thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
"Như thể ấy hương trầm" và những bài thơ khác
(Diễm Châu dịch)
 
CÙNG MẸ VÀ CÙNG EM ANH XIN HỎI
 
Hãy khóc cùng anh, hỡi em.
Mẹ thật đảm đang và đẹp. Mẹ không biết tới
tuyết của năm tháng.
 
Với Mẹ, với anh, với tất cả
người ta đã phân cách em. Nhưng thời gian
đã trả em lại cho vòng ôm siết của Mẹ.
 
Cùng Mẹ và cùng em anh xin hỏi:
có thể nào tất cả những gì anh đã yêu mến
chỉ là một lầm lạc?
 
Các người có biết rằng đôi khi, tôi trông đợi
tiếng nói của các người, và tôi đã
bịt tai lại?
 
Các người có biết
rằng tôi chối bỏ cả đến dấu chân của các người?
 
Nhưng có hề gì. Tôi sống
trên những đổ nát. Tôi yêu.
 
Hãy nói cùng tôi, phải, hãy nói cùng tôi,
— dẫu như tôi không thể nghe thấy,
dẫu như tôi không bao giờ tin được điều ấy —
rằng chưa có gì chấm dứt.
 
 
CHỈ MỘT LỜI
 
Từ ngày Mẹ ra đi chẳng có gì thay đổi
 
Đôi khi dường như
Mẹ đang ngồi giữa chúng con.
Lúc đó chúng con đã không hiểu được trọn vẹn
món quà Mẹ có mặt: được thấy
được nghe chỉ một lời
 
Và chúng con câm nín quay cuồng
trong đớn đau với những điều giản đơn thường nhật
tưởng nhớ tới Mẹ giữa miếng bánh và những tấm khăn trải bàn ăn.
 
 
TÊN CỦA BIỂN
 
Một nửa số tháng ngày đã vuột thoát khỏi con
khi nghĩ tới ngày Mẹ trở lại. Thế nào Mẹ cũng
trở lại.
 
Trong thầm kín chúng con, chúng con chối bỏ cái chết của Mẹ
như người ta chối bỏ một vị thần linh.
                         Trong một xó xỉnh tâm hồn
hy vọng vang vang với tên Mẹ, cái tên của biển.
 
Có lẽ qua lối mòn qua núi cao
qua góc đường hay khi rớt xuống dải khăn
của trò chơi bịt mắt bắt dê
qua bất cứ nơi nào...
                         Thế nào Mẹ cũng trở lại.
 
Và con ở ngay cạnh dòng sông
con chờ Mẹ trong nước.
 
 
KHU VƯỜN LÀ BÓNG MÁT
 
Con nhớ đôi mắt Mẹ
khi Mẹ nói tới không khí
là vì trời nổi gió trong đôi ngươi Mẹ.
 
Con nhớ đôi tay Mẹ—trời lạnh—
ấp ủ con trên giường như những bông
tuyết yêu đương.
 
Ánh sáng ở với Mẹ
trong hơn
niềm vui trên đôi môi Mẹ là đôi môi Mẹ
và khu vườn là bóng mát là vì khi Mẹ nói
ra chơi ngoài vườn đi
Mẹ đã bao bọc chúng con bằng một mùi thơm nhẹ của nhành lá.
 
                                                                  (El retorno, 1955)
 
 
TỤNG CA NGƯỜI TỰ DO
 
                                          ...con lạc đà... còn dễ hơn...
                                                          MATHIEU, 19, 24.
 
Cao cả và quyền thế, ngài, ôi vị chúa tể
ôi uy danh lừng lẫy, khác nào một Crésus* mới.
Trước mặt ngài run rẩy mọi vách tường,
viên chức, giấy má, những con số.
 
Không ai sánh tầy ngài, ôi mầm giống tuyệt vời
của giàu có và đại kỹ nghệ,
với ví tiền của ngài và cái đầu hói xinh đẹp của ngài
bao quanh bằng những tinh tú và hào quang,
với tấm áo gi-lê tươm tất được cài nút cẩn thận
trên bụng ngài thật đẫy đà, không một ai,
không một ai sánh tầy ngài, đóa hoa mới,
bông tuy-líp bằng vàng.
 
Giữa hết thảy ngài sừng sững, như một ngọn núi
dung nham trên vùng đất hoang, chan chứa
những tia sáng và tiếng hò reo, và lúc này
từ nơi chót vót những đỉnh cao ngài trùm khuất
những cuộc đời tí tẹo đang ngắm nhìn ngài.
 
Chuyện gì đã xẩy ra cần phải hỏi
ái tình, kẻ tạo tác hết mọi
vẻ đẹp hiện hữu, vị chúa tể tối thượng,
người đã thấy trên vầng trán ngài
niềm hạnh phúc nào, kỳ quan vĩ đại nào
để chiếu rọi làn hơi vào giữa giáp ngực ngài,
và biến ngài thành con người tự do, ông vua, nhà tài phiệt.
 
Duy có mình ngài, giữa cả ngàn,
giữa cả ngàn, cả ngàn và cả triệu người.
 
Bởi lẽ tự do nằm trong chữ ký của ngài,
bởi lẽ nước ngài quả thật là ở cõi thế này,
bởi lẽ không thể chối từ một điều gì hết với ngài, ngài là
kiểu mẫu nguyên thủy, con người đặc biệt
vì đó mà mọi sự đã được tạo ra: luật pháp và phép tắc,
lòng nhân và phần thưởng.
 
Ôi kẻ được tuyển lựa, tuyển lựa,
ngài hãy giữ lấy quyền lực của ngài, đừng để tai nghe
cả những tiếng oán than lẫn những lời nguyền rủa,
hãy tiếp tục, hãy thắng lợi ở nước ngài, là vì chắc chắn
thế giới này đã được tạo ra, để làm nơi an tọa
cho những bờ mông béo tốt của nhà tài phiệt, như đôi mông của ngài.
 
                                                                   (Salmos al viento, 1958)
-------------------------------------------
* vua cuối cùng của xứ Lydie (khoảng 560-546 trước Tây lịch) nổi tiếng rất giàu có nhờ khai thác cát có vàng ở sông Pactole. (người dịch)
 
 
NHỮNG NĂM XÁO TRỘN
 
Một lần nữa lại ở ngoài phố,
nhưng không như ngày xưa.
 
Ấy là hai mươi năm
nóng sốt và ngao ngán.
 
Tôi của hiện tại đấy ư cái âm thanh thảm buồn
và khan khan không có chuông?
 
Tôi của quá khứ đấy ư chiếc bóng này
đằng sau những gót giầy của tôi?
 
Tôi của hiện tại? Tôi của quá khứ?
Những câu hỏi, những câu hỏi dành cho lãng quên.
 
 
TÔI CẦU KHẨN
 
Này ánh sáng, mi đừng rời xa
đôi mắt ta, mi đừng hạ nhục
lý trí lúc nào cũng khíchh lệ ta
theo đuổi. Mi hãy nghe,
sau những lời ta nói,
tiếng kêu của mọi người
những người không thể nói.
Nhân danh những đòn đã lãnh,
nhân danh những cuộc đấu tranh của họ
chống lại bức tường bóng tối,
ta xin mi hãy kiên trì
trong ánh ngời của mi, hãy soi rọi
đời ta, hãy ở lại
với ta, ánh sáng.
 
                         (Claridad, 1961)
 
 
LOLA CLUB
 
Vui lên nào, mấy cô,
ca lên đi. Trên những tấm gương,
những ánh mắt của muôn thủa,
những thèm khát giảm lần.
 
Và thế giới, ở bên ngoài, vẫn
thảm hại và khắc khổ.
Chả có gì xẩy ra. Không một ai
cần nhúc nhích một ngón tay.
 
Hỡi các thiếu nữ của Sion, hãy ca,
hãy khóc. Và tiếng nói, xa xa,
sẽ lặp lại: nào mấy em, mấy em,
ra phòng khách, có lính thủy.
 
 
CÒN LẠI LỚP BỤI
 
Từ tiếng sấm này, từ
ngọn lửa hãi hùng này
ngọn lửa đã lớn lên trước mắt tôi,
còn lại mãi mãi,
pha trộn trong bầu khí
một lớp bụi căm hờn, một
lớp tro buồn bã
rơi rơi
xuống mặt đất, và còn tiếp tục
rơi trong ký ức tôi,
trên lồng ngực tôi, và trên
những trang giấy mà tôi viết.
 
                 (Años decisivos, 1961)
 
 
ÍT RA HÃY NHẬN LÃNH NHỮNG MÂU THUẪN CỦA CÁC NGƯỜI
 
Cái trò chơi xây rồi phá
dựng nên các đế quốc để kế đó hủy diệt đi
và kiến tạo những đế quốc khác hùng mạnh hơn
những đế quốc một ngày kia đến lượt chúng cũng chỉ là những phế tích
cái trò chơi ấy đối với loài người là lịch sử và bản năng.
 
Nhưng con thú kỳ quặc
xử sự một cách nghiêm ngặt này
hoàn thiện các kỹ thuật
quên mau nước mắt và lửa
nó tiến triển và tự biến đổi
hoàn thành những chu trình khác nhau của mình thật chu đáo.
 
Trong huyền thoại Sisyphe
một vài cạnh khía đã không được chỉ rõ:
ở mỗi chuyến đi tảng đá lại nặng hơn
ngọn núi cũng cao hơn
và kẻ bị đọa đày mỗi lần một mau hơn.
 
                         (Taller de arquitectura, 1977)
 
 
CẦN
 
Muốn cho một nghệ sĩ xuất hiện thời cần
sự trùng hợp của những hoàn cảnh như sau:
 
gia đình y được trọng vọng
bà mẹ không thuật lại những chuyện phiêu lưu đáng tiếc của bà
người cha thôi xử sự như súc vật
nhà độc tài hiện dịch yêu mến sách vở
các nhà báo thật nhân từ
không ai để lộ hy vọng
người ta không nói tới nhân quyền
người ta đóng cửa nhà trường và nhà tù
hết mọi người đều được phép dẫm lên cỏ non
không một ai muốn cứu vớt đồng loại.
 
Và sau hết muốn cho một nghệ sĩ xuất hiện thời cần
một đứa trẻ sinh ra và không chết vì ghê tởm.
 
 
PHÁN QUYẾT RẤT NGHIÊM KHẮC
 
Xét rằng đời y thật ngay thẳng
rằng y đóng thuế đúng kỳ hạn
và y chưa từng làm hại ai
y bị lên án phải ở lại trong xứ.
 
 
HỌ LÀ THẾ ĐÓ
 
Cái nghề của họ người ta biết đã thật xưa
và tồn tại cho mãi tới lúc này không thay đổi
qua các thế kỷ và các nền văn minh.
 
Họ không biết tới hổ thẹn hoặc ngơi nghỉ
họ cứng đầu trong phận mình bất chấp các nhà phê bình
đôi khi trong ca hát
đôi khi trong đau khổ vì oán thù và ngược đãi
nhưng hầu như bao giờ cũng ở dưới sự khoan dung.
 
Platon không dành cho họ một chỗ nào trong nền Cộng hòa của ông.
 
Họ tin ở tình ái
bất kể vô số những đồi bại và thói xấu của nó
họ có thói quen thần thoại hóa tuổi thơ
và họ sở hữu những huy chương hoặc chân dung
mà họ nhìn ngắm trong lặng lẽ khi họ buồn.
 
A! những nhân vật dị kỳ trong những dịp nào đó
nằm dài trên gấm vóc lộng lẫy mênh mông
nhưng cũng chẳng ngại đằm mình
trong những tấm nệm rơm dơ bẩn của nhục dục
chỉ vì ý muốn thất thường.
 
Họ đòi hỏi ở cuộc đời nhiều hơn những gì cuộc đời có thể cống hiến.
 
Họ thật khó khăn mới kiếm được bạc tiền
dự phòng không phải ngón chuyên môn của họ
và họ dần dà lụi tàn
một cách hơi kỳ cục
nếu người ta không khiến họ phải chết trước đấy vì một điều gì không rõ.
 
Vậy thời các nhà thơ là thế đó
những con điếm già của Lịch sử.
 
                         (Sobre las circunstancias, 1983)
 
 
BỤI ĐÃ CƯỜI NHẠO
 
Tôi đã mơ tới những ngày rạng rỡ nhất
và bóng tối đã phủ trùm tôi.
 
Tôi đã khẩn cầu những đêm thật tăm tối
và ánh sáng đã làm tôi chói lòa.
 
Tôi đã tìm cách lột bỏ mọi kỷ niệm
và kỷ niệm về em đã bao bọc tôi.
 
Tôi đã nói rằng em chỉ còn là bụi
và bụi đã cuời nhạo tôi.
 
 
NHỮNG GIỜ KHẮC CỦA NÓ LÀ MỘT ẢO TƯỞNG
 
Thật buồn là lãnh thổ của xa vắng
 
Những khắc giờ của nó là một ảo tưởng
                                                         chúng làm sai lạc
những tiếng động mùi hương và những đường nét
và ở mép lề của chúng người ta cần phải hiểu
mọi sự đảo ngược lại.
 
                                         Và như thế
tiếng chuông rung ở lối vào có nghĩa
là không phải em sắp tới
                                                     một ánh đèn để quên
ở tầng lầu trên là tượng trưng của chết chóc
của trống vắng trong buồng em
                                                     một tiếng bước chân
thuật lại rằng em đã đi rồi
                                                     và mùi bông hoa tím
thú nhận là khu vườn bị bỏ phế.
 
Và ở cõi thế này tôi phải làm gì, tôi
ông hoàng chiến bại
                              ông vua ăn mày
nếu không phải là bắt buộc đôi mắt phải bảo tồn
cái màu mật ong không thể nào diễn tả
dịu mềm và gợn sóng của tóc em?
 
 
TRONG CA HÁT HỠI NGƯỜI BẠN GÁI
 
Có ai đó đã nói với tôi trong mộng:
từ hang động của oán thù người ta không bước ra
trong ca hát.
                   A hỡi người bạn gái của tôi!
Em đã tìm thấy tôi tựa như một ông vua ăn mày
trong lúc tôi khát và nguồn suối
chỉ là một vũng nước tanh tưởi
hãy giúp tôi.
                   Ước gì đôi bàn tay em
hãy vuốt ve tôi tới rạng đông mái tóc em
hãy lướt qua thân xác tôi
tiếng của em hãy đi kèm tiếng tôi bởi lúc đó
phải tôi sẽ bước ra khỏi hang động trong ca hát
                                                                      hỡi người bạn gái.
 
                                                          (Final de un adios, 1984)
 
 
HÃY NGHĨ ĐẾN EM
 
Đừng nói gì hết Lesbia
hãy chỉ nghĩ đến em.
Hãy để thân xác em chìm
như buông thả
vào hốc trũng của biển này
vùng biển lập tức phủ lên em
dưới những làn gió nào tôi không rõ
rất nhẹ và dịu êm
mơn man da thịt em
trong một mùi muối xưa hơn cả thế giới.
Nhưng nhất là đừng nói gì hết:
hãy nghĩ đến em và chỉ ao ước
như tôi những khoảnh khắc
của im lặng và yêu đương.
 
 
TIẾNG NÓI
 
Mặt trời đã đặt một bàn tay
lên vai em lạnh lẽo.
                             Ai
đang thăm hỏi em từ xa đến thế?
                                                 Ai
em cảm thấy ở bên em trên cát
khi tiếng nói kia nói cùng em?
                                            Em lắng nghe
nhịp thở sâu thẳm của biển
em nối kết những từ em quen biết
với tiếng những đợt sóng khi
chúng vỡ tan trên bờ biển.
                                      Không có một ai
ở bên em và trong em
được bao bọc trong tiếng nói kia
nó tới nói với em những điều đơn giản:
nó vẫn nhớ hai đầu gối em
và đôi mắt em bỡ ngỡ
thân xác em dưới vòi tắm
niềm hoan lạc của em và những run rẩy dao động của em.
 
Không có một ai ở bên em ư?
                                           Em hãy lắng nghe
nhịp thở sâu thẳm của biển
 
đã ở trong máu em
                            Em hãy lắng nghe
và cơn rùng mình sẽ trở lại.
 
                    (El rey mendigo, 1988)
 
 
NGÀY XỬA NGÀY XƯA
 
Ngày xửa ngày xưa
có một con sói nhỏ thật dễ thương
bị đàn chiên
làm tình làm tội.
 
Lại cũng có
một ông hoàng ác độc
một mụ phù thủy xinh đẹp
và một tên hải tặc ngay thẳng.
 
Ngày xửa ngày xưa
có tất cả những chuyện ấy.
Khi tôi mơ
tới một thế giới đảo ngược.
 
 
ÔNG ĐÃ NÓI VỚI TÔI ĐIỀU ĐÓ
 
Ông tôi đã nói với tôi điều đó,
cha tôi đã nói với tôi điều đó,
họ đã nói với tôi điều đó quá nhiều
và tôi vẫn lại quên điều đó thường hơn.
Hãy lao động hỡi con và chớ có tin
rằng không tiền con vẫn sống.
Hãy bỏ công thêm vào với dành dụm
hãy vạch cho mình một lối đi, rồi con sẽ thấy,
cuộc đời sẽ kiếm cho con
biết bao lúc êm đềm. Con sẽ vượt lên
trên bọn khó nghèo và hạ tiện
không sao biết nổi bật.
Ông tôi đã nói với tôi điều đó,
cha tôi đã nói với tôi điều đó,
họ đã nói với tôi điều đó quá nhiều
và tôi vẫn lại quên điều đó thường hơn.
Đời là đấu tranh tàn nhẫn
không ai giúp đỡ con, đúng thế đó, không hơn không kém,
và nếu tự mình con không tiến tới,
chúng sẽ bỏ con lại phía sau, phía sau.
Gắng lên nào, hỡi con, hãy lao động cực nhọc!
 
Toàn thể trái đất, mặt trời và biển,
là dành cho những kẻ đã biết
ngồi lên trên những kẻ khác.
Ông tôi đã nói với tôi điều đó,
cha tôi đã nói với tôi điều đó,
họ đã nói với tôi điều đó quá nhiều
và tôi vẫn lại quên điều đó thường hơn.
 
                    (Palabras para Julia, 1979, 1990)
 
 
ĐÔI KHI
 
 
Đôi khi
           có ai đó rụt rè mỉm cười với em trong siêu thị
           có ai đó cho em một chiếc khăn tay
           có ai đó nóng nảy hỏi em hôm nay là thứ mấy
                      trong phòng đợi của nha sĩ
           có ai đó nhìn ngắm người em yêu hay chồng em
                      với sự thèm muốn
           có ai đó nghe thấy tên em và bắt đầu khóc.
 
Đôi khi
           em bắt gặp giữa những trang sách một tấm hình
                      cũ của người em yêu và chuyện ấy khiến em
                                 rùng mình khủng khìếp
           em đang bay trên Đại-tây-dương với tốc độ một
                      ngàn cây số/giờ và em nghĩ tới đôi mắt và
                                 mái tóc của người ấy
           em ở trong một xà-lim tăm tối và em nhớ tới một ngày sáng rỡ
           em chạm tới một bàn chân và em khó chịu như thể em
                      mới mười lăm tuổi
           em phô bày một chiếc nón và em bắt đầu la hét.
 
Đôi khi
           một thiếu nữ cất tiếng hát và em buồn và em yêu nàng
           một viên kỹ sư nông học khiến em giận dữ
           một hồi còi khiến em nghĩ tới một người lính cứu hỏa hay
                      một người đi dây
           một con búp-bê Nga khích giục em vén váy của
                      người chị em họ em
           một cái quần dài cũ kỹ làm em như mê cuồng và
                      dịu dàng thèm muốn chồng em.
 
Đôi khi
           người ta giải thích trên đài phát thanh một câu chuyện kỳ cục
                      và em nhớ tới một người nọ có tên là Léopold
           người ta bắn vào em nhưng không trúng và em bỏ trốn mà nghĩ tới
                      vợ em và con gái em
           người ta ra lệnh cho ta làm điều này điều kia và lập tức em phải lòng kẻ
                      không để tai nghe gì hết
           người ta nói tới thời gian và em mơ tới một cô bé Ai-cập
           người ta tắt đèn đóm trong phòng và em đã tìm bàn tay
                      của người bạn trai.
 
Đôi khi
           trong lúc chờ đợi nàng trở lại trong một quán rượu
                      em viết một bài thơ trên một tấm khăn giấy thật mịn
           người ta nói tiếng Catalan và em muốn vì vui hay
                      vì điều gì không rõ cắn vào cô láng giềng em
           em leo lên một cầu thang và em nghĩ nếu cậu trai
                      mà em thích «làm hỗn» với em trước khi tới lầu tư thì hay quá
           những hồi chuông rung nhịp nhàng và em yêu kẻ đánh chuông
                      hay ông cha xứ hay Chúa nếu Người hiện hữu
           Em nhìn ngắm kẻ nhìn ngắm em và em muốn có mọi quyền năng
                      cần thiết để ra lệnh cho mọi chiếc đồng hồ trên thế giới dừng lại
                                 vào đúng lúc này
 
Đôi khi
           chỉ đôi khi một mối tình lớn.
 
 
MỘT CHUYỆN TÌNH
 
Họ đã yêu nhau. Ấy là vào thời kỳ
những cơn mưa đầu tiên của mùa hè
và họ đã yêu nhau. Tháng ngày
tựa như một sợi băng dài trắng toát
bao quanh thân hình họ quấn quít.
 
Có lẽ một năm đã trôi qua
rồi ba hay bảy và hơn nữa
họ họ đã yêu nhau thật rõ rệt
tìm nhau trong bóng tối những công viên
trong chăn gối lén lút.
 
Họ gần như không nói năng. Người đàn bà bảo
người ta đang chờ nàng và nàng sợ
còn người đàn ông anh làm việc nơi bàn giấy
anh nhìn đồng hồ đeo tay trong khi chờ đợi giờ
lại được trở lại bên nàng.
 
Họ thật khác nhau và họ đã yêu nhau. Anh ta
anh ta đã cưới một cô gái tóc hoe vàng xuẩn ngốc
còn nàng nàng đã có bốn đứa con
và một người chồng thật quy củ và vui
không bao giờ hiểu nàng.
 
Họ đã yêu nhau trong lặng lẽ
như thể họ thực hiện một nghĩa vụ lớn.
Cuộc đời họ thật khác nhau nhưng
có điều gì đó rất mạnh hợp nhất họ một điều gì đó
được hoàn thành trong những vòng ôm siết của họ.
 
 
TÌNH YÊU XINH ĐẸP
 
Bức tường áp lên bức tường ấy nỗi quạnh hiu xấu xí nhất
và gượng ép nhất
đã giam kín mi tách mi ra khỏi mọi điều mi yêu mến
hay đã từng thuộc về mi
và với bước chân chồn cáo
 
đã lẻn vào chiếc đồng hồ treo và bắt đầu làm đảo lộn
mọi khắc giờ
để mi không còn biết, cũng chẳng nhận ra được
rằng giờ phút
yến tiệc của mi đã đi qua.
 
Và ấy chính bởi thế mà một nỗi tuyệt vọng dơ bẩn
đã chụp xuống trên vai mi
tựa như một con chim lớn trong một buổi đầu ngày
ghê tởm và ác độc
với những âm sắc của bất hạnh
 
và chính là vào lúc đó mi hãy nhớ rằng vào giờ phút
bị bỏ rơi hay thờ ơ
mi đã thốt ra tên nàng mi đã lặp lại tên nàng
như một đứa trẻ
lạc lõng trong đen tối.
 
Do sự tình cờ hay âm mưu cái tên nàng đã trả mi lại
với những ngày
đầy ánh sáng trong trẻo nhất và lúc này mi cảm thấy
làn gió nhẹ mùi tươi mát
của một nơi mi quen biết.
 
của một ngôi nhà bao quanh là hoa và những lối mòn
nơi mộng mị
băng qua những dãy hành lang cao và trắng
tựa những cánh buồm
của một con tàu ra khơi
 
và trong khi nô đùa mi ẩn núp ở cuối một hành lang
và mi chờ đợi
cho cô bé mà mi yêu tới và mi làm cô hoảng sợ
với những chùm lá
của một cành nguyệt quế
 
và khi cô bé cười trên trái tim côi cút của mi
mi đã cảm thấy
rằng làn da cô và mái tóc cô có vị mật
rằng cô run rẩy
và môi cô bỏng cháy.
 
Lúc này mi không còn thức dậy vào những giờ thảm hại
khi một cơn lạnh
của bồn chồn lo âu làm rung chuyển đêm tối đổ nát
khiến cho
nỗi mỏi mệt của mi đau xót tới hừng đông
 
mi không còn những cơn ác mộng hay những sự đột ngột hiện về
những con mắt không khuôn mặt
của những người mi đã yêu và đã biến mất
xa dần
như những ngọn hải đăng trong sương mù
 
lại cũng không cần mi phải đếm tới một ngàn
hay mi đốt
tất cả những điếu thuốc mà mất ngủ đòi hỏi
để đạt tới
sự lãng quên hoàn toàn
 
bởi mọi sự nay đã khác khi nàng ở với mi
khi mi cảm thấy
nàng hít thở trên chiếc gối kề bên mi và đôi tay nàng
mơn trớn vuốt ve mi
trong lúc giấc ngủ buông xuống.
 
Mi đừng tìm hiểu hãy để cho tan biến màn khói
làn hơi mờ đục
của những năm cải quá: một thời kỳ đã thuộc về mi
và lúc này
mi không còn nhận biết nữa;
 
hãy leo lên mãi tới hàng bao lơn của buổi sáng và hát
hát thật giản đơn
với hy vọng với những ngọn gió và với những con đường
đã trả mi lại nơi đây
do sự âm mưu hay tình cờ
 
và hãy nói với cô bé nọ những gì ngày trước mi không biết
hãy thuật lại cho cô hay
rằng mi đã lang thang lạc lõng ở những nơi chốn vô danh
rằng mi đã từng
đau yếu và cô đã săn sóc mi
 
rằng khi lắng nghe tiếng cô mi cảm thấy mình sống lại
và rằng mi yêu cuộc đời
là vì cuộc đời đã cho mi vận may và ân huệ
được biết đến
tình yêu sâu thẳm và xinh đẹp.
 
(A veces gran amor, 1991)
 
 
NHƯ THỂ ẤY HƯƠNG TRẦM
 
Đừng khuấy rầy. Họ không có đó vì ai hết
mà chỉ vì mình họ.
Mỗi khoảnh khắc của đêm họ sống
hãy ngang bằng một vĩnh cửu.
Yêu là một hội lễ: hãy đợi đó ánh ngày
cái lúc soi sáng khuôn mặt họ;
họ họ đã có ánh sáng trong hốc trũng của đôi cánh tay.
Và họ nhìn nhau và họ nhìn
đôi mắt tấm thân và những cử chỉ của họ
và làn khói bốc lên
cuộn vòng như thể ấy chính hương trầm
của cuộc hành lễ.
Đừng khuấy rầy. Giữa những tiếng động
của thành phố âu lo
những người tình không có đó vì một điều gì khác
họ có đó chỉ vì mình họ.
 
                       (La noche le es propicia, 1992)
 
 
HOÀN TOÀN TỰ DO
 
Y nắm lấy hàng lan-can bằng cả hai bàn tay
– thật khó mà hít thở là vì khói
và bụi vẫn chưa tan –
và y tựa mình trên hai đầu gối
để quan sát kỹ hơn giữa đám gạch vụn
và vôi vữa của bức tường đã được triệt hạ
 
y cọ mặt vào bờ vai và y thấy
cái vết nhơ trên chiếc áo sơ-mi – cái đó không sao
cũng tựa mồ hôi – và y nghe ở xa xa
có lẽ ở phi cảng tiếng hú điên dại
của một hồi còi giữa những tiếng nổ chát chúa
và lúc đó nhẹ nhàng y cảm thấy như mình có cánh
 
những ngón tay y nới ra y gẫy gập
làm đôi và chỉ hơi tựa
vào những thanh sắt y buông mình ngã xuống
trong lúc nhìn đám người nằm sóng sượt
bên chiếc xe jeep mà y đã phá hủy
và khi y đã ở dưới đất y hết sức ngạc nhiên nhận thấy
 
rằng cơn cuồng nộ đã lui xa và y mỉm cười
– y không thể giải thích được điều ấy – và như thế đó
y nghĩ rằng mọi sự đã hoàn tất
và y cảm thấy một giấc ngủ lớn tràn ngập
và y cảm thấy mình chết yên hàn
và y cảm thấy mình hoàn toàn tự do.
 
 
ĐÚNG LÚC ĐÓ
 
Ngày mà mọi máy điện thoại đều hú lên
mọi máy truyền hình và truyền thanh đều phóng ra một chiến dịch loạn cuồng
bằng cách kể lể những lợi ích của tự sát tập thể
hay khi các đồng hồ đều ngừng lại vào một giờ hoàn toàn xuẩn ngốc
 
lúc đó
khi anh sẽ đọc thấy trên mặt máy điện toán
những dữ kiện hoàn toàn sai lạc
và khi ngoài đường phố đèn ngã tư sẽ bật đỏ thường trực
và khi anh sẽ thấy những chuyến xe lửa xuất hành chạy giật lùi
những máy bay cất cánh bất kể ra sao để lộn nhào dập nát ở xa hơn đôi chút
hay những con tàu biển chơi trò đụng độ nhau
 
phải phải lúc đó
anh đừng tưởng rằng sẽ xẩy ra
những gì trong các bản văn và bài khảo luận
người ta gọi là cuộc nổi loạn của kỹ thuật học
hay mưu toan của máy móc nhằm nô lệ hóa con người.
 
Những gì anh sẽ thấy đơn giản hơn nhiều
một vài kẻ được vận dụng như rô-bô
mà anh đã làm biến dạng đến dại khờ
trong một chuyển động bác bỏ thật sáng suốt
sẽ chuẩn bị ngày lễ lớn
lễ mai táng anh.
 
 
TÌNH CỜ VÀ TẤT YẾU
 
Khi ở một giao điểm ta chọn một con đường
và bước theo nó
còn lại phía sau là cả ngàn dự án khác
có thể được xét tới ngay từ điểm khởi hành.
 
Như một người duy nhất
toàn thể nhân loại kể như một khối
giữa những minh ước và những cuộc cách mạng
tiếp tục tiến tới trong tình cờ may rủi
trên con đường dài dặc và bấp bênh.
 
Tất định hay không
ý hướng của lịch sử
cũng tựa như chuyến đi nọ trên một con đường sắt
một nửa xây dựng trong rừng già
khu rừng xóa dấu vết nó đi ngăn chận cuộc trở lại.
 
                       (Bajo tolerancia, 1974, 1983, 1996)
 
 
NỖ LỰC VÔ ÍCH
 
Y đã quên những ngày tháng Tám
y đã quên ánh ngời những bím tóc của nàng
y đã quên vẻ sáng rỡ ấy
y đã quên tấm thân nàng trên cát
y đã quên tên của con ngựa
y đã quên ánh mắt nàng gay gắt
y đã quên cánh đồng cây hạt dẻ
y đã quên rằng nàng quá đẹp xinh
y đã quên sự tiếp xúc với làn da nàng
y đã quên nơi trú ẩn và những trái dưa hấu
y đã quên đôi bàn chân nàng trong rãnh nước
y đã quên lũ thỏ và đàn dê
y đã quên nàng là một đứa trẻ thơ
y đã quên vẻ lộng lẫy của nàng
y đã chẳng quên một điều gì hết. Nỗ lực vô ích:
năm tháng qua đi và y yêu nàng.
 
                       (Las horas quemadas, 1996)
 
 
--------------------------
Ghi chú của người dịch:
JOSÉ AGUSTÍN GOYTISOLO (1928-1999) là một nhà thơ lớn của Tây-ban-nha hiện đại. Ông sinh tại Barcelona năm 1928, làm việc trong ngành xuất bản tại thành phố quê nhà. Được coi như người đại diện cuối cùng của «trường Barcelona», mặc dù ông vẫn tự coi mình như một nhà thơ «độc lập» và muốn là «một chứng nhân của thời đại».
 
Vào thời nội chiến ở Tây-ban-nha, mẹ ông đã bị thiệt mạng trong một cuộc oanh tạc. Thi tập đầu tiên của ông, El retorno (1955), được dành cho mẹ...
 
Goytisolo đã nhiều lần bị giam giữ vì chống phát-xít ở nước ông. Thơ ông dành một chỗ lớn cho kinh nghiệm; lời thơ trực tiếp, giản dị, trong sáng. Từ 1955 đến 1996, đã có khoảng mười bốn thi phẩm của ông được xuất bản. Những lời thơ của Goytisolo, do Paco Ibanez hát, được quần chúng rất ưa chuộng.
 
Ông còn được biết tới như một nhà phê bình và dịch giả thơ Ý (Pavese, Pasolini, Quasimodo và Ungaretti). Ông có hai người em trai là những tiểu thuyết gia quan trọng của Tây-ban-nha hôm nay: Juan Goytisolo (1931) và Luis Goytisolo (1935).
 
José Agustín Goytisolo mất tại Barcelona ngày 19.3.1999. Thơ ông được trích dịch và in trong mọi tuyển tập Thơ Tây-ban-nha...
 
Phần trích thơ trên đây nhằm hiến bạn đọc một vài nét đan thanh về thơ José Agustín Goytisolo. Các bài dịch trích từ các thi phẩm chính yếu của ông xuất hiện từ 1955 đến 1996 (ngoại trừ Algo sucede, 1968), và dựa theo (hoặc tham khảo) các bản Pháp văn của Danièle Küss trong josé agustín goytisolo («textuel», Paris, 2000); của Claude de Frayssinet trong Poésie espagnole 1945-1990 (UNESCO và Actes-Sud, 1995); và của Jacinto-Luis Guereña trong La Poésie espagnole contemporaine 1945-1975 (Seghers, Paris, 1977).

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018