thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Tuyển tập thơ [I]: MỘT KHÚC CA TRONG ĐỘ DÀY CỦA THỜI GIAN (1992)
(Diễm Châu dịch)
 

Nhiếp ảnh

(ngoại cảnh)
 
Ngày trước sự thật
bước xuống đồi theo những lời của người mục tử;
và những lời đó không phải chỉ có đàn cừu mới nhận biết. Tôi còn nhớ
những ngọn đồi này: màu xanh lục
dưới những cơn mưa mùa xuân, lạnh buốt vì gió
tháng Tư và sáng rỡ như mặt trời phía bắc. Ấy là
một buổi sáng. Đám phụ nữ hãy còn chuẩn bị
lò nướng bánh — và một nhịp điệu mờ ám đã báo hiệu
sự nảy sinh hoa trái, nghĩa là,
sự mập mờ của lưỡi hái vào lúc
mùa gặt.
 
Ấy đúng là những lời ông nói. Một
chuyển động rảo khắp các mặt
ruộng, làm gợn sống lưng
những đụn cát, xô đẩy lũ hải âu về
cửa sông. Thế tuy nhiên, những người già cả
hiểu ông; và một vài kẻ thơ ngây,
mà đầu óc lẫn với sự trong suốt
của làn nước, lặp lại những điều ông nói trong một tiếng
suối thì thầm. Nhưng ông đã ngỏ lời không phải là với
những người ấy.
Ông tránh sự hàm hồ, những ý nghĩ phức tạp
của triết lý, cái đáy sâu đen tối
của bài thơ. Thực ra, ông không bao giờ đi tới tận cùng
những câu truyện của mình — làm như ông không thể
chấm dứt chúng... hay ông cũng không còn biết gì hết, ngoài
những gì chúng ta biết, lúc này khi chúng ta cũng chẳng còn mấy người
nhớ đến ông. Riêng tôi, tuy vậy, tôi đã gặp lại ông —
ngồi trên băng ghế ở ga xe lửa nọ, lật giở một tờ
báo cũ và bập bập một mẩu tàn thuốc —
với hơi thở thèm khát của một kẻ tập sự
đầy do dự.
 
 

Hamlet

 
Có một khoảnh khắc, trước lúc thức dậy, khi
mộng và thực hòa lẫn. Có những lần,
giấc ngủ ngăn trở ta thực hiện sự phân biệt này;
những lần khác, chúng ta tự cho là mình đã dấn thân
vào cuộc sống mà không biết rằng chúng ta chưa ra khỏi
chốn lâm-bô đen tối. Dẫu sao đi nữa,
những xúc động và tình cảm chiếm đoạt
thân xác; chúng ta xê dịch từ mép bờ này tới mép bờ kia
với sự lo âu khổ sở của hai cảnh hiện hữu này; chúng ta
không hề chế ngự các hành động về một điều gì hết mà trái lại,
phải chịu đựng chúng như thể có điều gì đó đã giật chúng ta ra
khỏi giường. Trong bữa điểm tâm, khi nghĩ 
tới đó, đã chẳng còn mấy tí
của đêm tối. Cả những người, những chữ,
lẫn những hình ảnh kia cũng chẳng dày vò ta với mức độ dữ dội
của mới đây thôi. Tuy vậy, làm như khuyết mất
một phần của chính chúng ta. Và ban ngày, chúng ta lặp lại
những cử chỉ mà chúng ta không rõ là dành cho ai;
chúng ta nghe những câu mà chúng ta không hiểu
ý nghĩa. Và thực ra, chúng ta cũng không biết
tìm đâu ra một lời giải thích
cho sự lang thang giữa hiện hữu
và không hiện hữu này.
 
 

Ngoài đồng

 
Mặt trời là một trong những vấn đề
riêng tư của y; cái cách nó phát sinh
khiến y lo ngại; và y không bao giờ tự đồng hóa
với cỏ cây, khi chúng xoay
những chiếc lá hướng về trời.
 
Y tránh thế giới tự nhiên (tuy vậy,
chúng ta hãy lưu ý, y yêu mến một vài thứ thú vật:
chim chóc — và một vài loài bò sát
rất nhỏ), và y phàn nàn về điều khoản
chết chóc gắn liền y với đất.
 
Có lẽ y đã ưa thích một không gian trống rỗng,
một im lặng vô tận ở bên trong
những căn buồng, một cái bàn không hoa
cũng chẳng sầu muộn. Nhưng bóng chiều
xô đẩy y tới ánh sáng. Y khép mắt lại.
 
(Cảm giác nắng vẫn làm y khó chịu
trong ít lâu nữa.)
 
 

Tấm gương

 
Sự hiển nhiên của màu trắng cũng tục tằn
như mùa hè ở bờ biển của thời niên thiếu.
Lớp vôi đông lại nơi những bể cạn cuốn hút
lũ ruồi mà buổi muộn chiều không gây hãi sợ.
Với một cái cán chổi, tôi đã xô đẩy chúng,
hãy còn sống, xuống đáy, và tôi thấy chúng
biến đi dưới đám vôi trắng toát. Đôi khi,
vào những buổi ngày tàn này, gió nổi,
lay động những cành hạnh đào nơi
trái cây bắt đầu héo khô; đây đó những
chiếc lá phấp phới. Nước vôi nhuốm
một vẻ trong trẻo bất ngờ, và
một khuôn mặt hiện ra trong gương nước: em,
mà thời gian cuốn đi cũng đã lâu, em nhìn tôi,
một lần nữa, như thể em chưa bao giờ thôi
làm như thế.
 
 

Cảnh phố

 
Trong một góc quán cà-phê, điều mi đang tìm kiếm, đó là bài thơ
cho mi hay mi là ai, tại sao mi lẩn tránh, người con gái
đã chăm chú nhìn mi ấy
tên gì. Và mi không có câu trả lời. Câu trả lời
lúc ấy ở trên môi người thiếu nữ
mà im lặng của mi đã không thể hỏi;
và ở trong cơn gió đang quét vòng viên trường, cuốn
đi những lá cây và giấy lộn. Mùa thu:
một hình ảnh, hình ảnh của chính cuộc đời mi, mà
mi đã không thể không biết tới; khiến cho
từ một cuộc trò chuyện tầm thường với người thiếu nữ vô danh nọ ,
trỗi dậy một hình ảnh, cái hình ảnh khác kia, của
cuộc đời mà mi có lẽ đã chẳng muốn bỏ mất,
mọi lúc, giữa những ngón tay mi và những vần thơ.
 
 

Bốn mùa: mùa thu

 
Khi, với những màu sắc xa lạ, trái đất bước vào
mùa thu, một cảm giác tràn ngập thân xác
chạm tới đất, như thể nó sợ hòa lẫn
với đất, hay rời bỏ đất. Nhưng hôm nay, dưới bầu trời
ấm áp tháng bảy, những ngày này có vẻ đã xa xôi,
và ngay cả ý nghĩ về một tiếp xúc với đất
cũng vắng vẻ trong đôi mắt chăm chú
vào đường nét của những ngọn đồi. Nơi xa kia, cây cối
tự chỉ phía trên; và gió đẩy chúng tới
mức độ, không rõ
bằng cách nào, chúng chạm tới những đám mây son sẻ của mùa hạ.
 
Tuy nhiên, tôi không biết mùa này là mùa nào
trong tâm hồn. Có lẽ là một tiếc nuối mơ hồ
gợi ra sự trở lại của những buổi tối đơn độc
với lạnh lẽo và mưa; và một cảnh tang tóc của vầng dương
tới nằm trên mặt những ngón tay, ngăn
chận dòng thơ trôi chảy. Ấy cũng thể tôi mở
cửa sổ, và tôi nghiêng mình trên mặt hồ
mù sương nơi ta chỉ nghe tiếng khua động
đều đều của những mái chèo làm nhiệm vụ không biết mỏi mệt;
và như thể có một tiếng nói gọi tôi từ bên trong, khiến tôi lãng quên
cái thời tiết đang gần lại, qua sự
 
suy tàn của chim chóc, vẻ tỉnh táo của những vành môi
và một cảm giác còn tồn đọng mãi mà không lộ rõ.
 
 

Hành trình

 
Khi rời khỏi Lisboa, dưới cơn mưa, vào mùa đông,
trái tim biến thành mây, khẩn nguyện
gió đừng thổi, đỉnh đồi
đừng lay động những kim thông, người
đi săn đừng nhắm tới cánh chim đang tìm một
lớp sa mù ẩn náu. Trong lúc ấy, những dòng sông
mãnh liệt trôi. Chở nặng đất sét,
chúng ngốn ngấu đôi bờ. Có ai kia đang ngại ngần
phải băng qua; ai khác nữa
cam đành nhìn ngắm dòng nước chảy. Tâm trí họ
đã rõi theo hướng tà dương. Trên cao,
tuy vậy, những tầng trời của một thiên nhiên được giải thoát
khối nặng của nước đang tái tạo những sức mạnh
của hồn thiêng. Chả ích lợi gì việc đọc
các nhà triết lý, nếu con đường đã chẳng đưa chúng ta,
từ trước, tới một vùng đất hoang vu không câu cú.
Trí tưởng đã bốc cháy như săng
nơi bình chứa. Đôi môi sững lại
trong những công thức trừu tượng,
không biết tới những từ của đối thoại
thường ngày: «Anh từ đâu tới?»  hoặc «Tại sao anh
lại chậm trễ đến thế?» — Điều tôi muốn biết, đó là
tại sao những khung cửa sổ này đã bị bít kín;
từ đâu tới những tảng đá ngăn chặn
chúng ta bước vào; cơn giá đông nào hồi gần đây
đã thiêu đốt những cây non
trong vườn? Những câu trả lời
không phải dễ. Thời gian che giấu chúng ta tất cả;
và đêm tối lại sẽ phủ che mọi sự
bằng vẻ hòa hợp bên ngoài của đêm tối.
 
 

Không lối thoát

 
1
 
Các sự vật thời sáng tỏ hoặc đơn giản, hoặc
không sáng tỏ cũng chẳng đơn giản, những ngày thường kế tiếp
những ngày mưa, khi
còn là
mùa đông và khi một mặt trời đã loan báo một khí hậu
khác. Các sự vật, tuy vậy, vẫn không thay đổi gì hết
trong dòng đời, dù người ta biết hay không
là mùa đông, hay mùa hạ, hay
còn là
chuyện khác; và từ đáy thẳm của kẻ mà chúng ta
nhớ mình là, trong một thời có thể vẫn
còn là
thời của chúng ta, một hình ảnh trỗi dậy, ở đó
con người của chúng ta lại tỏ ra như một điều gì mới mẻ, bác tạp
và tuy thế vẫn y hệt như con người chúng ta đã từng là.
 
2
 
Một ngày nọ, tuy nhiên, làm như thể bầu trời đã đổi thay,
như thể mặt trời không phải vẫn là một, như thể những đám mây đã đem lại
nơi mình, một chân trời khác,
có lẽ chúng ta đã thấy được khuôn mặt nọ
từng lúc xuất hiện trong tấm gương
của trí nhớ; có lẽ thế giới nó mang
chứa đựng một lời kêu gọi lên đường, một lời
đã không thể nào cưỡng được... Và tất cả
những chuyện đó thật chóng vánh: bởi
kế đó,
mặt trời vẫn là một, những đám mây
đã tan rã thành mưa, ngày đã dao động
giữa mùa hè và mùa đông không để lại một giả thuyết nào
để chọn lựa.
 
3
 
Sự lưỡng lự được giải quyết ở đáy thẳm những hành lang
của những ngôi nhà cũ. Nhưng không còn những ngôi nhà cũ, và
các hành lang dẫn tới những bức vách kín bưng,
những không gian không tiếng vọng, những tấm gương không mặt kính
nơi phản ánh khuôn mặt em.
 
 

Chân dung với kính cửa mịt mờ

 
Có lẽ là đôi lời còn sót lại đang lịm tắt
trong bình tro thời gian: những gì em đã nói với tôi,
những buổi chiều không cùng, và tiếng thì thầm còn lại
của đêm tối. Nhưng có là gì điều ấy: quan hệ
vẫn chỉ là cái hình ảnh không dáng vẻ hiển hiện này,
tấm thân không độ dày cũng chẳng có khuôn mặt này,
chiếc ly không có rượu đổ chan hòa này,
— những ân sủng không thèm khát mà cuộc đời chồng chất,
như một lòng sông khô cạn,
hay ánh mắt mà chúng ta trao đổi, thật tình cờ,
trong ngẫu hợp của một tấm gương.
 
 

«Ulysse», một trang

 
Sau khi đã viết những lời mà, y nghĩ,
sẽ là những lời chót, y trở lại chỗ khởi đầu
của bài thơ; và như thế, y đã tự bắt buộc mình phải theo đuổi đến tận
cùng đoạn thơ, không ngắt quãng. Văn pháp
đã buộc y phải tuân theo những luật tắc xưa, tâm trí
không sao thoát khỏi những chuyện ngẫu nhiên về hình thức — và
chuyên chú vào chất liệu ngôn từ của bài thơ, y giải thoát nó
khỏi suy tưởng, khỏi trừu tượng, khỏi chính ý niệm
đang lèo lái y — người hoa tiêu của điều cao cả. Thế nhưng
đó không phải là điều y đã mơ ước, một ngày nọ, khi y chợt nhận ra
là ngôn ngữ có thể diễn tả sự bối rối của y;
và y đã không tìm được những cách thế nào khác để diễn dịch
nỗi hoài nghi kể từ nay đã ngăn cản y phân loại
như «thơ mộng» hay «trữ tình» những gì y đã viết.
«Ca khúc không làm ta thỏa mãn, ta kiếm tìm cái toàn thể.»
Tuy nhiên, tiếng nói này không phải của y. Nơi nó, y đã nghe
vọng âm mà ẩm thấp bóp nghẹn vào mùa thu; và tiếng kêu
xa xăm của một bóng chim đầy lo ngại; và tiếng thì thầm
của những vành môi lặp lại lệnh truyền không đầy đủ:
«thần linh... ai là thần linh?» Chính y, nếu biết được điều đó, hẳn y đã lấp đầy
khoảng trống của tiếng nói ấy. Không một sự chắc chắn nào thay thế được
bằng cứ của hư không; không một làn sóng dội nào nhuộm trắng tóc
buổi đầu ngày. «Hãy tin ở tiết điệu»,
y nói, như thể có ai đó đang lắng nghe y. Cái chết là một người
đàn bà lõa lồ giữa những pho tượng ở công viên; một người
đàn bà lõa lồ cưỡi trên một cái máy đánh chữ;
bộ phận sinh dục rong rêu mà thủy triều để lộ
giữa những lời cuối cùng của bài thơ và tấm thân,
nghe thấy chúng, tấm thân bị xiềng vào giàn cột buồm của câu thơ.
 
 

Siêu hình

 
Tách cà-phê trước mặt, y đốt
một điếu thuốc. Không muốn biết gì hết tới cảm hứng,
tới những vần thơ tình cờ, những nơi nhận cũng mơ hồ
như những dòng nước sông trôi. Hẳn rằng
thời gian không làm y hãi sợ; hẳn rằng cái chết,
đối với y, cũng chẳng là gì hơn một
ý niệm không thực tại rõ rệt; hẳn rằng
đôi mắt y không để lộ một điều gì hết
ngoài một cuộc sống trừu tượng trùng hợp
với tâm hồn. Đôi khi, y cũng nghĩ tới việc đáp trả
những câu hỏi đã được đặt ra cho y. Nhưng
y dời lại những giây lát ấy. Y ưng duy trì
sự bướng bỉnh lặng lẽ của hiện tại
như thể nó còn dài lâu, và như thể cà-phê
chưa nguội đi trong tách
 
 

Pessoa

 
Ở đó, ở nơi anh đang ở, mà không bao giờ trở lại từ đâu hết, cũng chẳng có ý bỏ qua một nơi mà anh sẽ chẳng bao giờ tới, là vì ở đó đã là hôm qua, tôi gặp anh. Anh yêu cầu tôi ngồi xuống: và cả hai, ngồi cạnh chiếc bàn của một trong những quán cà-phê của Vĩnh cửu, chúng ta viết những lá thư mà không bao giờ có một ai sẽ nhận được. Nhưng anh cười, bởi biết rằng Người, kẻ vôDanh, đang đọc những lá thư ấy, và có lẽ cũng đang viết những lá thư ấy, xuyên qua anh, cho một kẻ khác có khuôn mặt anh và đôi tay anh, thế tuy nhiên lại không phải là anh, và đang nhìn tôi lúc này. Và anh bảo tôi: ấy là một bóng ma! Và anh cười thêm nữa, trong chốn lâm-bô nọ nơi bắt đầu rủ xuống một hoàng hôn mà ở nơi khác người ta hẳn sẽ gọi là cái Chết: nhưng là thứ mà anh biết còn hơn là cái chết và, đồng thời, cũng là một cuộc sống mà có lẽ không một ai dám ước mơ.
Và anh nín lặng, mơ màng nghĩ tới người con gái anh đã viết cho những lá thư mà không một ai khác ngoài anh từng đọc, kể cả nàng người mà lúc đó anh đang nhìn, trong một văn phòng đầy nắng và gió, khi mơ tới những con tàu và những cánh buồm, trong lúc nàng nghĩ tới những gì anh cảm thấy đối với nàng, mà không biết rằng những gì anh cảm thấy lúc đó, duy có nàng mới có thể cảm thấy, trong cái phản ảnh của một thời mà nàng là chiếc bóng, chỉ thoáng chốc, của một ai kia kẻ có lẽ đã từng có thể có. (Và chiếc bóng đột ngột này khuấy động bóng anh, chiếc bóng tôi đang nhìn, và đang ám ảnh tôi.)
 
11 tháng sáu 1985
lisboa
 
 

Uốn khúc

 
Nỗi sầu muộn dạy rằng đường nét xác định
tất cả, từ xúc động trên khuôn mặt tới
ngọn núi lúc chiều tà.
 
 

Tôn vinh Blake

 
1
Vào thời kỳ quá lạm, hãy học biết ôn dịch.
Chuyển thèm khát lên đám xương khô và vĩnh cửu.
Con đường của bất lực dẫn tới thanh lâu.
 
2
Hỡi con cọp, con cọp, rống lên bằng chữ nổi
Trong những khu rừng đêm,
Bàn tay bất tử hay tiếng kêu nào
Đã kềm hãm sự cân đối hãi hùng của mi?
 
3
Ôi Bông hồng, giống sâu
đang gào thét ở
chỗ đậu vô hình, hãy bay
không che đậy
dưới làn gió
của ái tình đã gặm khoét
màu đỏ thắm bí ẩn
của đời mi.
 
4
Hỡi Ký ức, người trinh nữ bị vùi chôn
nơi làn gió nhẹ, hơi thở của sương mai
trong sầu muộn của phương đông:
hãy lại đây! nồng cháy
như một mặt gương phản ánh mặt trời,
và hãy phóng mũi tên của mi
 
vào trái tim những kẻ tình si.
 
5
Một con quạ trắng,
một con bồ câu đen,
một con công không màu
và một con khỉ không đuôi:
 
những huyền nhiệm son sẻ
trong sữa của đứa trẻ
bị chết ngạt trên giường.
 
 

Cảnh đô thị

 
Buổi sáng, cùng với nắng, những người điên nằm dài
trên những bậc cấp của bệnh xá.
 
Mặt trời dội xuống họ tất cả hơi nóng gắt:
và họ xoay trở mình, trên đá, trong lúc trông chờ đêm.
 
Đó là vì đêm đẩy họ vào bên trong:
đêm bắt buộc họ phải thở với nhiều sức lực hơn.
 
Và suốt đêm, những tiếng kêu của họ
băng qua những hành lang.
 
Ban đêm, không có ai bước vào những
bệnh xá lớn nơi, như trong một công viên,
 
giao nhau những giấc mơ của người điên.
 
 

Thời biểu

 
Gió, trong những nhà ga ở tỉnh, gây
một tiếng động tựa như tiếng động tôi đã nghe
thủa nhỏ.
 
Cơn gió này không giống cái gì hết
trong những thứ bao quanh tôi: thành phố, đường phố,
những tòa nhà, hình ảnh thoáng qua của trống không. 
 
Tuy thế, lâu lâu tôi lại dừng lại
để nhớ rõ hơn cái tiếng động
đã biến đi.
 
Xa xa, một mẩu sông đưa tôi qua
bên kia, nơi gió thổi
như vẫn.
 
Tôi ra khỏi vùng bóng để bước trên bến tàu
mà nắng chiều khiến không thể nào chịu nổi
mặc dù tôi cũng chẳng đi đâu.
 
Gió, đôi khi, chỉ muốn nói
rằng chặng chót cũng có thể là một trạm tạm ngừng
trên đường đi qua.
 
 

Bài học vẽ trong xưởng họa

 
Ở đó nơi bức chân dung quên mất khuôn mặt mà bóng
chiều đã xóa đi, tiếng nói thay thế nó và vẽ cho nó một
đường viền. Tuy nhiên, tôi không biết, có phải đó là
cái hình trông nghiêng phát sinh trong cảnh cực kỳ tăm tối này;
hay một tiếng vọng nhạt mờ của lời xưa băng qua ký ức
để cho không khí khắc ghi nó. Không khí, ấy tảng đá
trừu tượng, hơi thở tâm linh, luống ngày của
mây; hình ảnh nào đã trở thành cụ thể, trong hạn giới
của ánh mắt, để lập tức mất đi, trốn tránh, trong lớp bụi
của một cơn gió bất thần? Người ta sẽ nghe câu thơ
mà hoàn cảnh gợi ra; và có lẽ cũng linh cảm được
âm nhạc của tấm thân mà đêm tối đã thèm khát. Những
âm vận thời nghèo nàn khi vắng tấm thân ấy; một tiêt điệu
chìm dần khi những ngón tay không chạm tới làn da, khi
những vành môi không in trên những vành môi khác dấu vết ẩm ướt.
Tấm gương phản chiếu đoạn thơ ấy tôi bỏ mặc cho
kẻ nghĩ suy lần giải. Chiều hướng của âm thanh
không tương ứng với ý nghĩa của từ ngữ.
 
 

Đạo lý

 
Tôi tới trước mặt biển, những đợt sóng của biển,
những dòng nước triều mà tháng chín chọc giận, những màu xám
và những màu xanh đương lần lượt thay đổi với những màu xanh lục dị kỳ;
một tiếng nói kéo dài của khùng điên, hay của ánh mắt trống rỗng
những con cá, hay của một đề tài héo khô như rong bể
khi nước hạ; một cơn gió đã rảo khắp bãi biển,
trong im lặng của buổi chiều, hoàn lại cho những mình nước
một sự hợp nhất xưa. Biển, tuy nhiên, lại cho là
người ta quên biển. Nơi những vùng biển sâu ngủ vùi những hình ảnh
mà giấc ngủ không còn lưu trữ; những cánh tay bấu lấy
những cột buồm lúc đắm tầu. Một con tầu trừu tượng
đã chầm chậm đi qua ở chân trời mà buổi sáng không nhìn thấy,
lọt vào từ phía bên kia của trái đất, đôi lúc,
bị âm nhạc của các hải cảng bỏ quên. Bài thơ, người ta bảo tôi,
không biết tới trò tiêu khiển này: nó đã vượt qua
giới hạn của vĩnh cửu, đã khoác lên mình những chữ
của đêm tối, đã để mặc cho cái chết nhiễm vào mình.
Ở bờ biển, tôi không nhận thấy gì hết; và tôi nói thế,
chầm chậm, thì thầm lặp lại
hết mọi điều trái ngược của biển.
 
 

Trái tim bằng đá

 
Ở chốn xa kia, nơi giao nhau của những dòng sông và những con đường
dưới bầu trời bùn lầy của mùa đông, tôi nghe
tiếng ta thán của cội cây đứng sững. Ở chốn xa kia,
dẫu rằng tôi đang ở dưới một bầu trời khác, xanh và
lạnh, tôi đang ẩn trú sau tấm kính cửa
mịt mờ vì hơi nhiệt ẩm thấp trong nhà.
 
Đã nhiều lần tiếng than ấy vẳng lại
trong lúc tôi, đứng trước khung cửa,
tôi tưởng tượng cái mùa đông xa xôi này
và ngay cả âm nhạc (vivaldi — một đĩa nhạc
cũ, trước khi chấm dứt đôi chút, sẽ kết thúc
bằng một đường rạch không thể tránh) cũng không làm tôi
quên được tiếng nói nọ trỗi dậy không biết là từ đâu.
 
Cây: cái mốc ở chính giữa khoảng không gian
không biên giới giữa những con đường, những dòng sông
và những đám mây. Nó báo hiệu cho những cánh chim chót
một điểm quay về còn có thể được; mi hãy lột bỏ hết
và bằng những cánh tay héo khô hãy khiến sao cho
một trái nảy sinh từ hình ảnh cỗi cằn của mi.
 
 

Hành trình

 
Có những con mắt chỉ nhìn giấc mộng; và, khi
mộng tan biến, chúng ở lại mù lòa.
 
Có những cây cầu người ta không đi qua, vào mùa đông,
mặc dù không ai canh giữ chúng: ấy là những cây cầu
không vọng cầu, trừu tượng như một chiếc mống
và lạnh lẽo như cơn mưa lúc bình minh.
 
Một cánh đồng lúa chín;
vẻ quyến rũ thoáng qua của những ngọn hải đăng khi ban mai
chùi rửa những đám sương mù chót;
những hàng mi chớp chớp như những cánh chim:
 
những hình ảnh tôi nhớ lại
 
và hoàn trả tôi đôi mắt
tôi sử dụng để nhận ra lối vào thành phố.
 
 

Hình ảnh

 
Người đàn ông nói một mình tại nhà ga trung ương ở munich
ông ta nói thứ tiếng nào? Họ nói thứ tiếng nào, những kẻ lạc lõng như thế, trong
những hành lang của những ga đường sắt, ban đêm, khi không còn một
chòi nào bán báo hay cà-phê? Người đàn ông nọ ở
munich đã không xin tôi một điều gì, ông ta cũng không có cái vẻ của
một người nào đó cần một điều gì,
     nghĩa là, ông ta có cái vẻ
của một người đã tới được tình trạng cuối cùng này
tức là tình trạng của những kẻ cũng chẳng còn cần đến chính bản thân họ.
     Thế tuy nhiên,
ông ta đã nói với tôi: bằng một thứ tiếng không tương ứng với
bất cứ một ngôn ngữ nào dẫu là giữa những kẻ có thể diễn tả một cảm xúc
hay một tình cảm, tự giới hạn vào một chuỗi âm thanh mà lý sự
bị đêm tối làm nghịch lại. Phải chăng lúc đó ông ta đã hỏi tôi là dầu sao đi nữa tôi có hiểu
tiếng nói của ông ta? Hay ông ta muốn cho tôi hay tên ông ta là gì, ông ta từ đâu tới
— vào giờ này giờ mà không còn một chuyến tàu nào
tới hoặc đi? Nếu như ông ta đã nói với tôi điều đó,
thì hẳn là tôi đã trả lời ông ta rằng cả tôi nữa tôi cũng chẳng đợi chờ ai,
chẳng tới cáo biệt ai, ở cái nhà ga
nước Đức này; nhưng hẳn là tôi cũng đã có thể nhắc nhở ông ta rằng có những cuộc gặp gỡ chỉ tùy thuộc
sự tình cờ may rủi, và không cần tới một sự sắp đặt trước nào hết
để hoàn thành. — Ấy chính những lúc đó là lúc các thứ bói toán tử vi đẩu số có ý nghĩa;
và chính cuộc đời, ở bên kia chúng, thuận cho nỗi cô độc một vận số xô đẩy
ai kia tới một nhà ga vắng vẻ, vào giờ mà người ta không còn mua
nhật trình, không còn uống cà-phê, và như thế hồi phục đôi chút hồn thiêng còn sót lại cho thân xác
vắng mặt — những gì cần để tạo lập một cuộc đối thoại, dẫu rằng
cả hai chúng tôi đều là chiếc bóng của nhau. Vì rằng vào những giờ nào đó trong đêm tối,
không ai còn có thể đảm bảo chính thực tế của mình, ngay như khi kẻ kia,
là tôi lúc đó, đã từng là chứng nhân của mọi nỗi đơn độc của thế giới
mà người ta lôi kéo vào một cuộc lang thang câu cú hoàn toàn vô nghĩa nơi một nhà ga chết.
 
 

Lời châm biếm

 
Bông hồng — tiếng rì rào của màu sắc
trong một cơn gió —
không tóm lược vào đóa hoa:
 
trực giác của suy tưởng
tưởng tượng ra mùi thơm,
 
nó là mây và chim,
 
sự suy đồi của một ngọn lửa mơ hồ
hướng đạo con thuyền trừu tượng
(sứ giả bất động và mau chóng)
 
trong run rẩy của một vần thơ
ngợi ca khoảnh khắc đối nghịch
của trọn cuộc đời bông hồng.
 
 

Chuyển tiếp

 
Có một ngày kia, những đám mây biến mất khỏi
bầu trời, ánh sáng khiến phụ nữ nhợt nhạt
hơn, người ta nghe thấy biển dưới những
tiếng động thường ngày. Có thể nói,
chả có gì khiến ta dự đoán được sự đổi thay này:
cả thời tiết âm u của hôm trước,
lẫn vẻ rầu buồn của nguyệt kỳ; và duy
một tiết điệu linh hoạt hơn của câu cú,
như màu xanh của những chiếc lá đầu tiên,
gợi ra sự thay đổi. Mi đừng bước
vào nhà, mà không hít thở trước đã
làn khí mà những đợt gió đã đem lại,
tải nặng phấn hoa, để
khiến trí tưởng tượng cằn cỗi sinh sôi nẩy nở.
Mi hãy ngồi trên ngưỡng cửa, như những
người già, và để mặt trời gột rửa
cho mi mùa đông và đêm tối.
Buổi chiều sẽ tới không chậm trễ, đem theo
làn hơi đầu hết này của
mùa xuân và ánh ngời của bài thơ.
 
 

Hình thức

 
Y tìm kiếm một bút pháp — một điều gì đặt trên
bài thơ như chiếc nón chống lại mưa hoặc
nắng. Y muốn ăn vận cho ngôn ngữ, đoạn thơ, câu thơ
với vẻ thanh lịch khác thường của người đi dây. Y
lớn tiếng đọc thơ của những người khác như thể ấy chính
là thơ của mình; và, tuy vậy, y vẫn không sao thoát khỏi
cái «an phận thủ thường», cái giọng điệu trầm trầm thấp kém tiêu biểu
cho những kẻ chỉ biết học đòi. Một đêm, y lợi dụng
sự cách biệt của đường phố để tự quan sát chính bản thân y trong khung kính của một cánh cửa. «Mi
là ai?» y hỏi hình ảnh mình; và y đã không lấy làm ngạc nhiên 
với sự im lặng của câu đáp. Chẳng phải là y đấy ư,
kẻ, rốt cuộc, đã không thể giải thích được bất cứ một điều gì
của cuộc sống? Y xây dựng những ảo mộng; và để chúng
tiêu tan thành mây khói mà không hề bận tâm ghi lại
hình ảnh chúng — tóm lại là những gì làm thành
bài thơ. Và, mùa đông đã đi qua với sự say sưa của
những dòng nước; một mùa xuân đã đem lại cho y cái tên
mà đã từ lâu y không còn quen gọi; tháng bảy và tháng tám
y mệt lả trong sự ngập ngừng của những buổi chiều. Viết
để làm gì? Thế nhưng, những đám mây mùa thu đã xuống
ngang tầm các mái nhà; ngày ngắn hơn;
gió bắc tới với một lối ngâm nga của những chiếc
lá xưa. Hãy nghĩ rằng những người chết tới viếng thăm mi;
hãy mở trang sách cho họ; và khám phá ra rằng mi cũng là một kẻ trong bọn họ,
phủ trùm một tấm khăn liệm mù sương và tu-từ-học.
 
 

Về một đoạn của Tacite

 
Binh đoàn thứ mười một đã nổi loạn; những
đám cháy ghi dấu quân man di đã đi qua. Lúc ấy
hoàng đế triệu tập quanh ngài một nghị hội
các nguyên lão nghị viên và các nhà hiền triết. Trong cuộc gặp gỡ, một đám đen nghịt
những chim làm bầu trời tối lại; một con bò mộng bị cắt họng
lật đổ ban thờ tế lễ; và một kỵ sĩ đã từng giết
chính người anh em của mình trình diện để đòi phần thưởng. Không
thể nào định đoạt, diễn tả trên khuôn mặt từng biến động mới
và khỏa lấp những dấu hiệu này bằng chén rượu quá lạm,
ngài khinh miệt các ý kiến. Trở lại La-mã, ngài làm vui
cuộc thối lui bằng những trò chém giết vô ích và những việc tàn bạo
gớm ghiếc. Bị hết thảy bỏ rơi, ngài đã phải chịu
hạ nhục và khổ hình; và lời nói duy nhất
người ta đã giành được của ngài là lời ngài nói với viên quan bảo vệ quyền lợi dân kẻ
đã xỉ nhục ngài: «Tuy vậy, ta cũng đã từng là chủ ngươi.» Rồi
ngài ngã quỵ dưới những đòn đánh đập; và dân chúng
vứt xác ngài cho lũ chó trong thành.
 
 

*  *  *

Em là ai, barbara, kẻ ở lại
trong một bài thơ mà người ta học tập và ngâm nga
ở nhà trường,
— em kẻ đã tự hạn chế vào việc được một nhà thơ
yêu mến, nhà thơ ấy, có lẽ, đã chẳng cho em
một điều gì khác để đổi lại mối tình này
ngoài một bài thơ mà em, có lẽ,
em cũng chẳng bao giờ được nghe? Em là ai,
ôi người đàn bà thực hơn cả nhà thơ nọ
kẻ đã ngợi ca em, người đàn bà mà không một ai
biết được điều gì hết — nếu đó không phải là
người đã yêu em, và đặt em vào
bài thơ này nơi em vẫn còn sống, và thở,
như vào ngày người đã viết ra nó,
khi nhớ tới thân hình em và đôi
môi em, và những ngày, hay những đêm,
người đã ở bên em? Em là ai,
người đàn bà có thật và được mơ ước kẻ cư ngụ
nơi hết mọi bài thơ mà bài thơ này
đã gợi hứng, và nơi hết mọi giấc mơ
đã tìm thấy nơi barbara này một hình ảnh
chính xác và dứt khoát? Em hãy trở lại,
trong những vần thơ này, để chúng tôi được thấy
khuôn mặt em, và hãy cho chúng tôi hay tên em — tên đích thực
của em, chứ không phải cái tên mà người thi sĩ
đã bày ra để gọi em trong một bài thơ
chỉ giữ bí mật về riêng em;
và kế đó, em hãy ngủ, hãy quên
những gì người ta đã nói về em, cả những lời bình giải
mượn em làm cái cớ, lẫn những hình ảnh
nơi mỗi lần em đã lại mất thêm
cái hình ảnh độc nhất này, hình ảnh em.
 
__________
* Bài này có tựa đề là «Camonienne». (người dịch)
 
 

Bi ca

 
Tôi đã nghe nói ông không còn lui tới với một ai
mấy lúc sau này; ông một mình lội ngược con đường lên mãi tới quán nước,
và không có gì khiến ánh mắt ông xa rời một sự chăm chú cột chặt
vào đâu đó, hay một suy tưởng mà ông giữ lại cho
riêng mình. Cuộc đời luôn luôn là một thực tại mong manh
đối với kẻ nhận thấy mùa thu và những cơn gió đầu tiên
từ phương bắc, những cơn gió mang tới những tầng trời trong trẻo và những đám mây lạnh lẽo,
và làm giá buốt tâm hồn không quen với cảnh cô quạnh. Tôi đáp lời ông:
«Thơ không đem lại câu giải đáp cho sự bất tiện cuối cùng này
của con người.» Ông không nghe thấy tôi, lúc này khi chính tên ông
đang phai mờ trong cảnh đều đều tẻ nhạt của những buổi chiều và những mùa chậm rãi. Duy
một cánh chim xưa băng ngang, đôi lúc, bầu trời quên lãng
nơi bóng ông thiu thiu ngủ; để cho một lằn cánh vỗ
tựa một dòng thơ, làm thức dậy trong khoảnh khắc hình ảnh ông.
 
 

Bữa điểm tâm

 
Buổi sáng, khi tôi đi kiếm bánh mì,
có bánh hay không, nhờ làn khói mà tôi biết;
thế nhưng có hay không có khói, tôi vẫn đi.
Biết đâu người ta đã lại chẳng để quên
một ổ bánh đã ra lò hôm trước; hoặc
người bán bánh mì đã nhớ — và giữ lại cho tôi.
 
Tiệm bán bánh mì ở dưới đó, ở góc phố,
và ngày trước có một cô con gái
mà mọi người đều dòm ngó — vì nàng cười.
Cho tới nay vẫn không một ai biết được vì cớ gì mà nàng cười,
người thiếu nữ cư ngụ ở hàng bánh mì ấy;
và ít ra là nàng có nghiêm trang — hay là không?
 
Và mỗi khi tôi đặt cái túi lên quầy hàng,
tôi bao giờ cũng năn nỉ người ta tính tiền bánh.
 
 

Hình ảnh: phác họa và giải thích

 
Một giấc mơ: đó là những gì sự sống nhượng cho kẻ
tìm kiếm nó, trong nỗi âu lo mà, hôm nay, tát cạn một hôm qua
đang mờ đi và một ngày mai có lẽ
sẽ không bao giờ tới. Những hình ảnh không sao
ngắn gọn được: ấy những điều lóe lên như ánh chớp không thời gian cũng chẳng có nơi chốn,
một ngẫu hợp giữa những xúc cảm và một thân xác khao khát chúng mà không rung động vì chúng.
 
Nhưng không có gì đáp trả điều bí hiểm của đêm đêm:
những đóa hoa bị bầm dập trong câu thơ; một hoàng-
hôn của những tuyệt đỉnh núp bóng thần linh; âm-
nhạc không ngừng của ký ức. Ấy là lúc em
đến: hình người với đôi mắt bị chà đạp
vì ẩm thấp . Tôi chạm  tới những ngón tay rêu của em; tôi tháo gỡ
sợi giây leo của tóc em. Không một
nụ cười nào thắp lại tro của môi em.
 
 

Bài thơ

 
Dưới mặt đất dòng sông không lẩn tránh.
Tôi không rõ có phải cái cây đã tìm ra nó
với chùm rễ; có phải không gian đã chiêm ngưỡng
cái vực thẳm si tình của đêm tối; có phải cuộc đời
đã chuẩn bị lòng sông trong một cái tên
vấy cẩm thạch.
 
Những vòm tăm tối của trời có
những con mắt xanh, các vì tinh tú đã hóa điên
vì nỗi quạnh hiu sáng suốt, một khối nặng
của hư vô khi trăng ló ra từ cửa miệng
của vô tận — để lánh mình trong đôi cánh tay
của khoảnh khắc.
 
Mi hãy bỏ trốn buổi bình minh đã cướp mất của mi hơi thở;
và hãy giữ lại cho mi những suy tưởng mượn của
dòng thác ngầm. Tình yêu nghiến ngấu
xương mi với sự thèm khát của con cọp
đeo trong da thịt mi. Hãy cho nó một động chạm thể xác,
tiếng thì thầm chậm rãi của những chiếc bóng,
ký ức không đáy
của những vành môi.
 
 

Cảnh thôn dã

 
Trong những nghĩa địa ở tỉnh, cánh cổng bằng sắt
kẽo kẹt với một sự chậm rãi của thiên thu. Buổi xế trưa, những người nghèo
tới, cái nón thủng cầm tay, họ trông đợi
một vài người khách viếng thăm. Những người chết thời không còn tham dự gì nữa hết,
nằm trơ trên giường cỏ. Và kẻ nhìn trời
sẽ bắt gặp một đàn chim bay thật thứ tự mà mùa thu xua đuổi
về phương nam. Trong lặng lẽ, chúng nhiễm độc chân trời
bằng nỗi bất an của chúng. Thế tuy nhiên, nếu ta kêu, ta
sẽ thấy chúng gần như ngập ngừng: như thể chúng đợi chờ
dấu hiệu này để quay về với tổ ấm đầu tiên
và ngủ yên ở đó. Ấy là điều đã xẩy ra cho những kẻ đang nằm dài
dưới tảng đá: họ đã lộn đường trở lại khi cuộc đời
kêu gọi họ; họ đã không màng đạt tới cái tuyến đường phân ranh
trái đất làm hai. Đôi khi, một cuộc viếng thăm
không thể bóp nghẹt một tiếng rên siết mạnh hơn. Một cái cây non rùng mình
trước gió lạnh mà đêm tối đem lại. Tuy nhiên
có những kẻ tin rằng các hồn thiêng phản ứng lại
những kích thích nhỏ bé này; và chỉ cần những giọt lệ tuôn ra
để cho, tựa một cánh chim hối tiếc, cuộc đời lại trở lại
giữa mùa đông.
 
 

Văn xuôi mùa đông

 
Khi, vào lúc năm tàn, những con đường âm u hơn
dưới vòm cây lá, và khi cơn lạnh rảo khắp những con đường đất dành cho
khách bộ hành, tôi ngồi với em trên một chiếc ghế dài mà gỗ mục
chứng tỏ năm tháng phôi pha. Không một ai trong chúng ta, tuy vậy, lại nhìn ngắm
phong cảnh; và nếu, ở nơi xa, bức tường trắng của một nghĩa-
trang tương phản với những tảng đá và đám đổ nát ngoài đồng thời không phải
cảnh tượng ấy khiến chúng ta bận tâm: thời tiết thời phải, và bầu trời
đang bị mưa đe dọa — buổi sau trưa khởi sự như thể
trời đã tối — phản ánh trong những câu nói của em nặng nề như
mùa đông này. Kế đó, khi tìm lại được những con đường quen biết
hoàng hôn buông xuống cùng vĩnh cửu — và tôi nói với em về ảo tưởng
của những câu nói, về phán đoán tăm tối của những tình cảm, về niềm vui
bị đam mê làm sai lạc. «Em đừng lẫn tinh thần với
cảnh vật», tôi bảo. Cũng vậy, nếu tôi đã trở lại với em ở nơi này,
như ở một hạn giới mà từ đấy không có gì trở lại, tôi sẽ ra sức để trong
mắt em không tắt đi hình ảnh ban đầu; và để những ngón tay em
không xé nát tấm màn chân trời, bằng một cử chỉ đột ngột,
cắt đứt dòng quá khứ, ký ức của một khoảnh khắc, sự do-
dự còn tồn đọng ở mỗi lần thay đổi mùa và tình ái.
 
 

Động vật học: con sáo

 
Trong lồng, con sáo cái mỏ không vàng hơn
bên ngoài. Nó dồn đống lại một góc,
tội nghiệp con chim, và dường như hổ thẹn;
— dẫu rằng nó có ở đây là do lỗi của kẻ đã đặt nó vào đó,
biết rằng một con sáo không phải từ trời rớt xuống.
 
Có những con chim như thế đó, mà ai ai
cũng đặt vô lồng, dẫu rằng cái mỏ thời vàng.
Chúng không hót. Không bay. Không nói.
Ấy là những con chim mù lòa
với sự kín bưng của những lời sấm và câm nín
với sự sáng suốt của các nhà tiên tri.
 
Hoàn toàn do sự tình cờ, tôi đã mở
cửa lồng. Và nó ở lại nguyên đó, không ra
cũng chẳng vô.
 
 

Toán học

 
Các người đừng nhầm lẫn khi đếm những chiếc lá:
 
mùa đông này, không có đủ lá
trong cây cho những ngón tay của các người.
 
Các người hãy đếm lá cho đến khi làm những ngón tay nhỉ máu.
 
Cây, từng cội, trút lá
theo nhịp đếm của các người.
 
Những cành, những thân, những gút mắt ẩn dưới
lớp rêu, cả đến những mầm xanh non cũng ló ra
dưới những sắc xanh già.
 
Những chiếc lá tràn đầy.
 
Người ta bảo vào mùa xuân, mỗi chiếc lá này
sẽ là một đóa hoa
 
Lúc đó, sau khung cửa sổ, hay những tấm kính cửa lớn
ở hàng hiên, tôi sẽ đếm từng chiếc lá này — để cho
em có thể biết em sẽ hái được bao nhiêu đóa hoa.
 
Thực ra, tôi luôn luôn nhầm lẫn khi tôi đếm những chiếc lá: nhất là,
vì,
khi trời mưa, tôi thường lẫn những giọt nước bám vào kính cửa
với những chiếc lá nho nhỏ trong suốt.
 
«Mưa là một cây non», em bảo tôi.
 
Tôi không biết mưa có nở hoa; nhưng những chiếc lá của mưa chồng chất
trong ký ức tôi; và rải
một tấm thảm dầy những chiếc lá trong suốt.
 
 

Nơi nhận ban đêm

 
Hãy viết rằng ánh sáng gây xáo trộn cho mi;
và rảo khắp hình dạng phương tây, khi mặt trời
chưa nghiêng bóng, là một sự thuận tình của
thần thánh. Tuy nhiên, một chiếc bóng
bắt đầu vấy dơ những hòn núi đá xóa trắng
bọt biển. Một con chim không còn cất tiếng kêu
át tiếng gầm của sóng dội. Những ngọn gió ngập ngừng
trong trông chờ nơi nhận ban đêm.
 
Nếu người ta không nhìn về đất, về tấm nền
núi non mà ánh chiều tô màu rực rỡ, thời một vẻ sáng ngời của biển
hòa lẫn với ánh mờ le lói ban mai. Tuy vậy,
một cánh buồm xa xa xen vào giữa cái ấn tượng ban ngày;
và vẻ sầu muộn của nó trút một thoáng rùng mình xưa
lrên đôi mắt, làm tối lại hình ảnh. Suy tưởng
nhận thấy khắc giờ tạm bợ; lý trí
áp đặt quyền hạn.
 
Hãy nhìn lại phía sau, về nơi chốn xuất phát
nỗi bất an của hoàng hôn. Sửa câu thơ đầu tiên này lại
với sự quân bình của bóng tối.
 
 

Sửa bút pháp

 
Rượu trở chua trong đôi tay tàn nhẫn của buổi xế trưa
khi mặt trời uống từng ngụm lớn.
Và tro tiêu nốt một hơi thở rền chót trong những bình tro
của hình ảnh: đặt trên bàn đá hoa lạnh lùng
của tâm hồn một người đàn bà yêu mến.
Ta đã đề tặng nàng biết bao bài bi ca! tôi
nhớ tới nàng khi đêm đã vào khuya
ở hành lang lặng lẽ của con tim,
trục ra những nhịp điệu và tình cảm. Tôi kêu lên cùng nó:
«Hãy cho ngực ta sự đều đặn hối hả của đồng hồ!»
— và bóng tối bóp nghẹt tiếng tôi.
Ở ngăn tủ nào tôi đã xếp chén rượu ấy?
Chiếc khung nào đã khuôn lấy bức chân dung tôi đã quên?
Trong lúc ấy, bài thơ vẫn ngợi ca
tình ái, cuộc biểu dương ngây ngất của quá khứ,
những tiếng cười mà thời gian không còn giữ lại.
Một cơn gió quất mạnh vào câu thơ không chịu khuất phục
trước cuộc đời; cắt ngang nó ở giữa đoạn,
ngắt đứt nhạc điệu của nó.
Không một nghệ thuật nào còn tái tạo được vần thơ ấy; và chính người thơ
cũng khăng khăng gạch bỏ.
(Có vần thơ nào đáng giá một khuôn mặt mà ta đã yêu?)
 
 

Hiển linh

 
Sự chọn lựa một con đường phải chăng là không thể sửa lại được?
Có một cội cây không cành lá — ở ngã tư nào?
Giấc mộng tựa như thực
và vầng trăng lấp lánh như một vầng thái dương
băng qua cuộc đời của con người — ra sao?
Tôi không bao giờ nghe những câu hỏi đó, cũng chẳng
biết chúng có thể có những câu trả lời nào. Những từ
soi rọi, như những ngọn đèn cũ kỹ,
tắt đi ở giữa khoảng hành lang này. Duy,
ở mãi sâu, một khuôn mặt vẫn duy trì một ánh mờ nguyên vẹn,
trong một phản ảnh của tấm gương: nhưng đâu là
thân hình tôi đã yêu, đôi cánh tay giang ra
trong một cảnh say sưa tuyệt diệu lúc ban ngày?
Một chút bụi sáng rỡ còn in mãi trong ký ức.
 
 

Bài thơ

 
«Gió thổi quá mạnh, em bảo,
làm như có một vị thần đã thổi từ chân trời»;
và luồng hơi ấy đã bứt những lá cây,
xua đuổi những đám mây, lọt vào những khung cửa của mộng,
xô đẩy những hình ảnh và câu cú. Thực ra,
tôi không biết phải chăng tiếng nói đánh thức chúng ta, ban đêm, có
nhắm tới một người nhận nào riêng biệt. Mặc dù tôi đã trỗi dậy,
rình rập hành lang, hé mở những tấm cửa kéo bằng gỗ,
vẫn không có một ai xuất hiện từ bóng tối. Những ngôi nhà cũ, ở tỉnh,
có những kẻ cư ngụ thật bất ngờ: những khuôn mặt hòa lẫn
với mù sương của những tấm gương; những cánh tay mà rêu
của bóng tối đã xoi mòn.
 
 

Mưa

 
Trời mưa như vẫn thế. Và,
như vẫn thế khi trời mưa,
thiên hạ ẩn trú
(những kẻ lúc ấy không trông đợi
trời mưa);
hoặc họ chỉ mở
ô dù — ưa hơn cả
là với chốt mở
tự động. Là vì, khi
trời mưa, chúng ta hết thảy đều phải
làm một điều gì đó: cả đến
chúng ta, những kẻ ở trong
nhà. Người này thời bước tới
bên cửa sổ, trong khi bàn tán:
«Gớm mùa đông!»; kẻ kia
thời ngồi xuống, một tờ giấy
ở trước mặt: và họ viết
một bài thơ, như bài thơ này.
 
 

Bài tập vẽ bản đồ

 
Tôi không biết tại sao chúng ta nhớ tới một vài nơi,
đôi lúc, ban đêm; cũng chẳng rõ tại sao chúng ta cảm thấy sự thiếu vắng
của những nơi ấy — trừ phi là vì đột nhiên, chúng ta thiếu
một điều gì đó trong đời. Phải, ấy chính là vào lúc đêm bắt đầu rơi,
vào lúc một tình cảm xưa cùng với vầng dương hạ xuống chân trời,
vào lúc đôi mắt không còn nhìn thấy hiện tại, ánh ngày,
khuôn mặt chất vấn chúng ta, mà một vài hình ảnh trườn ra
có lẽ từ trí nhớ, có lẽ từ sự lãng quên thay thế nó,
và tạo thành cái khung cảnh dường như chỉ đợi chờ
một cử chỉ để sống động lại; và tôi không làm gì hết, và nó biến đi.
 
Xứ sở nào đã thoát ra khỏi tấm bản đồ như thế; và đã tan đi trong một tập bản đồ
chủ quan nơi các biên giới không đòi hỏi gì hơn là tấm thông-
hành mà cuộc đời trao cho chúng ta? Nó đã trốn đi cùng với tôi, ở đó, ở bên trong;
bản thân tôi tôi cũng không biết mình có ở lại hay bỏ trốn ở miền đất của không ai này,
với một chiếc bóng hòa lẫn với tôi đuổi theo sau. Tôi không
nhìn bóng; tôi không nghe lời cảnh cáo cấm cản tôi tới bờ
bên kia, nơi em đang chờ tôi, như thể hôm nay vẫn là hôm qua,
hay như thể gió đã ngừng thổi vào mùa xuân tăm tối
mà tôi đã thừa hưởng khi em mất. Tôi ngụ nơi cái màu sắc quá cao xa của những
cuốn sách đã khép lại này; và tôi sống giữa những màu xanh, màu lục, màu hạt dẻ
đoạt của đất bằng đôi mắt mà tôi đã bỏ mất nơi khuôn mặt khuyết vắng của em.
 
Tôi đã mất nhất là ý niệm về những khoảng cách: giữa em và tôi, giữa thời 
em và thời này khi tôi thức dậy, với những mảnh
mây tơi tả trong không khí và tiếng động của một đô thị thường ngày. Ngay như
khoảng trống rỗng mà tôi mở ra trong đôi tay tôi có là một dấu vết bước chân em...
hoặc như làn nước đen của dòng sông đêm tối có hệt như làn nước trong ánh mắt
ngẫu hợp của chúng ta... Tuy nhiên, tôi đã gỡ mình ra khỏi em dưới buổi sáng
chùm hụp; và tôi nhận thấy mình đang vẽ những đường chỉ tay tôi,
cả những đường cắt ngang ở cuối những ngón tay.
 
 

Credo *

 
Một vị thần bị chết đuối bước lên những bậc cấp xưa
tay ôm đầu. Ông có một cái đuôi cá;
và những vảy cá che phủ đôi mắt ông, đôi mắt ấy,
ngày trước, đã từng thấy một bầu trời vàng. «Cuộc sống
đã hoàn tất; và cái chết, cũng vậy, không bao giờ là một
cuộc sống khác», ông nói với tôi khi đi ngang qua, như thể ông muốn
để lại chúc thư. Tôi ghi nhận những lời ấy
để có thể dùng làm mục tiêu
trong cái cầu thang đêm tối này; và để chúng dẫn tôi
tới lối ra, nơi ta nghe tiếng ngọn triều lên.
 
Nếu có gì dùng làm vật che chở cho tôi,
tôi, kẻ đã bỏ mất vị thần này, thì đó là tấm bảng hiệu xanh
của cái quán rượu mà những cánh cửa xoay đang mở ra
trong đầu óc tôi. Tôi chậm rãi bước tới quầy hàng — với
sự chậm rãi đủ để quyết định giữa rượu gin và
bia. Và đặt một cái đĩa cũ lên
máy hát, tôi nghĩ tới những cánh tay bại hoại
của con cá. «Tôi đã tin ở người, hỡi thần linh
bụi bặm! Tôi đã liếm muối những mình thánh của người
như thể tôi bóc rời một cuốn kinh nguyện...»
 
(Vị thần đã biến mất, trên cao đó, nơi vực thẳm
của tinh tú. Có lẽ ông cũng chẳng bao giờ nhìn thấy tôi.)
 
_________
* «Tôi tin». (người dịch)
 
 

Nhân loại học

 
Con người không có sự rắn chắc của nham huyền vũ:
kể như đá, y không sinh ra từ một miệng núi lửa,
không cấu tạo đảo,
không làm biển sôi sục với những vòi nước lớn
vọt lên trời.
Con người, như cái cây non,
cong oằn trước cơn gió lốc đi qua,
run rẩy những khi thay đổi
thời tiết — như lúc này,
khi những đám mây đã mang lại
một thoáng rùng mình của mùa thu.
Con người này có cái đáy màu xám
của những đám mây đó, cũng một ánh mắt đe dọa,
một sự khăng khăng nhất mực ở lại của chúng — dẫu như
y biết rằng luồng gió đầu tiên
sẽ xua y khỏi chân trời. 
 
 

Những điều bí hiểm (2)

 
Ở honfleur khi
trời mưa, những con tàu
có xanh hơn?
 
Ở đan-mạch, không
hamlet, các lâu đài
có mang một dấu hiệu khác?
 
Đừng trả lời
những câu hỏi không có
câu trả lời;
 
các dòng sông không vì thế
mà chảy
mau hơn.
 
 

Ngày thứ bảy

 
Không có gì nhúc nhích. Những kỷ niệm gặm cỏ trên những đồng cỏ
của kỷ niệm. Xa xa, cánh cửa sổ mở ra
để ánh sáng ban ngày ùa vào: và duy một lớp sương mù
trắng tràn ngập căn buồng, nhẩy qua hành lang,
tiến tới mãi những bậc thang mà ai đó đã bước xuống, ngày xưa,
khi biết rằng không một ngưỡng cửa nào chờ đợi mình.
 
Tôi chỉ tìm thấy một lãng quên mù lòa trong túi;
một ngọn lửa đã thiêu hủy chân trời, một khát vọng phi lý
rảo khắp đám tro, với những ánh mờ của ngọn lửa. Dẫu vậy,
nếu không có gì đem lại cho tôi mùi một khu rừng vào mùa xuân,
khi không khí khô ráo và một sự trong sáng nguyên thủy
kêu cầu vẻ huyền bí của ban mai, tôi vẫn nhận thấy
rằng mình đã hủy hoại chiếc lá ép khô rơi xuống từ cuốn sách
khép lại đã từ lâu: và một lớp bụi vô hình nối với
những vết tích mà thời gian đã đem lại cho tôi.
 
Em, sự hiển linh sừng sững, em xen vào giữa
những hình thù của buổi sáng trong nhà. Bóng em
hòa lẫn với những đường viền quanh của một tập đồ bản
thân thuộc, dẫn đưa tôi trong lằn nước của một cuộc tình
xưa — như thể cuộc hải hành này có những bến cảng
và những hải đảo...
 
Tôi kêu gọi em. Một tiếng thì thầm của ánh sáng,
đôi lúc, trùng với ảo tưởng của một lời
đáp lại.
 
 

Khu rừng

 
Những bóng tối của khu rừng đều
xanh lục (mặc dù chúng là
những bóng tối).
 
Cần phải hiểu:
tất cả những gì lấp lánh, mà không
để lộ,
trong bí ẩn của những khu rừng.
 
Tôi băng qua khu rừng
trong một giấc mộng
cũng xanh như bóng tối
bao quanh nó.
 
 

Cảnh ngoại ô

 
Tôi đã thấy, ở một lối ra khỏi zurich, một người
ăn mặc đồ đen. Từ phía bên này zurich
người ta rảo bước không lần lữa; và những ngôi nhà
âm u và xám tựa như những nấm mồ, mùa đông,
khi tuyết chồng chất trên những vỉa hè,
và khi từ trên trời buông xuống một im lặng nặng nề vì lạnh lẽo.
 
Người đàn ông mặc đồ đen nọ đã đem theo vẻ huyền bí. Không biết
ấy là vẻ huyền bí của ông ta, hay của khu vực này của thành phố,
với những con đường tầm thường và những màu sắc thảm đạm? Bước chân ông
nghe không rõ; dáng ông đi phân biệt ông
với những tạo vật phù du đang trên đường lần về một lãng quên
thường nhật: một con chim người trong khung cảnh trống rỗng.
 
Thấy ông, người ta có thể tự hỏi ông đi đâu,
là vì ông bước thật chậm rãi, định mệnh nào đang xô đẩy ông. Riêng ông
ông cam đành chờ cho đèn đỏ chuyển qua đèn xanh,
ở lối đi dành cho khách bộ hành. Đối với ông chả quan trọng gì
biết được ai kia đang theo rõi mình sau những khung cửa, đang ngạc nhiên
vì sự có mặt của ông trên đường phố. Mùa đông không phải là mùa
người ta nghĩ tới cuộc sống của ông; và nếu như tuyết có đe dọa, thì
bầu trời cấm cản một người dừng lại trên đường.
 
(còn một kỳ)
 
---------------------------
Ghi chú của người dịch:
NUNO JÚDICE sinh ngày 29. 04. 1949 tại Mexilhoeira Grande (Algarve), học ngữ ngôn học «la-tinh» ở Lisboa, tốt nghiệp năm 1974, là một trong những nhà thơ sung mãn nhất của Bồ-đào-nha hiện nay.
 
Ông là nhà phê bình văn nghệ (1969-1972) thuộc bộ biên tập tạp chí O Tempo e o Mondo, đặc biệt quan tâm tới trường phái Hiện đại Bồ-đào-nha, hợp tác vào việc in lại các tạp chí của trường phái này như: Orpheu, Athena, Contemporânea,...
 
Từ 1985-1991, ông sống tại Berne, Thụy-sĩ cùng với vợ và ba người con. Trở lại Lisboa với cấp bằng tiến sĩ về văn chương tỉ giảo (1989), ông trở thành giáo sư tại Đại học mới của Lisboa nơi ông hiện dạy học.
 
Tác phẩm của ông gồm thơ, truyện, kịch và tùy bút. Riêng các thi phẩm (1972-1996), đã lên tới 15 cuốn, nhận được nhiều giải thưởng văn chương ở Bồ; và nhiều tập đã được dịch ở Pháp, Tây-ban-nha và Ý... Từ 1996, ông thành lập và điều khiển tạp chí thơ Tabacaria, do Casa Fernando Pessoa xuất bản ở Lisboa. Ông còn là tùy viên văn hóa tại sứ quán Bồ-đào-nha ở Paris.
 
Trong cuốn Văn chương Bồ-đào-nha do Georges Le Gentil và Robert Bréchon biên soạn [La littérature portugaise (Editions Chandeigne, Paris, 1995)], Bréchon đã ghi nhận ảnh hưởng thơ lãng mạn Đức (Hölderlin) cũng như của tư tưỏng tiền-Socrate và thánh kinh đối với Nuno Júdice. So sánh với các nhà thơ Pháp, Bréchon đặt thơ của Nuno Júdice ở giữa «tiếng hát Orphée» của Pierre Emmanuel và sự «suy ngẫm về bản thể» của Yves Bonnefoy. Theo Bréchon, thơ Nuno Júdice diễn tả «sự vỡ mộng hay sự tỉnh ngộ»... «Những ẩn dụ của ông không phải là những món trang sức mà là một ngôn ngữ thứ nhì (...) Thứ thi ca này, để nói sự sống và sự chết, sự hiện diện và sự vắng mặt, thèm muốn và quên lãng, ngày và đêm, đất và trời, vô tận và hạn giới, nghĩa là tất cả những gì là đối tượng của suy tư triết học hay thần học, rốt cuộc chỉ nói về chính thơ.» Nuno Júdice đã theo «con đường của Orphée, con đường lao sâu vào miền bóng tối»...
 
Tuyển tập này, gồm 84 bài trích từ hai thi phẩm chính yếu của Nuno Júdice: Um Canto na Espessura do Tempo (1992) và Meditação sobre Ruínas (1994), dịch theo bản Pháp văn của Michel Chandeigne (Nuno Júdice, Un chant dans l'épaisseur du temps (Poésie / Gallimard, Paris, 1996). Kính mời bạn đọc xem thêm trích đoạn bài nhận định của Nuno Júdice về «Ngôn ngữ thơ» (1994) đăng song song trên Tiền Vệ.

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018