thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Tôi làm gì ở đây | Chiếc áo mưa | Tấm bưu ảnh
(Diễm Châu dịch)
 

TÔI LÀM GÌ Ở ĐÂY

 
Đối tượng của những miêu tả và công việc kế toán, bước vào khung khổ của những dự liệu và
thống kê, được mổ xẻ
với lưỡi dao giải phẫu của nhà tâm lý học
ống chích của nhà xã hội học tôi làm gì ở đây?
Lồng ngực
được rọi bằng quang tuyến X, suy tưởng được chiếu điện,
những ánh mắt phơi trần, những tình cảm và ảo tưởng
lột sống. Làm những động tác như
một con rối treo vào một sợi dây
mà người ta khiến trở lại với sự sống
bằng một ngón tay đưa đẩy, tôi làm gì ở đây?
 
Được cân đo, thị thực và xếp loại,
ghi nơi sổ bộ sinh và tử
và trên sổ đăng ký nơi cư trú, mà người ta kể tới
trong những cuộc kiểm tra dân số hằng năm,
với một tổng kê ở số không, một số Không To tướng,
trong chuyển động chung của bộ máy đang chạy
tôi làm gì ở đây?
                           Khi tôi tựa vào tường
tôi không dựa vào tường, là vì tường thời không có
là vì tôi tôi cũng chẳng hiện hữu gì hơn,
bởi lẽ tôi là phi thể không thực, bởi lẽ tôi như lúc này đây
đang ở bên cái quán bán bia, với một cốc bia bốc ở chỗ bàn tay
thâm cứu cái câu hỏi thật phi lý này, trong lúc mà gió
thổi qua những ống tay chiếc áo vét của tôi.
 
Hay nói cách khác:
với những cánh tay quấn quít trong gió,
tìm kiếm những lẽ biện minh ở đời.
 
(Poezje, 1974)
 
 

CHIẾC ÁO MƯA

 
Trong một quán rượu, ở đường các Thống chế,
trên cái móc của một cái mắc áo
tôi đã treo thây ma chiếc áo mưa của tôi.
Khi ăn, tôi đã nhìn lớp da nó, với lần lót bằng gió
treo bất kể cách nào
không gợi lại gì hình thù thân xác tôi
miếng giẻ xám dơ bẩn
với hai vai rủ xuống và những ống tay buông tơi tả
tựa như một trái banh
mà người ta đã xì hơi.
Tôi đã nhìn những lỗ chân lông của nó
và những kẽ hở dài của mưa ngấm qua trong những ống tay
tôi đã nghĩ:
Ấy không phải là một chiếc áo mưa, ấy chính là tôi; ở đây,
trên cái mắc áo này
trong quán rượu này
mi nhìn thấy mi
và mi không nhận ra mi: mi bị treo
trên bàn tay chìa ra của những chiếc móc nhỏ,
trong lúc chiếc áo mưa, chiếc áo mưa đích thực
đang ngồi ăn ở chỗ mi.
 
(Poezje, 1974)
 
 

TẤM BƯU ẢNH

 
Với tuyết bao quanh mi đi qua đường phố buổi sáng,
mi đi dọc theo những bộ xương trắng như sữa của những căn nhà
mọc lên dọc theo những con đường, những con đường nơi buông rủ lớp vỏ ngoài của mù sương.
Và ở lối ra của những đường phố có bộ xương mạ kền của một chiếc lồng
trong đó người ta đã giam giữ ai kia trông tựa mi.
 
Và trong lúc nghiêng mình trên khe hở mở rộng trong chiếc ly
mi nói thật dịu dàng, như thể mi đang quệt cây diêm vào da thịt.
—Xin ông tờ «Vac-xa-va hằng ngày»
 
(Poezje, 1974)
 
-------------------------
Ghi chú của dịch giả:
KRZYSZTOF KARASEK sinh ngày 19.2.1937 tại Vac-xa-va. Học Triết học tại đại học. Khởi sự đăng thơ trên tờ Poezja năm 1966 và đã đăng thơ trên nhiều tạp chí khác, như Tworczosc (Sáng tạo), Kultura (Văn hóa). Năm 1970 xuất bản tập thơ đầu tiên: Giờ của diều hâu. Kế đó: Chích choè và những bài thơ khác (1972); Thơ (1974). Từ 1972 tới 1977, trở thành người biên tập thơ cho tạp chí Nowy Wyraz, rồi cho tạp chí Poerja.
 
Các bài thơ trên được dịch theo bản Pháp văn của Jacques Donguy & Michel Maslowski trong Poésie polonaise contemporaine, (sách song ngữ), Le Castor Astral & Lettres slaves, Paris, 1983. (DC.)
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018