thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Những bài viết cũ [11]: Cái đẹp trong thơ

 

Lời tác giả:
Hai cuốn sách đầu tay của tôi, Tìm hiểu nghệ thuật thơ Việt Nam (1988) và Nghĩ về thơ (1989), hiện nay đã tuyệt bản. Mười mấy năm, quan niệm về văn học đã đổi, cách viết cũng đã khác, tôi không còn hứng thú lắm để in lại. Tuy vậy, vẫn có một số bạn đọc xa gần thỉnh thoảng hỏi thăm về chúng. Thôi thì, thay vì tái bản thành sách, tôi chọn một số đoạn để đăng lại trên Tiền Vệ, như một món quà tặng cho một số tri âm, nếu có, đâu đó.

 

Ngày xưa, để tả vẻ đẹp trên hình thể con người, người ta hay dùng những thành ngữ ví von như "da ngà", "dáng liễu", "mặt hoa", "tóc mây". Nguyễn Du tả Thuý Vân: "Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang"; tả Thuý Kiều: "Làn thu thuỷ, nét xuân sơn"; tả Từ Hải: "Râu hùm, hàm én, mày ngài".

Trong truyện Hoa Tiên, Nguyễn Huy Tự tả Dương Giao Tiên:

Môi đào hé mặt phù dung
Xiêm y bóng tuyết sen lồng ngấn rêu.

Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều tả người cung nữ:

Áng đào kiển đâm bông não chúng
Khoé thu ba gợn sóng khuynh thành.

Trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu tả Kiều Nguyệt Nga:

Má đào, mày liễu dung nhan lạnh lùng.

Tất cả những câu thơ mô tả diện mạo của con người ở trên đều có một đặc điểm giống nhau: đem so sánh một nét đẹp nào đó trong hình thể con người với một nét đẹp nào đó của thiên nhiên. Thiên nhiên, bởi vậy, được coi là cái đẹp mẫu mực của con người. Song song với khuynh hướng trên, có một khuynh hướng khác nữa: so sánh cái đẹp của người bây giờ với cái đẹp của người xưa, trong sách vở. Phụ nữ đẹp, phải là đẹp như Hằng Nga, như Tây Thi, như Dương Quí Phi. Quá khứ, do đó, trở thành một chuẩn mực của hiện tại. Đến những năm 30 của thế kỷ này, với phong trào Thơ Mới, khuynh hướng thứ hai bị sụp đổ trước hết. Những cách ví von xưa bị coi là khuôn sáo. Các nhà thơ công bằng hơn với những cái đẹp trong hiện tại. Nguyễn Bính viết, trong bài "Mỵ nương":

Toan ví mà thôi
Vì bao nhan sắc
Xây dựng trên đời
Sánh sao nàng được.

Hồ Dzếnh viết, trong bài "Giản dị":

Em ăn, em nói, em cười
Kiếp này không có hai người giống em.

Sự công bằng ấy là kết quả của một nhận thức: cái đẹp, tự nó, là một giá trị độc lập và độc đáo. Quá trình sụp đổ của khuynh hướng thứ nhất coi cái đẹp trong thiên nhiên là chuẩn mực cho cái đẹp của con người chậm chạp và không đồng đều. Mọi người đều nhất loạt từ bỏ những thành ngữ ví von đã thành khuôn sáo, tuy nhiên, trong cách so sánh của họ, thỉnh thoảng vẫn vấp phải ảnh hưởng của một quan điểm thẩm mỹ cũ là cần phải nương tựa vào vẻ đẹp trong trời đất để khẳng định vẻ đẹp của con người. Nhưng một vài nhà thơ lớn, đặc biệt là Xuân Diệu, đã đi rất xa. Nhiều người phát hiện trong thơ Xuân Diệu có những cách so sánh ngược hẳn với người xưa: thay vì ví vẻ đẹp của con người như một vẻ đẹp của thiên nhiên, thì, Xuân Diệu lại ví vẻ đẹp của thiên nhiên như một vẻ đẹp của con người:

- Lá liễu dài như một nét mi.
- Trăng, vú mộng của muôn đời thi sĩ.
- Hơi gió thở như ngực người yêu dấu.
- Mây đa tình như thi sĩ đời xưa.
- Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

Huy Cận cũng có một đoạn so sánh đặc sắc:

Mùa xuân tròn trịa
Như bụng mang thai
Ôm nghìn sức trẻ
Đi trên đường dài.

Phương thức so sánh ở trên, tuy mới manh nha, song nó có ý nghĩa như một sự cách tân trong nhận thức: cái đẹp của con người là chuẩn mực cho cái đẹp của thiên nhiên. Đến sau năm 1954, ở Miền Nam, khi tả một vẻ đẹp của con người, các nhà thơ thường có thói quen giống nhau: đó là rất ít so sánh. Bởi so sánh, dù là để kết luận là hơn hay là thua thì nó cũng xuất phát từ một sự thừa nhận: con người và thiên nhiên ngang hàng với nhau. Vất bỏ sự so sánh là để khẳng định vẻ đẹp của con người là một giá trị độc đáo và độc tôn. Thiên nhiên bị hạ bệ. Thiên nhiên và trời đất chẳng có ý nghĩa gì nếu không có con người. Thiên nhên và trời đất đẹp là vì con người đẹp chứ không phải là ngược lại:

Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo luạ Hà Đông.

Thơ Nguyên Sa. Cái nắng ấy, cái trời đất ấy cũng bị bâng khuâng trước cái áo luạ này, trước con người này. Trong bài "Đàn bà là mặt trời", Nhã Ca viết, say sưa:

Người đàn bà nào cũng đẹp
Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta
Chúng ta ban phát ái tình
Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi.

Có thể đưa ra nhận định đầu tiên: quá trình phát triển của cái đẹp trong thơ là quá trình phát triển của ý thức con người đối với cái đẹp của con người. Mà con người không cần phải đẹp. Đây là một đặc điểm khá mới mẻ. Trong thơ xưa, về phương diện ngoại hình, hầu như không có ai xấu. Nguyễn Du rất ghét Mã Giám Sinh vậy mà cũng không nỡ để Mã Giám Sinh xấu: "Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao". Tú Bà cũng không hẳn xấu: bà chỉ đẫy đà và vì ở trong nhà hoài nên nước da hơi bị tái: "Thoắt trông nhờn nhợt màu da / Ăn chi to lớn đẫy đà làm sao". Một số truyện nôm khuyết danh thường cho nhân vật chính hoá thành loài vật xấu xí chỉ là một biện pháp đối chiếu để khuếch đại cái đẹp trong tâm hồn họ chứ không cốt mô tả cái xấu trong hình thể họ. Trong thơ hiện đại thì khác. Đây là hình ảnh người tình Nguyên Sa:

Hôm nay Nga buồn như con chó ốm,
Như con mèo ngái ngủ trong tay anh.

Đây là hình ảnh vợ và mẹ trong thơ Nguyễn Đức Sơn:

Mẹ con bản mặt lầm lì
Bà con mắc chứng xầm xì suốt đêm.

Đây là chân dung tự hoạ của Hoàng Trúc Ly:

Nhà anh nghèo, anh đau tim, anh yếu phổi
Đời anh lạng lùng bốn hướng gió và mưa.

và của Du Tử Lê:

So vai nhăn áo xô quần
Mắt nâu tóc rậm môi câm tiếng cười.

Các nhà thơ định làm cách mạng bằng cách xoá bỏ hai khái niệm đẹp và xấu, bằng cách biến cái đẹp thành cái xấu hoặc ngược lại ư? Không phải. Có cách mạng đấy nhưng cách mạng ở chỗ khác: cái đẹp lớn nhất là con người. Và con người đẹp không nhất thiết là do nhan sắc mà chủ yếu, trước hết, căn bản hơn cả, vì họ là con người. Tôi yêu, tôi làm thơ ca ngợi một kẻ nào đó không phải vì kẻ đó có diện mạo phi phàm mà chỉ vì lý do đơn giản: họ là con người và tôi yêu họ. Con người, tự bản thân nó, đã là cái đẹp, đã là đối tượng của thơ ca. Tôi muốn đưa ra nhận định thứ hai về quy luật phát triển của cái đẹp trong thơ: đó là sự phát triển của ý thức con người về sự hiện hữu của con người.

 

(Trích từ cuốn Nghĩ về thơ, Văn Nghệ xuất bản tại California năm 1989)

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018