thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Hai mươi nhà thơ Ba-lan hôm nay [16-20]
(Diễm Châu giới thiệu và dịch)
 
Muốn có một trái tim, ta cần phải sử dụng nó.
CYPRIAN KAMIL NORWID (1821-83)
 
        Trong những ngày tháng qua, trên Tiền Vệ, tôi có may mắn được giới thiệu vắn tắt với bạn đọc một số các nhà thơ Ba-lan. Hiện nay đã có thể nói rằng các nhà thơ ấy (kể từ Stanislaw Baranczak trở lên) là những người đã thành danh, những «tên tuổi» của thi ca Ba-lan ở thế kỷ XX. Tiếp nối công việc trên, hôm nay, tôi lại được hân hạnh đề nghị với quý bạn đọc một số các nhà thơ khác của Ba-lan. Những người kế tiếp này là những nhà thơ còn trẻ hoặc rất trẻ mà tài năng vừa bừng nở, và có lẽ, đối với một số nào đó, còn chờ thử thách của thời gian...
        Có lẽ không phải tất cả thơ Ba-lan ở thế kỷ này đều nhằm trả lời một vấn nạn mà Czeslaw Milosz đã nêu ra hồi đầu thế kỷ: «Thi ca nghĩa là gì khi không cứu được quốc gia, dân tộc?...», nhưng, ở vị trí «địa lý chính trị» đặc biệt của Ba-lan, phải khách quan nhìn nhận rằng «sử tính» là một điều hết sức «thiết thân» đối với các nhà thơ đã sinh, sống trên đất nước này hoặc đã phải xa lìa quê hương.
        Các biến cố đau thương diễn ra ở Ba-lan – Ba-lan là ở đâu? – đã làm chứng cho điều ấy. Từ 1948 đến 1989, một quan niệm «thiên đường» đã được áp đặt trên đất nước và người dân Ba-lan. Và những tâm hồn mẫn cảm nhất trong dân tộc ấy – kể cả nơi những chiều hướng «riêng tư», «riêng tư mới»... xuất phát từ kinh hoàng, cô lập hay được cố tình nuôi dưỡng, thúc đẩy,... đều không tránh khỏi những trăn trở...
        Một phúc trình tỉ mỉ về chế độ bao vây, uy hiếp và trấn áp của «thiên đường» nọ có lẽ vẫn còn phải đợi qua thế kỷ XXI này, nhưng qua các «sự cố» lộ diện hoặc ngấm ngầm, đã có những tiếng nói, – dũng cảm hay không, ở đây thực sự không cần thiết –, những mảnh phóng sự trực tiếp từ thiên đường..., những điều cần biết hoặc cần ôn lại cho chính các nạn nhân và cả những kẻ từng áp đặt...
        Với 20 nhà thơ «trẻ», tôi hy vọng cống hiến bạn đọc không có nhiều thì giờ và phương tiện, một cái nhìn «chim bay» về Thơ Ba-lan trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay.
(Phần lớn các bài dịch ở đây dựa theo bản Anh văn in trong
Donald Pirie, Young Poets of a New Poland (Forest Books/ Unesco Publishing 1993).
 
________________________
 
 

16. MARCIN SENDECKI (1967~)

MARCIN SENDECKI sinh năm 1967 tại Gdańsk. Là sinh viên y khoa từ 1986-90, nay theo học khoa xã hội học tại đại học Varsovie. Sống ở ngoài Varsovie, ở vùng Tomaszów Lubelski. Khởi sự đăng thơ năm 1987. Đã đăng thơ trên nhiều báo và cả trong tuyển tập przyszli barbarzyńcy ('quân man di dã tới'). Tập thơ đầu tay Z wysokości ('Nhìn xuống') do «bibLioteka brulionu» xuất bản năm 1992.
 
 
CHẮC CHẮN
 
Chắc chắn là hãy còn quá sớm, nhưng
khi nào thì chuyện ấy chắc chắn khởi sự? Chắc chắn là
không phải lúc này, một vài phút trước bảy giờ, chắc chắn là
không phải ở đây, trên chuyến tàu chạy đường Vac-xô-vi – Lu-blin này
và có lẽ cũng chẳng phải với những người này, với hết thảy tám người, kể cả
tôi, đang trừng mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn vào tờ báo và vào
mắt những người kế cận, mặc dù
dễ dàng hơn nhiều là đối xét màu sắc của họ bằng cách lục trong
sắc tay hoặc
con tim
 
1986
 
 
MỘT BÀI HÁT CŨ
 
Nàng thường trở lại nhà vào ba giờ sáng
tôi cũng không rõ phải chăng nàng nằm ngửa, phải chăng
nàng gục mặt vào gối, tôi thật không rõ. Vào mùa hè
buổi sáng lúc mà chim chóc đồng ca ríu rít, những người đàn ông lặng lẽ
nhấc đồ nghề đi câu và rong ruổi suốt chặng đường tới
bên bờ dòng nước. Lúc này chim câu ấp trứng mất lâu hơn,
những lưỡi cày tuyết đầu tiên ré qua thật hãi hùng,
rồi đôi chiếc xe nghiền nát bùn xám,
cuối cùng bữa điểm tâm dưới ánh sáng chói lòa của những bóng đèn trần trụi.
Chẳng mấy chốc nàng sẽ thức dậy. Khi chúng tôi ra khỏi nhà,
tôi sẽ đưa cho nàng cái áo khoác ngoài ấy.
 
1985
 
 
LẦN NÀY SẼ KHÔNG CÓ TỔN THẤT
 
Ngày này sẽ là một ngày lễ, đột ngột và tuyệt vời, đầy
ánh nắng và những đôi giầy mới sáng bóng. Lần này
những ống loa sẽ không làm chúng ta thất vọng, thanh niên
sẽ vui vẻ nhổ xuống từ những hàng bao-lơn cao và thịt, ôi thịt
sẽ bềnh bồng xuống phố trong lúc chúng ta châm thuốc điếu
từ những ngọn đuốc cháy bừng. Và sẽ có biết bao là từ,
trong như chuông đồng, như âm thanh những cánh cửa nhà thờ khép lại.
Ngày ấy sẽ là một ngày lễ, và chúng ta sẽ ăn
bánh ngọt.
 
1989
 
 
XE BUÝT VÀ TÀU ĐIỆN
 
Báo hằng ngày sống mỗi lúc một mau lẹ. Lúc này cả anh nữa
cũng có chỗ nơi miệng chúng, khi anh đọc thấy, từ trên
vai một người trẻ tuổi nào đó, một đôi lời
của chính anh. Những tấm hình chụp cũ kỹ có giá, tiền bạc và
địa chỉ hòa tan trong túi anh.
 
Tháng Tư 1989, Varsovie
 
 
CHỦ NHẬT
                Trái tim tôi ở trong túi tôi
                                Frank O'Hara
 
Ánh sáng êm ả vượt qua những biên giới của sự trong sáng,
hòa cùng hơi thở và khói của những điếu thuốc lá rẻ tiền.
Lớp sơn đã vàng tróc ra từ những vách tường, những mảnh vụn trên chăn mền,
nhưng mẩu đoạn nối ráp trong nhà, và một mặt bàn quang đãng. Trái tim tôi
nằm trước mặt tôi, bất động.
 
________________________
 
 

17. ARTUR SZLOSAREK (1968~)

ARTUR SZLOSAREK sinh năm 1968. Học văn chương tỉ giảo tại đại học Bonn, Đức. Khởi sự đăng thơ trên những trang báo Zeszyty Literackie của người di cư Ba lan. Đã đăng thơ trên nhiều tạp chí khác. Tập thơ đầu tay: Wiersze napisane ('Thơ viết') do oficyna literacka, Cracovie xuất bản, 1991.
 
 
*  *  *
 
ở bất cứ giai đoạn nào anh cũng có thể bắt đầu lại: có lẽ
anh không thể nghe thấy tiếng chim thiên đường kêu réo xuyên qua
màng tai anh và không khí, nhưng chúng hiện hữu
vào hết mọi lúc, cũng như anh
 
ở bất cứ giai đoạn nào anh cũng có thể bắt đầu lại: có lẽ
anh không thể cảm thấy hơi thở của cây cỏ đã ngột ngạt ra sao
những chiếc bóng của sâu bọ đi lại ra sao bên trong
mùi thơm nồng nặc của những đóa hoa
 
ở bất cứ giai đoạn nào anh cũng có thể bắt đầu lại: có lẽ
anh không nhớ tiếng rên rỉ của muông thú,
mùi vị của những mùa xuân hay người được tiền định cho anh, hay tại sao
anh lại tắm mát đôi chân bên bờ dòng nước
 
ở bất cứ giai đoạn nào anh cũng có thể bắt đầu lại: có lẽ
anh quả là không biết rằng anh đang mang nặng biết bao ở bên trong anh
và ngay lúc anh đưa bàn tay ra anh trở thành, trong chốc lát:
minh tinh Cay đắng,
 
và trái táo đã nhai lăn qua
 
________________________
 
 

18. PAWEŁ MARCINKIEWICZ (1969~)

PAWEŁ MARCINKIEWICZ sinh tại Opole năm 1969. Từ 1990 là sinh viên văn chương Anh tại đại học Wrocław. Nay dạy tiếng Anh trong một trường tiểu học ở địa phương. Cho tới nay đã xuất bản ba tập thơ mỏng: Zostaw noc niech płynie ('Hãy bỏ đêm tối mặc nó trô'i), do Wolność i Pokój xuất bản, Opole, 1988; Uciekaj Macinkiewic Uciekaj ('Chạy, Macinkiewicz, chạy'), Varsovie, 1990; và 18 wierzy o tym, ze ogien bedzie róza ('18 bài thơ về việc lửa sẽ là một bông hồng') trong tủ sách Okolice, 1991. Thơ của Macinkiewicz cũng đã xuất hiện trên những tạp chí như Na Głos.
 
 
BÀI THƠ CHO MARCUS AURELIUS
 
        «Hỡi hồn ta, cả mi nữa, một ngày kia mi có trở thành tốt lành,
        đơn giản, độc nhất, trần trụi, hiển hiện rõ rệt hơn là
        cái thân xác đã đánh bẫy mi này?»
                                                   Marcus Aurelius, Trầm tư X, 1
 
Sử dụng hằng trăm cây số đi bằng xe lửa,
Những điếu thuốc hút trên một dạ dầy trống rỗng, hay những cây cầu, những cơ bắp quặn đau,
những gì vẫn liên tục để lại tới ngày mai, tới không bao giờ, mất đi giữa
một chiếc ly và lúc nâng nó lên môi; si tình với túng thiếu và thuần hóa
quang cảnh nhìn từ khung cửa sổ; mang chiếc áo banh ra của trời như một ngọn cờ;
rồi gạt đi sự khinh bỉ, dìm những bó đuốc hờn căm và nói
về những kẻ hành hạ chúng ta không cần tới những phụ âm rít lên; không đếm tháng ngày, không hãi sợ
những mê lộ hay cách biệt to lớn; và không ghen với khoảng sống dài lâu của giống cù-tùng châu Mỹ,
hay sự tự do của các vì sao; và về những chữ vọt ra vì giận dữ «đ.m. mi» nghe thấy ở bên lối cửa –
cảm thấy yêu; có khả năng không cần có, không kêu gào một sự nghèo nàn lớn hơn ai đó đang đau khổ:
 
Những điều này, chúng tôi không thể làm được. Chúng tôi sưu tập tem thư và nước bọt và chúng tôi ít khi bị đảo lộn đầu óc
Vì những trại tù hay phòng giam ở các xứ khác; điều duy nhất hợp nhất chúng tôi với những người bạn
hay kẻ thù của chúng tôi là nỗi kinh hoàng, sự run rẩy của chúng tôi trước độc tài
Của những tế bào máu, của những phòng hơi ngạt; cổ họng chúng tôi lúc nào cũng lặp lại cùng một lời
Thần chú ấy: «Xin hãy nhân từ với với chúng tôi, hỡi Hành tinh của những kẻ Sát nhân, Hành tinh của loài
Linh cẩu*» ; chúng tôi ngủ không ngon giấc, chúng tôi trút bụi vào thức uống – lửa đã bùng ra
Từ những khung cửa sổ của các giác quan và từ ngữ chúng tôi; chúng tôi chỉ muốn thét lên, rằng thật không phải phép...
Rằng nước Chúa ... rằng sự phục sinh của thể xác ... rằng hồn thiêng của chúng tôi ... rằng ấy là điều
Đấng Tối cao đã ban cho chúng tôi – nhưng chúng tôi vẫn bì bõm lội qua những căn buồng hết sức to lớn, xuống những hành lang nơi
Hết mọi cánh cửa ra vào đều khóa chắc. Chúng tôi đứng đơn độc trước đội hành hình.
 
--------------------------------------
* hyenas (Anh văn): một giống chó rừng ăn thịt xác thối, dữ và nhát, thường thấy ở châu Á và châu Phi. (người dịch)
 
 
*  *  *
 
Đêm thật là đen tối – và em có ở bên trong người em
Một dòng sông nơi bầy cá hương lấp lánh, một con bướm
Bay thật cao khiến nó có thể là một vì sao.
Ngay cả khi thiếu những từ đúng đắn tôi mô tả
Cơn đói khát của trái đất khi em bước trên nó, sự say mê của nó
Khi vì em bầu trời trở thành thanh trong.
Nếu thế giới là một bài sonnet – thời em là
Âm vận, tiết điệu và thi khúc.
Em là phút lặng nghỉ của nước, dấu tán thán
Của lửa – nếu như thế giới này chỉ là thế giới.
Em có trong em một âm thanh hết sức trong trẻo khiến nó có thể
Được kêu bằng cái chết – ngoài mọi biên giới
Của ngôn ngữ tôi sẽ mang em trong máu tôi – vì tôi
Là kẻ đắm tàu trên chiếc bè của đại từ «Em».
 
 
LỜI RU
 
Ngủ đi thôi. Đội phòng hỏa và một ly nước đang canh chừng
Mi. Sàn nhà sẽ không tan vỡ và chiếc giường này sẽ không gập vào lòng
Của nỗi kinh hoàng đã bị lửa bắt cóc. Nhắm mắt lại đi. Sợi dây của bóng đèn
Sẽ không đốt cháy mi, cũng như màu trắng trần nhà. Ngủ
 
Cho say. Máu mi sẽ không bùng thành những ngọn lửa. Không có sự thiêu đốt nào khuất phục được mi.
Lửa sẽ không nuốt được chăn mền. Không xô đẩy vào được hai buồng phổi
Qua lỗ mũi mi. Ngủ cho say. Bóng tối sẽ không phạm tội phóng hỏa.
Mi sẽ không phải chạy ra bốc cháy như một bó đuốc. Lửa
 
Sẽ không ăn lạm vào mặt mi hay đôi cánh tay. Sẽ không có chiến tranh
Của những mảnh giẻ rách ngụt lửa. Ngủ đi thôi. Mi sẽ có một giấc ngủ
yên hàn. Không một vượt thoát từ vách tường bốc cháy tới mép
 
Của những tấm trải giường. Không băng bó. Lửa sẽ không lần mò
Vào dưới mu mắt mi. Ngủ cho say. Mi sẽ không la thét trong những ngọn lửa.
Ngủ đi thôi. Ngọn lửa không thể đánh thức được mi. Cả đến một ngọn lửa cũng không thể đánh thức được mi.
 
________________________
 
 

19. TOMASZ TITKOW (1969~)

TOMASZ TITKOW sinh năm 1969 tại Varsovie, nơi anh học đại học về tâm lý. Đã tự xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề là Komu dzwoni budzik ('Đồng hồ báo thức reng cho ai') ở Varsovie năm 1990.
 
 
*  *  *
 
Tôi sống một cuộc đời cũng chẳng có gì là ghê gớm
Tôi thật khỏe khoắn
Bữa ăn có người nấu nướng cho tôi
sàn nhà cũng có người chùi bóng
lâu lâu
tôi bại sản và vẫn lạc quan
tôi ngạc nhiên trước sự việc
dẫu chẳng có gì là quá nặng nề dĩ nhiên
và tôi nuốt vô số aspirin
khi cảm cúm hoành hành quanh mình
 
đôi khi
tôi khóa cửa ra vào và cửa sổ lại
rồi trên một mẩu giấy cũng thường
tôi ra sức nếu được
cứu vớt bản thân tôi khỏi quên lãng
một điều
thành thực mà nói
cũng không phải là dễ dàng gì đối với tôi
 
 
ÔI, CÁC NGƯỜI THẾ GIỚI DIỆU KỲ!
 
Ôi, các người thế giới diệu kỳ!
các người thật sự không cho tôi là nghiêm trọng đủ
 
các người chẳng hề thách thức sự can trường của tôi
hay cả đến ý thức của tôi về thể diện
không phải hàm sư tử hay trái tim thiên nga
không có cơ có những nhận xét hiểm độc khi đối diện kẻ hành quyết
khá nhất thời tôi có những hoài nghi kỳ cục ấy
những hoài nghi mà tôi chỉ có thể cười nhạo lúc sau
khi tôi đón chào ngày mới tới bằng cách đưa bàn chải đánh răng
 
những lời của tôi
đã hết sức cố gắng
nhưng chúng không đặc biệt xuất sắc về chuyện này
chúng hoàn toàn líu lưỡi
khi tự giải thích
một cách không thuyết phục lắm
có lẽ cũng chẳng bao lâu nữa chúng sẽ
lại đi tìm cái chai
 
 
BÀI CA CỦA NGƯỜI GÁC ĐÊM
 
này nghe đây, mi chứng nhức đầu mi
mi chẳng để cho ta ngơi lấy một lát
dẫu ta phải thú nhận rằng đó không phải mục đích
mở mắt là chuyện họ trả tiền thuê ta
 
là vì ta là kẻ gác-gác-gác
đêm, ờ – , vậy thời mi hãy để ta
cho mi biết ta là ai
 
ngồi đây để râu mọc lởm chởm trên cằm
canh cho khách của khách sạn khỏi gặp mấy cô điếm bên ngoài
dẫu khi ông công an tới dò xét
ta giả bộ ngây ngô, chứ biết sao
 
ta phải đi đây, bởi có ai đó đã xuất hiện
trong đêm đen sâu thẳm tối như mực
nên đây lại là lúc khoác bộ mặt nghiêm nghị
của người gác đêm cương quyết có một
 
 
*  *  *
 
thế còn mi?
chẳng phải mi đã bị nhiễm cái thèm khát vượt thoát,
thật đột nhiên và bất ngờ
khi chuyện duy nhất mà mi còn giữ lại với mi
là sự chai cứng của con tim và nụ cười ấy
nụ cười hơi vặn vẹo hai khóe mép
khi cơn điên tinh tuyền của kiêu hãnh bóp nghẹt mi
và ngăn chận mi tự giải thích
hay lại muốn được vững dạ
khi mi thốt lên tiếng, ôi cái tiếng ngọt ngào làm sao – vĩnh biệt –
thế rồi mi quay lưng lại với hết mọi sự
và tất cả những gì hệ trọng đúng là
khi nào mi khởi sự cuộc hành trình
bởi thế mi hãy nói cho ta hay –
chẳng phải mi đã bị nhiễm cái thèm khát vượt thoát
 
 
*  *  *
 
trong góc buồng tắm của tôi
quỷ ma lẻn lút và tránh né
 
có phải sáng nay tôi đã nhuộm đen hai bên tóc mai?
 
nó chết trong buồng tôi
con ruồi ấy
đã qua đời nhưng chưa qua hẳn
 
bốn vó còn chổng lên
 
tôi sẽ ma chay cho nó
trong chậu phong-lữ-thảo*
và suy ngẫm
linh hồn nó lúc này ở đâu
 
sau đó tôi sẽ có cải bắp đỏ
món xà-lách cho bữa tối
 
thú vị thay thật là thú vị
trọn vẹn vũ trụ trong buồng tôi.
 
-----------------------------
* geranium. (người dịch)
 
 
*  *  *
 
mời bóng vào, hỡi bóng
ta đón nhận bóng vào trong
và trên bản thân ta
 
ta không còn là kẻ tận tình ngưỡng mộ thế giới này
không còn là nơi chứa đựng sự sai lầm và những lời tâm sự của nó
ta sẽ thôi không say sưa cuộc đời như
ta say sưa rượu
 
ta chỉ có thể gật đầu thông cảm
 
ta bất lực ở bên trong
và đã bỏ mọi người lại ở xa sau
 
ta nắm lấy những âm thanh của sống
qua vách tường qua đêm tối
từ tiệc tùng ở nhà các bạn ta
từ hơi thở của thành phố từ những mẩu chuyện do mưa
kể lại
từ căn bếp nơi mẹ ta đang rửa chén đĩa
sau bữa ăn tối
        – nhưng chuyện ấy lúc này đã trở thành một giấc mơ
lúc này đã trở thành một giấc mơ
 
không còn gì trở lại bao giờ nữa
 
chỉ có những chữ
chúng mưa xuống người ta thật mạnh
như đá
 
________________________
 
 

20. JERZY JARNIEWICZ

JERZY JARNIEWICZ là một nhà thơ trẻ ở Łodz. Ông cũng là một nhà phiên dịch nổi tiếng. Từng viết luận án về các nhà thơ Philip Larkin, Douglas Dunn và Craig Raine. Bài trích trên đây được dịch theo bản Anh văn của chính tác giả (đăng trên Poetry Review, bộ 80, số 2, mùa hè 1990, Luân-đôn).
 
 
LỊCH SỬ VẮN TẮT
 
Vào Cuộc chiến Ba mươi năm
chúng ta chui xuống đất dưới những đổ nát
vì sợ
rằng chúng ta có thể bị bọn lính đánh thuê của Wallenstein tìm ra
 
Khi Cuộc Săn bắn lớn diễn ra
chúng ta tiếp tục trốn dưới hầm
vì sợ
rằng chúng ta có thể bị các siêu nhân tóc vàng hoe ở xứ sở của Goethe
tìm ra
 
Ngày nay
chúng ta ra khỏi buồng và bước trong hành lang
vì sợ
rằng không ai
sẽ tìm ra chúng ta
 
 
-------------------------------
Mời bạn đọc xem những kỳ trước:

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018