thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Mười tám bài ca nhỏ cho tổ quốc đắng cay
(Diễm Châu dịch)
 
Ghi chú của tác giả:
Mười sáu trong Mười tám bài ca nhỏ cho tổ quốc đắng cay đã được viết chỉ trong một ngày – ngày 16 tháng Chín 1968 – tại Parthéni, trên đảo Léros, sau khi Mikis Théodorakis đã bí mật cho chuyển tới tay tôi một lá thư yêu cầu tôi cho ông một bản văn mới để phổ nhạc. Tôi lại cũng đã để công trau chuốt những bài ca nhỏ ấy tại Karlovassi, trên đảo Samos, vào tháng Mười Một 1969. Tôi đã viết các bài 16 và 17 ngày Một tháng Năm 1970. Bài thứ 7 đã được hoàn toàn sửa đổi vào tháng Giêng 1973, tại Nhã-điển. Trước, tôi không có ý xuất bản Mười tám bài ca nhỏ và đã yêu cầu người ta đừng in ấn, đừng phiên dịch, mặc dù những bài ấy đã được hát. Nhưng phần lớn các bài ấy đã được xuất bản ở nhiều nơi và trên các tạp chí nước ngoài, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Do đó tôi không còn lý do để tiếp tục duy trì quyết định ban đầu. Mười tám bài ca nhỏ cho tổ quốc đắng cay được đề tặng Mikis Théodorakis.
(ghi chú ở đầu sách của Yannis Ritsos cho ấn bản Hy-lạp Kedros.)
 

1. LỄ RỬA TỘI MỚI

 
Trong cay đắng và nước mắt, người ta rửa tội cho những từ ngữ khốn khổ,
Chúng mọc cánh, chúng bay, những cánh chim, và ca hót,
 
Và từ này, từ của niềm bí ẩn này – từ tự do
Thay vì cánh, đã thoát ra từ sóng biển và xé toang bầu khí.
 
 

2. NÓi CHUYỆN VỚI MỘT BÔNG HOA

 
—Anh thảo, anh thảo, trong kẽ đá nứt nẻ,
Mi đã kiếm đâu ra những sắc màu và nở hoa, một nhành non và đung đưa?
 
—Nơi đá tảng từng giọt lại từng giọt, ta đã thu lượm máu,
Dệt thành tấm khăn quàng cổ màu hồng và lúc này ta gặt hái mặt trời.
 
 

3. TRÔNG CHỜ

 
Và như thế trong trông chờ lớn lên những đêm tối
Nơi tiếng hát bén rễ và mọc lên như cội cây.
 
Và những kẻ bị xiềng xích kia, và những kẻ trong lưu đày xa xăm nọ
Buông một tiếng thở dài cay đắng «ôi », bay đi một lá liễu rung.
 
 

4. NHÂN DÂN

 
Không có kiếm không có đạn trong cuộc chiến đấu của những người dân hèn mọn
Vì cơm bánh của hết mọi người, vì ánh sáng và khúc ca.
 
Họ ngậm tăm những tiếng oán than và những tiếng hoan hô,
Nếu họ lộ vẻ muốn cất tiếng hát lên những điều ấy, đá cũng nát tan.
 
 

5. BUỔI LỄ CỦA NHỮNG NGƯỜI CHẾT

 
Trong một góc người ông đứng, trong một góc khác mười đứa cháu,
Trên bàn, chín cây nến cắm sâu vào ổ bánh.
 
Những người mẹ bứt tóc, những đứa con câm nín,
Ở khung cửa sổ trổ trên mái, Tự do trông chừng và thở dài.
 

6. HỪNG ĐÔNG

 
Hừng đông nhỏ của mùa xuân đầy ánh nắng và duyên dáng,
Đâu là đôi mắt để nhìn mi, để chào đón mi?
 
Hai cục than hồng trong lư hương, hai hạt hương
Và một cây thập tự tro ở ngưỡng cửa của tổ quốc.
 
 

7. KHÔNG ĐỦ NỮA

 
Khiêm nhường và ít nói, y nhìn dưới mặt đất
Chiếc bóng của con chim nhỏ và tính toán chiều cao của nó.
 
Biết nói gì? Và ích lợi gì? Nguyền rủa không còn đủ nữa.
Than ôi, treo trên cành lê dại, khẩu súng cũ khốn khổ của y.
 
 

8. NGÀY XANH TƯƠI

 
Ngày xanh tươi tỏa rạng, triền núi đẹp xinh,
Với tiếng chuông và tiếng chiên kêu, giữa đám hoa mỹ nhân đỏ và hoa sim trắng.
 
Cô gái kết món hồi môn, chàng trai đan rổ rá
Và đàn dê trên bờ biển gặm muối trắng.
 
 

9. NGHI LỄ

 
Dưới hàng dương, chim chóc và phụ nữ hợp lại
Đã khởi sự nghi lễ của mình với tháng Năm mới.
 
Lá rực cháy như những ngọn nến trên vùng đất của tổ quốc
Và, từ trời cao, một con phụng hoàng đọc Phúc âm.
 
 

10. NƯỚC

 
Dưới tảng đá, một chút nước được im lặng,
Sự rình rập của con chim, bóng những cây trúc đào thánh hoá.
 
Các nghĩa quân* kín đáo uống, ngẳng cổ lên
Như những con chim sẻ và tạ ơn Mẹ Hy-lạp khốn khổ của họ.
 
--------------------------------
* kleptes: nghĩa quân Hy-lạp thời lệ thuộc đế quốc Thổ. (người dịch)
 
 

11. BÔNG ANH THẢO

 
Một con chim hồng nho nhỏ bị cột bằng một sợi dây
Với đôi cánh quăn queo chập chững bay về phía nắng.
 
Nếu mi nhìn nó một lần, nó sẽ tặng mi nụ cười của nó.
Nếu mi nhìn nó hai lần, mi sẽ bắt đầu cất tiếng hát lên.
 
 

12. NHỮNG CÔ GÁI GẦY

 
Những cô gái gầy gom muối lại trên bờ
Lưng thật còng, và thật cay đắng, các cô không nhìn thấy biển khơi.
 
Một cánh buồm, một cánh buồm trắng ra hiệu cho các cô trên nền xanh
Và chẳng được các cô nhìn thấy, đã tối lại vì muộn phiền.
 
 

13. NGÔI NHÀ NGUYỆN TRẮNG

 
Ngôi nhà nguyện trắng giữa nắng trên sườn dốc
Làm loé lên khung cửa sổ mỏng manh xưa cũ,
 
Chuông đổ trên cao, lơ lửng trên cây dương ngô đồng
Suốt đêm mừng lễ của dân Thánh.
 
 

14. MỘ CHÍ

 
Con người dũng cảm ngã xuống đầu ngẩng cao
Đất ẩm không vùi lấp, sâu bọ không động tới
 
Thập tự là chiếc cánh trên lưng, chàng phóng lên cao mãi
Và hòa mình với những con phượng hoàng lớn và các thiên sứ ánh vàng.
 
 

15. NƠI ĐÂY ÁNH SÁNG

 
Trên khối cẩm thạch kia, rỉ sét hư hao không bám được
Cũng như sợi xiềng không bám được ở chân người Hy-lạp, ở chân gió.
 
Nơi đây ánh sáng, nơi đây bãi bờ – những mũi nhọn vàng ánh và thiên thanh,
Khắc những hình nai trên đá và khởi sự chặt xiềng nhát đầu tiên.
 
 

16. XÂY DỰNG

 
Ngôi nhà này, làm sao xây dựng, ai sẽ đặt những cánh cửa?
Lúc này thật hiếm những cánh tay, và quá nặng nề những tảng đá.
 
Hãy im đi: trong lao động, những cánh tay sẽ vững mạnh và gia tăng
Và đừng quên: suốt đêm, những người chết cũng sẽ hỗ trợ chúng ta.
 
 

17. HỨA HẸN

 
Nín thinh những cánh chim, nín thinh những tiếng chuông,
Nín thinh nữa người Hy-lạp cay đắng, cùng với những người chết của mình.
 
Đơn độc, không ai giúp đỡ, trên tảng đá của im lặng
Y chuốt những móng tay, hứa hẹn cho tự do.
 
 

18. ĐỪNG KHÓC NHỮNG GÌ LÀ HY-LẠP

 
Cái gì là Hy-lạp, đừng khóc nó, khi nó phải khom lưng
Lưỡi dao găm thấu xương và ngọn roi trên ót,
 
Kìa nó đã vùng dậy, lấy lại sức, lớn lên
Và phóng lao đâm con quái vật bằng mũi nhọn mặt trời.
 
 
----------------------------
Ghi chú của người dịch:
YANNIS RITSOS (1909-1990) là một trong những tiếng thơ lớn của thế kỷ XX. Cuộc đời và tác phẩm của ông hòa lẫn với lịch sử khốn khổ và vinh quang của đất nước Hy-lạp.
 
Mười tám bài ca nhỏ cho tổ quốc đắng cay đã được tác giả viết trong thời gian ông bị bọn quân phiệt độc tài đày trên các đảo Léros và Samos.
 
Mười tám bài thơ trên là bản dịch trọn vẹn tác phẩm lưu đày của Yannis Ritsos, dựa theo bản Pháp văn của Jean-Pierre Bouzou và Michel Naudy. Theo hai dịch giả bản Pháp văn, có hai đĩa 33 vòng của Mười tám bài ca nhỏ do Mikis Théodorakis đặt nhạc, một với giọng hát của Maria Farandouri, Pétros Pandis và Aphroditi Manou (Pathé 2 CO-95394), đĩa kia với giọng hát của Yorgos Dallaras, Horodhia và Anna Vissi (Decca 278 045).
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018