tròn với cạnh tròn.
Hộp có thể chồng lên hộp cho đến khi toàn bộ công trình lộn nhào.
Hãy chồng chất hộp lên nhau và hộp dưới đáy nói, «Nếu các người vui lòng để ý thời các người sẽ thấy là tất cả đều dựa lên tôi.»
Hãy chồng chất hộp lên nhau và hộp trên cùng nói, «Ai rơi xa nhất nếu hoặc khi chúng ta rơi? Tôi xin hỏi các người.»
Dân hộp đi tìm hộp và dân bị đi tìm bị.
 
 
HÃY LỰA CHO CHÚNG TÔI MỘT ÔNG VUA
 
Hãy lựa cho chúng tôi một ông vua
một ông vua có thể sống đời đời—
một ông vua đậu phọng, một ông vua khoai lang tây,
một ông vua dây nịt, một ông vua ghim đồng,
một ông vua giấy dán tường với một triều thiên bằng giấy dán tường
và một bà hoàng giấy dán tường với những đồ châu báu bằng giấy dán tường.
 
Hãy lựa cho chúng tôi một ông vua
thật sắc sảo, thật mau lẹ, thật vững chắc,
ông vua sẽ còn lại mãi mãi—
và tất cả bọn người vâng dạ ngay thẳng1
thưa với ông vua, «Được mà, ông chủ, ông chủ sẽ
         tồn tại đời đời! và thêm một vài kiếp nữa!»
thưa như thế với một ông vua hành, một ông vua hạt hồ-đào2
một ông vua móc kéo răng cưa hay một ông vua kẹo cao-su
bất cứ một ông vua hợp doanh liên hiệp thống nhất nào đó—
để tai nghe những kẻ vâng dạ thưa với ông
rằng ông sẽ sống đời đời, ông thật là sắc sảo,
         thật là mau lẹ, thật là vững chắc,
một ông chủ OK không bao giờ đớp bụi,
không bao giờ chìm xuồng và trở thành bánh mì săng-uých cho giòi bọ
         như chúng tôi—các khách hàng,
         như chúng tôi—các khách hàng.
 
--------------------------------------
1. Nguyên tác: square shooters, ở đây có lẽ còn là một lối chơi chữ của tác giả, vì có thể hiểu như «những tay súng bắn ngay, không chần chừ»...
2. pecan: một thứ cây có hạt ăn được ở Mỹ châu. (người dịch)
 
 
NHỮNG CHỈ DẪN
 
Xin giới thiệu với anh về George Washington Hill.
Khi còn sống, ông đã ra nhiều chỉ dẫn.
Lúc ông mất, người ta nhớ những điều chỉ dẫn của ông.
Ông bảo các nhà viết quảng cáo và những người lẻo mép
      trên đài phát thanh:
           «Hãy chọc giận họ! Hãy chọc giận họ!
           Họ sẽ quên đi điều anh chọc giận
           và sẽ nhớ mãi cái tên
           sản phẩm của anh.»
Hãy bảo những người khắc bia khắc cho sâu những lời ấy
      trên bia mộ của George Washington Hill.
 
 
ĐÃ BAO GiỜ MỘT GIẤC MƠ LÀ MỘT CÁI TRỐNG?
 
Đã bao giờ một giấc mơ là một cái trống
         hay một cái trống là một giấc mơ?
Có thể nào một kẻ đánh trống gõ ra một giấc mơ
         hay một kẻ mộng mơ mơ một cái trống?
 
Cái trống trong một giấc mơ
         nện vang với kẻ mơ màng.
 
Giờ đây trăng đêm nay trên Indiana
là một cái trống-lửa của một bóng ma mộng mơ.
 
----------------------------
Ghi chú của người dịch:
Nhà thơ Tây-ban-nha (F. G.) Lorca đã nhìn thấy
một trái táo thường cũng vô tận như biển.
«Cuộc đời của một trái táo khi là một đóa hoa mỏng manh
tới khi, vàng sậm, rơi từ trên cây xuống đám cỏ,
cũng huyền bí và lớn lao như nhịp điệu bất tuyệt của thủy triều.
Và nhà thơ cần phải biết điều đó.»
CARL SANDBURG
(in Complete Poems, 1950.)
 
CARL SANDBURG (1878-1967) là một trong ba nhà thơ thường được công chúng Hoa-kỳ nhắc tới như «Các Thi sĩ Đồng xanh», thứ đồng cỏ ngút ngàn ở Bắc Mỹ. (Hai nhà thơ kia là Vachel Lindsay và Edgar Lee Masters.) Ông sinh năm 1878 ở Galesburg, bang Illinois, miền Trung tây Hoa-kỳ; cha mẹ là di dân Thụy-điển.
         Trong hình ảnh dân gian, Carl Sandburg là một thi sĩ có mái tóc bạch kim thường ôm một cây đàn. Ông chỉ được giới văn nghệ thật sự biết tới vào năm 1914, khi ông đã 36 tuổi và vừa đoạt một giải thưởng dành cho một số những bài thơ trong đó có bài «Chicago» thời danh, ca ngợi «Thành phố của những đôi vai lớn».
         Sau đó hai năm, Carl Sandburg cho xuất bản tập sách đầu tay: Thơ Chicago. Tập này cùng với năm tập kế tiếp (Cornhuskers; Smoke and Steel; Slabs of the Sunburnt West; Good Morning, America; The People, Yes) hợp thành thi phẩm Complete Poems đã đem lại cho ông Giải Pulitzer về Thơ năm 1951.
         Các nhà phê bình văn nghệ Mỹ thường nhận định về Carl Sandburg như một nhà thơ của quần chúng lao động nghèo; ông làm thơ không vần (tự do); “thơ ông đem lại nét hài hước cho thi ca Mỹ, có những chủ đề đứng đắn đích thực, bàng bạc hình ảnh vùng đồng cỏ bát ngát miền Trung tây Hoa-kỳ”.
         Sự nghiệp văn chương nghệ thuật của Carl Sandburg gồm trên bốn mươi tác phẩm thuộc đủ loại: thơ, truyện trẻ em, tiểu thuyết, tự sự, một bộ tiểu sử Abraham Lincohn (gồm 6 cuốn) và một sưu tập các bài hát dân gian Hoa-kỳ.
         Ông mất năm 89 tuổi, như Hokusai, cái tuổi từng mong ước trong «Ghi chú cho một bài tựa» (Complete Poems, 1950) sau khi đã được dành cho nhiều vinh dự khác như Giải Pulitzer về Lịch sử, những cấp bằng danh dự của các đại học Harvard, Yale..., lời mời tới phát biểu trước Quốc hội Hoa- kỳ,... Bạn đọc muốn biết thêm về cuộc đời của Carl Sandburg, có thể coi Penelope Niven, Carl Sandburg, A Biography (Scribners, 1991) [843 trang].
 
Bản dịch dựa trên nguyên tác, gồm nhiều bài trích trong các thi phẩm của Carl Sandburg từ 1910 đến 1960.
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018