thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
"Trong sông" và những bài thơ khác
(Thủy Trúc dịch)
 

Kêu cầu

 
Vilna, cây sồi
mi—
cây phong của ta,
Novgorod—
xưa trong rừng bay lên
tiếng những mùa Xuân của ta, những ngày của ta
bước chân vang động bên trên dòng sông.
 
A, ấy ánh ngời
trong trẻo, thiên thể mùa hè
chan chứa, bên ánh lửa
người kể chuyện xưa ngồi xổm,
những kẻ suốt đêm từng lắng nghe ông, những chàng trai trẻ,
nay đã đi rồi.
 
Còn lại một mình, ông sẽ hát:
Trên đồng cỏ hoang
lũ sói lang thang, người đi săn
bắt gặp một tảng đá màu vàng,
tảng đá sáng ngời dưới ánh trăng.—
 
Bơi một làn khí thánh thiêng,
một con cá,
qua những lòng thung xưa, qua những lòng thung
đầy rừng cây, lời
tổ phụ còn vang lên:
Hãy đón chào những người xa lạ.
Cả mi nữa, mi cũng sẽ trở thành kẻ lạ xa. Chẳng bao lâu nữa.
 
 

Đường chim 1957

 

1

Trong mưa tôi đã ngủ,
trong lau sậy của mưa tôi đã thức.
Trước khi lá rụng, tôi thấy trăng thật gần,
tôi nghe tiếng chim thiên di,
tiếng kêu trắng, lắc lay
bầu khí làm tan tác nó.
 
Lẹ làng và chính xác
như loài sói đánh hơi,
hỡi người em gái, hãy lắng tai! Vai-nơ-moi-nen*
đang hát qua cơn gió,
ném chiếc cánh ra ngoài tuyết
xuống vai em, chúng ta vỗ cánh
phiêu bạt trong làn gió những khúc ca.
 

2

Nhưng lẻ loi dưới những tầng trời
bao la, những con đường
hoang vắng của
từng đoàn lũ chim đang mờ dần.
Thiêm thiếp theo làn gió
chúng lướt đi, một mặt trời mới
bừng bừng, ngọn lửa
quất lên, chúng bốc cháy
nơi cội tro.
 
Ở đó cũng nát tan
những tiếng hát của chúng ta nữa.
Hỡi người em gái, hai bàn tay em
tái nhợt, em ngủ trong tăm tối
tách lìa tôi—khi nào tôi sẽ phải
hát lên nỗi khắc khoải của loài chim?
 
--------------------------------------
* Wainemoinen, nhân vật chính trong “Kalevala”, anh hùng ca thần thoại Phần-lan. (người dịch)
 
 

Tưởng niệm một ngư phủ

 
Luôn luôn
cùng với những đàn chim thước
khuôn mặt trắng của anh
được ghi trong bóng rừng.
Kẻ tranh cãi cùng con cá dưới đáy sâu,
gió trên bờ, lớn tiếng hỏi:
Ai sẽ buông lưới cho ta?
 
Không ai cả. Con cá ngạnh màu chim
luồn qua những mắt lưới,
tạo một cái tổ cho con cá giống,
bên trên hàm cá măng của những vùng thăm thẳm,
một ngọn đèn lồng,
nhẹ nhàng.
 
Và ai sẽ trét đáy cho ta,
con thuyền bảo, ai sẽ trò chuyện
cùng ta? Con mèo
rảo quanh cây cọc
gọi con cá bống của nó.
 
Phải, chúng tôi đã quên anh.
Nhưng gió vẫn còn tưởng nhớ.
Và con cá măng già
không còn tin tưởng. Trên bờ
con mèo kêu thật lâu:
Trời sụp!
 
 

Những ca khúc Lituanie

 
Đêm đêm, với đôi mắt của loài thú, tôi là
một bụi rậm, ban ngày một cội cây,
một dòng nước trong bóng trưa,
ngọn cỏ dưới nắng.
 
Rồi khi chiều tới
một giáo đường trên đồi, nơi người yêu,
một tu sĩ trắng toát,
thường tới và hát.
 
Xuyên qua thế giới
tôi yêu người, chắc tôi phải là
ánh trăng quanh khung cửa,
quanh ngôi nhà trong tăm tối rặng thông.
 
Một ngày kia tôi sẽ lao đi
cùng với những dòng thơ của chim chóc
lúc năm tàn, khi con tim chúng,
một hạt mưa đá, đã trắng.
 
 

Villon

 
Anh, khắp miền đất Touraine
đã rảo qua: mặt đá
của những thành phố lớn luôn luôn
ở dưới những bước chân, anh
không trở lại nữa.
 
Trăng
đằng sau anh, nghiêng,
phía trước đổ dài những chiếc bóng
từ những ngọn tháp và cây cối.
Có ai đang bước qua đó, huýt sáo.
Khoác lên vai y những đám mây nho nhỏ
qua mau—hàng dệt áo choàng ngắn—
là Thần Đạo chích, một người Hy-lạp, người ta bảo thế.
 
Hỡi anh đầu trọc lốc, hãy vẫy nón!
Hình ảnh anh trên những tấm gương sát nhân
của hết mọi mặt ao! Ở mạn Bắc đầy gió,
xa xôi, làng chài:
dưới chân tường, nơi mái
dốc, trong mù sương,
anh sẽ ngủ, sớm mai,
mọi người đi chài lưới trở về, đồ uống
đặt bên ánh lửa,
rồi nhảy vô chảo kẻ lặng lẽ
hy sinh, lấp lánh dầu mỡ,
con cá biển.—“Ấy đó là nơi ta sẽ ngủ.”
 
 

Máy xay gió

 
Ánh sáng,
ánh sáng sục sôi,
trên đồng bằng, dốc đứng,
ngọn núi của lộng lẫy, ầm ầm
tiếng gẫy đổ, những cơn bão lao đi,
hít thở những lằn chớp, bức vách khủng khiếp
leo mãi tới trời.
 
Trên đồi cát,
đến từ biển,
nơi vùng đất bồi không cây cối
tôi đã bước,
không những chiếc bóng, không những giắc mơ, tôi bước đi
cùng với đám thợ gặt, đây là cái máy xay gió
không lay chuyển và xưa. Kìa bằng những chiếc cánh xám
lúc này nó đã nắm bắt không khí.
Lặng lẽ cất lên trên vùng đất.
 
Cùng với những cánh diệc
nó ra đi, bát ngát trên bầu trời
trắng. Từ xa xa, man dại,
lóe lên ánh mắt mùa đông
còn liếc theo.
 
Cánh chim của băng giá, hỡi trái tim,
mi hãy làm tổ nơi hốc trống ấy
của những xương và vây cá
nơi dòng máu đang thì thầm.
 
Bên đám trẻ của đồng bằng, những bé gái và trai,
hãy ở lại, bên những chiếc bóng nho nhỏ
trong ca khúc và vũ điệu, mi
hãy giữ lấy một sợi cỏ tháng Một
để chống tuyết.
 
 

Ánh sáng mùa đông

 
Hỡi những dòng sông xa,
đêm nay, hướng tới các ngươi ta lắng tai,
hướng tới những băng giá đầu tiên của các ngươi,
thật lâu. Ta nghe cái tiếng cói
mảnh lướt ấy; thôn làng
ngủ yên.
 
Tuổi thơ, màu nâu nhạt, như một làn nước giếng
lạnh lẽo, sạn cát—
Cái thùng gỗ vẫn hoài
lao xuống đáy. Ai tới thế?
Ai đã tách nó ra từ sợi xích rỉ sét?
A, ai đã uống nước thế nhỉ?
 
Những lời hiền từ ảm đạm
dưới những mái tranh của chúng ta, những tiếng
dịu dàng nghẹn ngào tuyết,
tiếng thì thào của các mẹ đỡ đầu và tiếng kêu của con trẻ—
 
Thời gian màu hoa lilas
ngày xưa, khi trên bầu trời đang qua
lơ lửng những cánh chim, dưới ánh sáng
giảm lần; bầu trời
đứng yên,
sững lại trên mái vựa lúa, khiến
im lặng của bóng tối lại đầy thêm.
 
Mùa đông vẫn tới.
Với những cánh bồ-câu, bay bay ở dưới thấp
là màu xanh, chiếc mái
lửng lơ, soi dịu dàng
trên thế giới.
 
Và tiếng kêu của người thợ săn phóng tới
trên sườn dốc, đón tuyết
thầm lặng. Ôi màu đen
thẳm sâu! Trái tim mi
đầy ánh sáng.
 
 

Truyện

 
Cát trong, những dấu vết
xanh lục, và khu rừng bay
của những bóng tối, trên cao con cá bằng thép
len lỏi qua rặng cây,
vượt lên trên những đỉnh cao, tôi
chỉ đặt một bước
rồi một bước nữa.
 
Kitesh, thành phố,
có những ngọn tháp
và một con đường,
nơi tôi đang đứng,
 
không nhìn tôi thoáng thấy em,
tôi tiến lại phía em,
không một tiếng động,
tôi nói với em
không tiếng nói.
 
 

Hölderlin ở Tübingen

 
Cây ở cõi thế này, và ánh sáng,
nơi con thuyền đậu, có tiếng người gọi,
con sào cắm vô bờ, thoai thoải
triền dốc, trước cánh cửa này
chiếc bóng đã lướt qua, chiếc bóng
rơi trên một dòng sông
dòng Neckar, xanh lục, dòng Neckar,
bước ra
để bao quanh những đồng cỏ và rặng liễu.
 
Tháp,
ước chi trú ngụ được
như một ngày, sức nặng
những vách tường, sức nặng
áp trên màu lá,
cây và nước, phài cân nhắc
cả hai trong cùng một bàn tay:
tiếng chuông vang lên, rơi rơi
trên những mái nhà, đồng hồ
chuyển dịch, lay động
chiếc chong chóng gió bằng sắt.
 
 

Thời của cá măng

 
Hỡi những chiếc rễ,
hãy giữ ta lại,
hỡi những chiếc rễ tần-bì,
ta đang rơi từ mặt đất, tảng đá
có vân, mà cánh én
đã phớt qua! Hỡi én, ngực trắng,
hãy bay theo nẻo đường sương mù của mi.
 
Con cá măng cay đắng,
tôi đã giật nó lên từ dưới đáy,
tôi đã đập nó vào tảng đá,
và trước khi màu xanh lục của nó mở đi
quanh đám máu
tôi đã gấp những chiếc lá từ bụi ngưu-bàng.
 
Thuyền hỡi thuyền,
hãy đưa ta qua bờ bên kia.
Trời thì trắng. Một vòm cây
đầy những tiếng chim
ngước nhìn lên.
 
 

Trong sông*

 
Với chiếc bè lao xuống
trong màu xám trong trẻo nhất của bến bờ
xa lạ, đang lui dần, trong màu xám
những mặt phẳng nghiêng nghiêng, từ những tấm gương
phóng tới chúng ta ánh sáng.
 
Đầu Gio-an Tẩy giả**
nằm trên thái dương tan nát,
trong mớ tóc đã cắt bớt
một bàn tay với những chiếc móng xanh mờ, đã sút
còn bấu víu.
 
Khi tôi yêu em, và tim em bồi hồi
rối loạn, những thức ăn trên ngọn lửa
chập chờn, miệng, mở ra,
mở, dòng sông
là một cơn mưa bay bay
với những cánh diệc, lá
rụng và lấp kín lòng sông.
 
Chúng ta đã nghiêng mình trên những con cá
cứng đơ, phủ những vẩy cứng
tiến lại tiếng dế
qua đám cát, từ những chum lá
bên bờ, chúng ta đã
thiếp đi, Không-ai
đã rảo quanh chốn ẩn náu, Không-ai
đã tắt những tấm gương, Không-ai
sẽ đánh thức ta dậy
vào giờ của chúng ta.
 
-------------------------------------
* Nguyên tác: “Im Strom”. Bản Anh văn của Ruth & Matthew Mead dịch là “Giữa dòng”.
**Đầu (Jean) Baptiste - xin xem Tân ước - được dùng như một hình ảnh miêu tả cảnh chiều trên sông. (người dịch)
 
 

Kinh nghiệm

 
Những ký hiệu,
chữ thập và con cá,
ghi trên những vách hang.
 
Đoàn người lũ lượt
chìm vào lòng đất.
Mặt đất vồng lên,
cỏ, xanh lợt, mọc
qua những bụi rậm.
 
Đập vào ngực tôi
dòng sông chỗi dậy,
tiếng nói từ cát:
 
mở ra
ta không thể đi qua
những kẻ chết của mi
trôi giạt trong ta
 
 

Bút sậy*

 
Quán trong màn mưa
bay, một tiếng hú,
cơn gió nước.
Một con bồ-câu xanh
đã vươn đôi cánh
trên rừng.
Đẹp trong sắt gẫy
của những cành dương-xỉ
ánh sáng lướt qua
có đầu một con chim trĩ.
 
Hỡi hơi thở
ta gởi mi đi,
hãy tìm lấy cho mi một nơi ẩn trú,
hãy len vào qua một khung cửa, nơi tấm gương
trắng hãy nhận ra mi,
lặng lẽ chuyển mình,
một lưỡi gươm xanh.
 
--------------------------------------
* Calame: giống sậy mà người xưa dùng để viết. (người dịch)
 
 

Câu trả lời

 
Bên trên hàng dậu
những lời người nói:
Từ hàng cây trút gánh nặng,
tuyết.
 
Cả nơi cây hương mộc bị lật đổ
tiếng hót thoáng nhẹ của loài sáo, tiếng nói
dưới cỏ của dế
vạch những vết nứt nẻ trên tường, đàn én
bay dốc
ngược cơn mưa, những chòm sao
lướt qua trên trời
trong sương giá.
 
Những kẻ đã đặt ta xuống đất
dưới những rễ cây,
nghe thấy:
hắn nói
với cát
cát lấp đầy miệng hắn, – thế là
cát sẽ nói, thế là
đá sẽ kêu, thế là
nước sẽ bay.
 
 

Con cú nhỏ

 
Vào mùa hè, lúc chiều muộn, con cú nhỏ bay trên đường phố. Chúng tôi đứng dậy để bước ra cửa sổ. Ở đây tuy vậy chúng tôi cũng thuộc thành phố, có một nhà máy ở kế cận, xe lửa không xa lắm và, ở bên kia, là nghĩa trang, rồi đến sân trường học, ban chiều thật yên tĩnh, trên đường phố này những ngôi nhà đều có những mảnh vườn nho nhỏ.
 
Bên trên cây đèn đường, trong cây phong trước nhà, nó đậu lại một lúc, nó không còn kêu nữa, chúng tôi có thể nhìn thấy nó, nó bao giờ cũng đậu trên cùng một cành. Thế rồi con cú nhỏ bay đi xa hơn và lại bắt đầu kêu trong lúc đương bay. Và như thể, ở đó lúc này, chúng tôi vừa tỉnh dậy. Như thể trọn ngày hôm nay – chúng tôi đã mò ra ngoài, đã nói, viết, gọi dây nói, chạy đây chạy đó, như thể trọn ngày hôm nay chúng tôi đã ngủ vùi trước đó. Và giờ đây chúng tôi dỏng tai nghe ngóng: lũ dế ở trước cửa sổ, chúng tôi phân biệt những âm vực của các tiếng nói, những nhịp độ, có lẽ những tiết điệu. Chúng tôi thức dậy trong đen tối.
 
Con mèo nhảy lên mép cửa sổ và chuyện trò với chúng tôi bằng giọng nói trong trẻo như một bé trai của nó. Chúng tôi bảo nó: đi chơi với các em đi. Nó đi và lên nằm trên giường Ulrike, dưới chân bé.
 
Chúng tôi sống ở đây, mọi ngày, chúng tôi có con cái của chúng tôi, phần việc của chúng tôi ở đây, mọi ngày, và tất cả những chuyện đó đều thật nghiêm trọng, chúng tôi phải nghỉ ngơi vì chúng tôi mỏi mệt, nhưng giờ đây như thế đó – một con chim cất tiếng và chúng tôi nghĩ tới chỗi dậy. đột nhiên, những ca khúc Lituanie có trước mặt, giữa lúc ban ngày, bữa ăn trên bếp lửa, con trẻ sắp đi học về, và tôi đang ngồi đây để viết một điều gì đó, trong văn phòng, để nói với em. Hoặc là, cất lên cái điệu nhạc luôn luôn mơ hồ ấy, như Grass* đã nói, của dòng sông nhỏ bé Szeszupe. Này, chúng ta sống ở đây ra sao nhỉ? Có phải người ta thường mang theo quê hương dính sát với đế giày?
 
Ở đây chúng tôi cũng đã nghe, đằng sau đường xe lửa, tiếng chim chào mào, chim gõ mõ và chim cu gáy, mà vậy chớ không phải vậy. Và thêm, ở đây cũng có dòng sông. Nhưng khi em mơ, thiên hạ nói thứ tiếng gì nhỉ, đường xá trông ra sao, em từ căn nhà nào tới, em bước vô căn nhà nào?
 
Những ngôi nhà trong mơ đều bằng gỗ, nhưng không phải tất cả, mà vậy chớ cũng lại không phải vậy nữa. Và những con đường?
 
Một con đường mà mọi người đều đi. Không hố rãnh. Nó rộng lớn biết bao, có thể nói được chăng? Nó biến thành đồng cỏ. Hay ấy chính đồng cỏ ngừng lại. Hoặc biến thành đường. Sự thực ra sao nhỉ? Không có biên giới. Con đường không cùng tận. Và khởi đầu là đồng xanh. Chuyện đó không diễn tả được. Và ấy là trái đất nơi chúng ta đang sống.
 
(trích Đen và ít ánh sáng)
-------------------------
* Có lẽ là Gunter G.? (người dịch)
 
---------------------
Ghi chú của người dịch:
JOHANNES BOBROWSKI (1917-1965) là một nhà thơ Đức, được coi như người kế nghiệp của Klopstock, Hölderlin và Trakl với lối thơ trữ tình thật tinh khiết. Trong văn chương Đức hiện đại, ông là một nhà thơ lớn, rất gần Paul Celan.
 
Sinh ngày 9.4.1917 ở Tulsit, Đông Phổ, nơi thân phụ, Gustav, làm nhân viên hỏa xa, Bobrowski theo học trung học ở Königsberg và thường lưu trú tại nhà ông bà ở Lituanie. Năm 1934, trở thành hội viên một câu lạc bộ đọc Thánh kinh nơi sau này phát sinh một phong trào của người Thiên chúa giáo chống quốc xã. Tới năm 1937, theo gia đình trở về Berlin-Friedrichshagen.
 
Trong thời gian 1939-1945, Bobrowski làm lính trong quân đội Đức ở Ba-lan, Pháp, và Liên Sô. Bị thuyên chuyển về hồ Ilmen (1941), ông bắt đầu viết những bài thơ do cảnh trí Nga gợi hứng. Bắt đầu học lịch sử nghệ thuật ở Berlin (1941-1942), rồi lại bị đổi về hồ Ilmen.
 
Bobrowski lập gia đình với Johanna Buddrus (1943) và được 3 người con. Năm 1945, ông bị bắt, làm tù binh ở Liên Sô, lao động trong các mỏ than. Mãi đến 1949 mới dứt thời bị bắt làm tù binh, Bobrowski trở lại Đức, cư ngụ tại Đông Berlin. Một năm sau, ông trở thành người đọc và lựa bản thảo cho Lucie Groszer, trong ngành xuất bản sách cho trẻ em. Đến 1959, trở thành người đọc và lựa bản thảo cho nhà Union Verlag, Berlin.
 
Tập thơ đầu tay của Bobrowski: Sarmatische Zeit ra đời năm 1961, do nhà Deutsche Verlags-Anstalt, Stuggart ấn hành. Một năm sau đến lượt tập thơ thứ nhì, Schattenland Ströme, cũng ra đời ở Stuttgart: Giải thưởng của "Nhóm 47” ở Berlin. Bobrowski cũng là tác giả hai cuốn tiểu thuyết: Levins Mühle (1964), đoạt Giải thưởng Heinrich Mann ở (Đông) Berlin và giải thưởng quốc tế Charles Veillon ở Zurich; và Litauische Claviere (1966). Ông còn viết một số chuyện ngắn in thành tập Mäusefest (Klaus Wagenbach Verlag Berlin) và tập Boehlendorff (Deutsche Verlags-Anstalt, Stuttgart). Hai tập chuyện này được nhà Union Verlag Berlin cho in lại thành một.
 
Ngày 30.7.1965, vì bị “trúng phong”, hay sung huyết não (apoplexie / congestion cérébrale), Bobrowski phải vào nằm bệnh viện và tới ngày 2.9 cùng năm ấy thì mất, lúc đó mới 48 tuổi.
 
Tập thơ thứ ba của ông, Wetterzeichen, được nhà Union Verlag Berlin xuất bản năm 1966. Năm 1967 xuất hiện tập truyện Der Mahner của ông, do nhà Union Verlag Berlin xuất bản. Tập thơ cuối cùng của Bobrowski, Im Windgesträuch, do nhà Deutsche Verlags-Anstalt, Stuttgart ấn hành xuất hiện vào năm 1970. Tác phẩm toàn tập của Bobrowski, ấn bản Eberhard Haufe, gồm 4 cuốn, do hai nhà Union Verlag Berlin và Deutsche Verlags-Anstalt Stuttgart ấn hành, xuất hiện vào năm 1987.
 
Các bài thơ của Johannes Bobrowski ở trên được dịch theo các bản Pháp, Anh của Ralph Dutli và Antoine Jaccottet (1993); Jean-Claude Schneider (1992, 1999); Ruth & Matthew Mead (1984). Riêng bài “Con cú nhỏ” trích trong tập truyện “rất thơ” của Johannes Bobrowski, nhan đề: Đen và ít ánh sáng (Noir et peu de lumière), Ludd, Paris, 1991, bản Pháp văn của Véronique Donnat. Xin mời bạn đọc xem thêm bài “Ánh ngời và sự huyền bí của Bobrowski” của A. Jaccottet đăng song song trên Tiền Vệ.

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018