thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
"Người ta có thể làm thơ như làm giò chả...!"

 

Lời giới thiệu:
Đỗ Kh. sinh năm 1955 tại Hải Phòng, nguyên quán Nam Định. Là tác giả của Cây Gậy Làm Mưa (tập truyện, Nxb Tân Thư, 1989); Thơ Đỗ Kh. (tập thơ, Tân Thư, 1989); Có Những Bực Mình, Tức Không Thể Nói Ra (tập thơ, Tân Thư, 1990); Ký Sự Đi Tây (tập ký, Văn hoá Thông tin, 1993); Không Khí Thời Chưa Chiến (tập truyện, Hồng Lĩnh, 1993)… Với tư cách nhà thơ, những cách tân trong kỹ thuật và nội dung của anh có ảnh hưởng rất nhiều đến những cây bút trẻ sau này. Cùng với thơ Nguyễn Đăng Thường, Đinh Linh, Nguyễn Quốc Chánh, Phan Bá Thọ, Bùi Chát, Khúc Duy…, thơ Đỗ Kh. mở ra một lối đi tiên phong, riêng biệt và khó trùng lặp vào bất cứ ai. Dưới đây là bài phỏng vấn “trực tuyến” do Lý Đợi thực hiện từ La Hán Phòng.
L.Đ.

 

 

— Với những người cầm bút, Đỗ Kh. là một giọng điệu riêng biệt [lập], nhưng với đa phần bạn đọc, thì không phải ai cũng biết anh là ai. Vậy anh nói thế nào về mình? Những thành tích [luỹ] mà anh đã đạt được?

+ Thật có lỗi với bạn đọc quá vậy, nhưng về mình, tôi cũng không biết nói sao. Chỉ có thể thế này: Tôi là Đỗ Kh. Thành tích cao nhất: Chung khảo Bé khoẻ Bé ngoan cấp phường xã năm 1960 tại Hải Phòng [Lý Đợi nghĩ thế]; Đai vàng Nhu đạo năm 1962 [cấp bởi võ sư Watanabé tại Vũng Tàu]; và Giọng rock triển vọng năm 1968 tại Hội An [do Komachi phong tặng - Lý Đợi nghe tin nên thêm vào].

 

Tôi vẫn muốn anh nói nhiều hơn về mình [mẩy]?

+ Tôi vẫn tiếc trên danh thiếp không được đề, thứ nhất “cựu binh sĩ Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy dù” và thứ nhì “cựu học viên trường Cao đẳng Sư phạm Ulm” [Paris, Pháp]. Cả hai cái cay đắng trong đời này thất bại đều chính đáng, mắt cận thị mà đòi đu trực thăng nhảy toán, thi cổ văn mà không biết tới mặt chữ Hy Lạp. Vậy thì danh thiếp tôi phải đề “Rớt Biệt cách Dù và thi hỏng trường Ulm”, mất cái vẻ văn ưu võ tú một đời ham muốn(1).

Chú thích:
(1)    Từ ngày rời áo thư sinh
        Sa trường lừng tiếng chiến binh
        Thề không gian dối
        Mười huy chương thôi
        Có sao nói vậy người ơi!
        (Ca từ)

Cái vẻ thôi, vì cái vẻ đối với tôi là đủ rồi, chứ thực sự tôi cũng không muốn giết người lên Hạ sĩ nhất hay ngồi chồm lên học vị mà giảng bài. Nhưng cái vẻ cũng không được, giờ thì đã trễ, tiểu sử như bạn hỏi, tôi không làm lại được.

Ngược lại, về tác phẩm, nếu đủ chuyên cần, có đáng nói tới mà không chán là cái gì tôi sẽ [ráng] viết vào ngày mai [hoặc chiều nay].

 

— Hiện nay, ám [hình] ảnh thường xuyên nhất của anh là gì?

+ Tôi vừa mới đi phép [tắc] về, và hôm nay là ngày đầu tiên tôi đi làm việc trở lại [lại đi làm việc]. Ám ảnh hiện nay và thường xuyên, khôn nguôi nỗi nhớ của tôi là chừng nào đi nghỉ mát, nghỉ ấm nữa. Ngay cả lúc đang đi nghỉ tôi cũng bị ám ảnh này đeo đuổi cho nên dù có nghỉ cũng chẳng bao giờ được yên.

 

— Làm thơ đã thấy mồ rồi, sao lại đòi đăng lính Nhảy dù và Sư phạm? Người ta nói đa số bọn làm thơ đều mất dạy, anh đồng ý không?

+ Tôi cần nói rõ hơn, Nhảy dù, Sư đoàn dù, là đại đơn vị Tổng trừ bị, hiệu năng và kỷ luật, thiện chiến một cách tráng lệ(2), hành quân ào ạt từ cấp tiểu đoàn trở lên. Biệt kích, Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy dù hay Biệt kích Lôi hổ, tuy cũng dù nhưng thuộc về chiến tranh không quy ước, nhảy từng toán 3 người, 6 người vào vùng địch lem nhem, chạy chui chạy nhủi trong rừng, có khi quần bông giày trận Mỹ lại mặc áo bộ đội, nón tai bèo giải phóng. Đây là vấn đề cá tính.

Chú thích:
(2)    Gió cuốn dù hoa rớt lên thượng giới
        Xách súng ba lô anh gõ cửa trời
        Thiên lôi cầm búa ra mời
        Tiên nga từng lũ reo cười
        Á lính Nhảy dù ơ chị em ơi!
        (Ca từ)

Còn Cao đẳng Sư phạm, tuy là trường ưu nhưng cũng là trường không phát bằng [vì vậy chỉ có “cựu học viên” chứ không có ai tốt nghiệp, đỡ được một cái lễ ra trường]. Trường chỉ là nơi luyện [hẳn là xuất sắc] cho các kỳ thi tuyển Thạc sĩ (agrégation) hàng năm. Tôi lười biếng, đâu có định học hay tính chuyện lấy bằng, chỉ mong được nhận là có quyền in danh thiếp bỏ vào túi quần sau đi lang thang. Hỏng Ulm, tôi cũng bỏ đi lang thang vậy, nhưng hẳn là một cách kém vẻ vang [dội ngược]. Đây lại cũng là vấn đề cá tính [toán chi li].

Chuyện tất cả [hay đa số] nhà thơ đều mất dạy thì tôi không dám tin. Thoạt tiên tôi nghĩ là nếu quả được như vậy thì cũng… đỡ đi. Nhưng ngẫm lại thì phần nhiều các nhà thơ ta, không hiểu là có dạy hay không có dạy, vẫn thích dạy mọi người về đủ thứ ở trên đời [hay là dạy đủ thứ người về mọi thứ ở trên đời - trừ thi]. Có lẽ họ cũng như tôi, lầm lẫn phạm trù thi ca với lại phạm trù sư phạm [tội].

 

— Anh làm thơ khi nào, sau khi rớt 2 ý định [tội] trên?

+ Tôi không được đeo trên bả vai phù hiệu “cọp ba lằn sét”, không được đề trên danh thiếp là hậu duệ đồng môn của ông Nizan(3) cho nên đau lòng ta muốn khóc. Đau lòng ta muốn khooóc (4). Không làm được gì, thì tôi làm thơ. Tôi là một người làm thơ muộn, hình như là 33 hay 35 tuổi, sau khi gặp Nguyễn Hoàng Nam(5).

Trước, tôi chỉ có lần lai rai vài sợi.

Gặp Nam tôi nói:

Rong rêu xanh rớt cuộc tình

Nam tiếp:

Cùn chân cuối thủa đăng trình quẩn quanh

Tôi trở thành nhà thơ.

Chú thích:
(3) Paul Nizan là bạn đồng song của Jean-Paul Sartre ở Cao đẳng Sư phạm. Sartre kể lần đầu thi, làm luận nội dung quy củ nhưng hình thức xôn xao thì bị đánh trượt. Lần sau rút tỉa kinh nghiệm làm luận hình thức quy củ nhưng nội dung xôn xao thì mới đậu [hay có thể là ngược lại, tôi không nhớ kỹ và cũng không hề gì]. Nizan không thấy kể gì nhưng mà cũng đậu, sau bỏ đi sang Ả-rập Yemen.
(4) Thơ Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Duy phổ nhạc “Thà như giọt mưa / vỡ trên tượng đá”, có nơi hát rằng “Thà như bồ câu / chết được nhồi yến”, tôi thấy như vầy mới thấm thía là danh vị nhà thơ.
(5) Nguyễn Hoàng Nam nhỏ hơn tôi một giáp nhưng về thơ là thầy của tôi. Đây là chuyện như vậy, chẳng phải khiêm tốn giả vờ, đâu phải ai gặp Nguyễn Hoàng Nam rồi cũng trở thành nhà thơ.

 

— Hiện nay anh làm gì, ý nói công việc kiếm tiền [tình tù tội] ấy? Có làm giò chả như bạn bè nói không? Anh nghĩ gì về sự biến ảo trong cái trò thịt biến thành chả, có giống thủ thuật nào đó trong thơ, hay văn hoá không?

+ Tôi từng kiếm tiền nhiều kiểu, mừng rằng [cho đến nay] kiểu nào cũng bằng mồ hôi [nói như Nazim Hikmet]. Tôi có làm phụ tá đánh giày, trợ lý giữ xe [Tập đoàn Trẻ em vỉa hè Lê Lợi], có làm phó bảo vệ động đĩ [gần cổng Trung tâm Tiếp huyết] ở Việt Nam [trước 75]. Ở Âu tôi có thất thểu độ nhật bán máu, ở Mỹ có thay pin đồng hồ, gác đêm cây xăng… Nhưng giã giò là chuyên cần hơn cả [chả thì hiện nay hết, nhưng có lạp xưởng, nem nướng và nem chua].

Bạn bè thì, chỉ có giống kẻ thù ở chỗ thường hay nói 1 thành 10.

Thịt biến thành giò thì phải có công giã cối [nghe nặng] rụng rời. Làm thơ thì có tạng chỉ cần lãng đãng [trái sầu] rụng rơi. Nói cách khác, người ta có thể làm thơ như làm giò được nhưng khó mà có thể làm giò như là làm thơ. Nguyễn Hoàng Nam có lần nói “Làm thơ được thì cái gì làm chẳng được”, tôi xin thêm “Làm thơ không xong thì đừng nói đến làm gì [khác]”.

 

— Vậy anh cho thế nào là làm thơ được? Còn thế nào là không? Có nhiều người bây giờ, như Bùi Chát-Khúc Duy-Đỗ Kh. chẳng hạn... hết muốn làm thơ nữa! Anh nghĩ họ đang làm [nhàm] cái gì?

+ Không phải là tất cả, nói vậy thì hơi quá, nhưng trước hết là cách tiếp cận với việc làm thơ. Một thái độ, trong đó quan trọng nhất là sự thành thật. Nhưng không phải ai hay lúc nào cũng có thể đến với thơ bằng tư cách trẻ con được [hay ít ra là bằng tư cách thằng hề].

Những lúc đó, thì im vậy, đâu chết chóc gì(6). Chứ việc giả [và giả việc] thì chán lắm, dù có tài đến cỡ mấy(7) hay là giả say, giả điên, giả tỉnh ra sao.

Nói kiểu Trọng Tạo, làm thì làm, không làm thì thôi.

Chú thích:
(6) Tôi có nghe loáng thoáng chuyện các bạn Mở Miệng mà không ra lời, nghĩa là há hốc, đọc thơ thin thít mà lại ồn ào thành sự cố. Ở hải ngoại, có chuyện một nhà thơ đang đọc thì một nhà văn bỏ đi ra ngoài. Vậy là,
    Nhà thơ (xăn tay áo):
        Tại sao tao đọc thơ mà mày lại bỏ đi?
    Nhà văn (lầm lì):
        Tôi thích đi đâu thì mặc tôi!
    Nhà thơ túm lấy nhà văn xô mạnh. Nhà văn ngã. Cái bàn thấp trong phòng khách (vì yêu văn nghệ nên) đưa mình ra đỡ cái trán của nhà văn. Trán của nhà văn xịt máu.
    Bác sĩ (xác định):
        Cái này là sáu mũi khâu.
    Cho nên có khi im lặng là vàng, có khi ngân nga chỉ tốn tiền cấp cứu.
(7) Tôi có biết ông già đầu hẻm, mặc áo thun ba lỗ ra đường ngồi mà nhìn dập dìu qua lại để trầm ngâm “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
    Một bận, nhớ đến anh Hai Tiên Điền này, tôi vào hiệu sách đầu tiên và lớn nhất của người Việt ở quận Cam, Nam Cali. Tiệm Tú Quỳnh, cũng như các tiệm sách tha hương hải ngoại, có bán dĩa nhạc băng hình, ngoài sách báo ra. Tìm mãi không thấy trên kệ, tôi hỏi bà hàng “Ở đây có Kiều không chị?” Bà ta hỏi lại “Em kiếm gì, phải cải lương không?”
    Thôi thì, mua vui cũng được một vài... cuốn băng.

 

— Anh nghĩ thế nào là một bài thơ? Thế nào là một bài thơ hay theo cái kiểu mà anh hay nghĩ ngợi [ca cẩm]?

+ Tôi không biết sao là một bài thơ [thẩn] nhưng gặp một bài thơ tôi sẽ biết ngay. Nói thế không phải là chạy, mà tôi nghĩ ai cũng vậy… “Hay” lại càng khó định nghĩa nhưng làm thơ hay làm gì, làm giò đi nữa, có lao động thì phải có gia tăng trị giá, [ý nói giá trị gia tăng](8). Ngoài ra, vẫn là vấn đề thái độ. Buổi đầu Tân Hình Thức, Khế Iêm có mang ra mời chào một nhà thơ. Bạn hàng này liếc qua rồi khịt mũi phán “Thơ loại này lúc lên 7, 8 tuổi tôi đã có làm”. Chuyện này tôi kể đi kể lại chẳng phải vì ấm ức nhưng bởi vì nó rất tiêu biểu. Làm thơ như lúc [với trái tim và con mắt] của hồi 8 tuổi hay 10 không phải là khó nhưng tôi đồ rằng nhà thơ nói trên không còn làm được nữa. Hay hay dở gì chưa biết, hay hay dở gì cũng được. nhưng trước hết, làm thơ như chơi game điện tử(9), làm thơ phải ngây thi.

Chú thích:
(8) Thí dụ như là lao động ướp xác của Bùi Chát. Việc này làm gia tăng trị giá hơn là ngồi điêu luyện mà nhai bã như vẫn thấy thường khi. Nhóp nhép không làm gia tăng trị giá của thành phẩm các thập niên, thế kỷ v.v... mà dĩ nhiên càng nhái thì càng giảm, càng nhai thì càng xác xơ đi.
(9) Trẻ con chơi game nào xong hết rồi thì chúng vất văng vãi, tôi không thấy chúng lập bàn thờ đặt lên mà vái vào những dịp trăng tròn. Vì vậy luôn luôn có game mới và câu khuyến mãi (thầm thì) của hãng “EA Games” là “Challenge everything” (Thách thức tất cả)!

 

— Anh nghĩ gì về thơ Việt hiện nay? Những vấn đề hay nhà thơ làm anh quan tâm điểm [ý nói điểm tâm - nghĩa là lai rai nhắc tới]?

+ Ở phương Tây, phần quần chúng của thi ca đã chuyển sang lãnh vực của các bài hát và ca từ, nhường sự trang trọng trong xao lãng cho các nhà thơ chính vị giành giật nhau khẩu phần trong các khuôn viên đại học với lại đám băng đảng giáo sư quấn khăn tắm phê bình [ý nói, giáo sư quần đùi].

Ở ta, rồi cũng sẽ như vậy, biết thế, giờ tôi đang tập đánh đàn(10).

Thi ca Việt, riêng phần lục bát [tôi rất thích lục bát], nếu dám tóm tắt từ Nguyễn Du đến Bùi Giáng:

Hồng quần mà sút
(mà trút?) giây thun
Phong lưu cỏ mọc
(Xanh rì cỏ mọc?) tùm lum trên người
Ráng chiều nương tử ngược xuôi
(Đây sang đến giai đoạn Đồng Đức Bốn)
Qua cầu Bình Triệu… đứt đuôi thằn lằn
(nếu ép vần “uôi”, thì có thể)
mà phơi?
mà phươi?
mà ôi? Cái… buồn?

Nghe cũng đã, nhưng mà khó tiếp câu sau vì cái vần “uồn” khó o ép nó lắm, thôi thà để vần “ằn” còn mang tứ Hoàng Hưng vào được, lại đối đáp nhịp nhàng.

Qua cầu Bình Triệu đứt đuôi thằn lằn
Cái rầu ăn cả vào canh
(để trở lại với Nguyên Sa)
Con sâu uốn éo còn anh là nồi.

Đại loại.

Làm thơ để làm gì? Ờ, vậy. Tôi xin để cho Ngu Yên nhắc lại:

Cái gì chẳng phải phù du
Làm thơ để thở mịt mù thế thôi

 

Chú thích:
(10)  Hà Nội 12 Tháng Nhớ
        Hồ Gươm bên vai / liễu dài mượt mà
        Tràng Thi đưa chân / gót hài nhạt nhoà
        Hà Nội mùa xuân / mưa mềm trên má
        La lá là la / la là tháng ba
 
        Cửa Ô nghiêng nghiêng / em chờ người về
        Phù sa đong đưa / sông Hồng vào hè
        Bằng lăng lao xao / tím dần rất khẽ
        Tháng sáu hàng cây / ru lời hẹn thề
 
        Thiền Quang thân yêu / em dìu mộng lành
        Hồ Tây thênh thang / tóc chiều bồng bềnh
        Hà Nội mùa thu / hôn đầu sóng sánh
        Tháng chín là la / la là lá la
 
        Ngọc Sơn đêm đêm / sương lùa lạnh đầy
        Cửa Nam quen hơi / rong buồn ủ dầy
        Hà Nội mùa đông / tay mềm biết mấy
        Tháng nhớ mười hai / ru cuộc tình gầy
 
        Hoà Phong đơn côi / tôi ngồi chình ình
        Bạch Mai bên ai / em nằm trở mình
        Hà Nội mùa xuân / hương đầy Phố Lính
        Hoa sữa rụng rơi / tan rồi cuộc tình!
 
(Giọng ca nam, nếu ngọt và khàn, có thể thay “la lá là la” bằng “ư ứ ừ ư” chẳng hạn)

 

— Và một ngày sống [sít] thường [hằng] độ nhật của anh?

+ Trên xe tôi đang dùng, ngay trước tay lái, có một cái bảng kế toán từng ngày và thông tin chính xác về: thời gian sử dụng (2 giờ 41 phút); số dặm di chuyển (89); vận tốc trung bình (29,3 dặm một giờ); mức tiêu thụ xăng trung bình (25,1 dặm mỗi gallon xăng). Thực ra, tôi chỉ cần biết nhiệt độ bên ngoài (890F), những thông tin còn lại tôi chỉ muốn tắt nó đi cho khuất mắt mà chưa biết tắt cách nào. Mỗi ngày ở Mỹ tôi lái xe 3 giờ trên 160 kí-lô-mét, mỗi năm lái 40.000 cây, lại còn phải vừa lái vừa nói chuyện điện thoại.

Mỗi năm tôi đáp máy bay thêm 80.000 cây số nữa, lên tàu phải chứng kiến thêm 10 bận tiếp viên hàng không hướng dẫn an toàn [cách cài giây ở ghế, cửa thoát hiểm ở phía sau đi theo đường dây đèn sẽ tự động bật ở trên sàn]. Năm nào được đi tàu biển là may phước vì đi tàu biển là được đi chơi chứ không phải là đi làm, mà cũng không phải là đi vượt biên.

Khi nào không đi đâu thì tôi không… động đậy. Mỗi ngày tôi nhận được 10 cái thơ, 3 cái là hoá đơn đòi thanh toán hay là đòi nợ, 7 cái còn lại là thơ mời tôi mượn tiền với lãi suất thấp và điều kiện dễ dàng để trả những số nợ còn lại.

Mỗi ngày đi làm về tôi uống 1 lon bia.

 

— Với lịch thời gian như thế, anh làm thơ vào lúc nào? Việc làm thơ của anh, có khó khăn [lông] lắm không, hay nó chỉ thuần là một kỹ thuật [thuộc]?

+ Khoan, khoan, Lý Đợi làm ơn cho nói tiếp, chưa hết.

Đi làm về tôi uống một lon bia. Rồi sau đó uống thêm lon nữa. Rồi sau đó thêm lon nữa, thì bắt đầu vào việc làm thơ .

Nói nghiêm túc [trực], thơ đến với tôi bắt đầu là một tứ, một ý bất chợt trong khi đang có tâm sự buồn hay vào một hoàn cảnh vui. Nếu không quên nó [nhất là trong hoàn cảnh vui thì hay dễ quên lắm nên có lẽ vì vậy phần nhiều thơ buồn] thì một lúc khác rảnh rỗi mang ra ngồi gọt đẽo cho thành dạng thành hình. Tựa như là lượm đâu được khúc củi cong queo coi ngồ ngộ, lấy dao ra chuốt cũng thành ra ông già câu cá, con chó vẫy đuôi hay cô gái tắm suối. Còn nhiều khi không để ý, bỏ luôn vô bếp thì cũng chín được nồi cơm hay là nóng bình trà.

Thơ với tôi là chuyện chơi vui, không tình nguyện hay xung phong lao động được, như là văn xuôi mỗi ngày từ 8 giờ tối đến 12 giờ đêm. Nhưng thành thơ, thì cũng có lao động chăm chỉ gọt đẽo. Vì vậy mỗi bài, thật ra chỉ có vài chữ, phần còn lại là trang phục, trang điểm, đánh đèn. Phần của người đọc, bắt được ở vũ trường, mang về phòng lột quần lột áo, dưới ánh trần trụi của nê-ông xanh lét, nhiều khi ôi dào thất vọng cũng nên.

Còn nếu thấy ra cái thành thật, biết đâu yêu mến [dù là chốc lát, qua đêm]. Đêm nay ai đưa em về?

 

— Việc anh về với Tạp chí Thơ, trong cương vị mới - chủ biên [niên tạp lục] -, anh nghĩ Thơ trong thời gian 10 năm qua như thế nào?

+ Tôi có mặt trên chuyến xe đò Tạp Chí Thơ từ lúc đầu nổ máy, thường là ngồi băng sau mà ngủ gật, dọc đường thiên lý có kẻ đứng ngoắc đu và leo lên mái, có người vỗ vai anh tài cho xuống ở chỗ này. 10 năm qua, vào lúc xăng khan dầu hiếm như hiện nay, nó vẫn còn chạy cũng đủ là thành quả không ngờ.

Thành quả gì? Liên tỉnh lộ này trước đây làm gì có nước mui vui nhỏ mát mặt đường, làm gì có bụi bánh bên lề mừng... tung toé. Thành quả là vậy.

 

— Dừng đổ nước mui xong, tiếp theo đoạn mới, trong số đầu tiên, anh sẽ tổ chức Thơ theo kiểu nào? Những ý đồ mà anh muốn gởi gắm trong đó? Những dự định cho các số kế tiếp?

+ Khế Iêm cũng biết… buồn ngủ, dựng Nguyễn Thị Ngọc Nhung dậy cầm tay lái để chàng ra đằng sau nằm dài. Tôi là lơ xe tập sự(11), thật tình là không biết phương hướng gì hết ngoài cái hướng trước mặt lò dò. Đích chẳng phải là Vũng Tàu, Bà Rịa cũng chẳng sao, mà có khi gần đến Vũng Tàu lại lạc vào lối sang Long Hải cũng được vậy.

Miễn là đừng có đâm đầu xuống ruộng, thành thần để người ta lập miếu ở vệ đường. Tôi hình dung mơ hồ là vào thời đại của thông tin, thi ca không còn là đặc quyền của những thầy dòng nắn nót chép kinh mà sẽ thuộc về đại chúng, không còn là tiếng chuông uy nghi từ tháp mà sẽ là tiếng dép lẹp xẹp của mỗi kẻ qua đường. Nhưng không ai có thể nói thời kỳ Phục Hưng là một thoái hoá của thời kỳ Trung Cổ, thời đại của chữ in là một thụt lùi của thời đại chữ chép, mất cả vẻ trang nghiêm.

Đặt trong một bối cảnh rộng, thi ca là lãnh vực của giải trí mà giải trí thì là việc hết sức là [đề cao] quan trọng!

Chú thích:
(11) Trong một truyện ngắn của Paul Bowles (You Have Left Your Lotus Pods on the Bus, 1977), ông có tả đi thăm Ayudhaya (là thủ đô tôn giáo trước đây của Thái Lan, không xa Bangkok). Chuyến đi bằng xe đò công cộng, suốt quãng đường trên xe có một người thỉnh thoảng lại hò hét, có lúc đập vào thành xe ầm ầm mà hành khách chẳng có ai mảy may để ý đến.
    Theo kiểu của Bowles (1910-1999), truyện này kết luận lơ mơ, để người đọc (Tây) tự mà lơ lửng lấy cái tăng sĩ, tôn giáo và phương Đông huyền bí này. Người đọc Ta hẳn là tin ngay đây chỉ là anh lơ xe đò đang hành sự, chứ không phải vì say rượu hay là… ngộ đạo. Thú vị về chi tiết này, về sau gặp dịp, tôi có nhờ hỏi đích thân tác giả nhưng có lẽ tôi không phải là người đầu tiên thắc mắc nên không thấy ông trả lời.

 

— Thử định nghĩa một chút về công việc của một người biên tập tạp chí — khi thực tế, nhiều người nói là làm dâu trăm họ? Sao cho thoả đáng và chia lịch chồng con trong hơn ba tháng đây?

+ Biên tập một tạp chí thì tôi không có kinh nghiệm nhưng tôi có kinh nghiệm sống còn. Kinh nghiệm này tôi học từ chó hoang vô chủ [hay đúng hơn là chó hoang không biết ai làm chủ!)] thứ lởn vởn ngoài chợ gần các quán cơm, quán phở, hàng quà. Lại gần bàn nhưng đừng gần quá, mắt rụt rè nhưng đuôi phải ve vẩy, có được ném cho cục xương thì phải mang ra cách bảy bước mà ăn [tiên học lễ hậu học văn - cũng như ăn].

Con người, ai cũng dễ chịu và chẳng ai tiếc của thừa. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có người ác, thấy chó không nhà thì định đá, thỉnh thoảng vẫn có kẻ gian, thấy chó không chủ thì muốn thịt. Đuôi tôi đâu phải chỉ để vẫy, trong trường hợp này tôi cụp lại để mà chạy, cùng đường thì tôi sùi bọt mép giả dại Pasteur, ai mà dám còn thèm dồi chả. Vả lại răng tôi cũng không phải chỉ để gặm xương, xương cứng chứ bắp chân thì mềm, tôi táp một cái cho bỏ mẹ.

Làm báo, không phải chiều độc giả thì cũng phải chiều người viết, và ngược lại, hay là cả hai. Chiều một người [phụ nữ?] đã là khó, huống hồ gì trăm họ [trăm lẻ mấy kiểu thế Sutra và mùi mồ hôi]. Nhưng tôi thành thật, đầu đội nón chân đạp dép ở trên đời, người ta cho là dễ mến, có điều chi cũng chín bỏ làm mười.

 

— Sang ý khác, việc anh “quậy phá” trong thơ, phải chăng cũng là một bắt nguồn từ lý thuyết hay thực tế thơ Mỹ?

+ Thơ Mỹ “gần” đây nhất mà tôi có đọc là xa xưa Pound, Eliot(12) , thơ Tây phương nói chung cận đại lắm là chỉ tới Quasimodo, Neruda(13). Còn về lý thuyết thì hình như chưa hề, hay là đã quên mất.

Ở các nước phát triển, thơ, như là một thể loại, đã gần như tuyệt tích nhưng ngược lại đã biến dạng chuyển qua lãnh vực của âm nhạc, ca từ, hình ảnh chớp nháy. Tôi sống trong môi trường này, của văn hoá tây phương nói rộng và là một người làm thơ tiếng Việt chính thống.

Chú thích:
(12)  “X and Y sitting on a tree
        K-I-S-S-I-N-G
        First came love then came marriage
        Then came a baby and a baby carriage”
        ?
(13) qua phổ nhạc!

 

— Anh tự xếp mình vào lớp nghệ sĩ dùng dùng bản năng [động đậy] để sáng tác?

+ Làm theo khả năng và ý thức theo nhu cầu?

Tôi viết chứ tôi không biết, tân cổ giao duyên và tiền hậu [hiện đại] bất nhất, ai nói sao thì biết vậy. Cái ý thức ở tôi rất là lơ mơ sương khói, phần nhận định không phải là phần của người nghệ sĩ.

 

Ngay chuyện [hôm nay] vén áo cho người xem thơ [tapchitho.org], mà nhiều em, nhìn thấy phần phụ cận và khu biệt, cũng hấp dẫn thấy mẹ?

+ Ớ chết…! Đây là chuyện đang dzui, và Lý Đợi cũng vén mà.

 

— Thế rủi như gặp một việc khó khăn, như phải diễn ngôn kỹ thuật cách vén?

+ Thí dụ, tôi không biết nhảy đầm, cha cha, bebop... Nhưng nước đến chân thì cũng phải nhảy [slow mông cổ], nước đã đến mông thì cũng phải lội, đến cổ thì cũng phải lặn.

(ậm ừ…)

Tôi không có kỹ thuật, chỉ tìm cách đáp ứng với lại hoàn cảnh.

 

— Chẳng lẽ những hình thức nghệ thuật như Performance, Installation, Body Art, Concept Art… không có ảnh hưởng gì sao?

+ Hẳn là như vậy, và tôi nghĩ đối với mọi người chứ chẳng riêng gì tôi, thì còn là ngược lại. Thơ đã biến thể từ mực tàu giấy bản để đi vào những ngành nghệ thuật khác, đại khái như cá heo là loài có vú nhưng không còn sống ở trên cạn [trong khi phụ nữ thì…]. Phần tôi, là thử nghiệm, kết quả thế nào, có khi chết ngộp không chừng.

 

— Rộng hơn nữa, đặt để nghệ thuật thơ mình trong nền thơ Việt, anh nói thế nào?

+ Á hả...

Ừ hử...

(chớp chớp mắt và gật gừ...)

Có lần đi dự đám cưới, tôi đứng với một nhà thơ đàn anh. Bỗng đâu có một ông cao to nhưng thân hình cân đối, tóc chải bồng bềnh và râu tỉa nhẵn nhụi, tất nhiên cũng đã điểm sương [càng tăng phần quyến rũ]. Áo Ý giầy Anh, ông này tiến đến nhà thơ này nhận ra bạn cố tri ba thập kỷ về trước. Nhà thơ nhìn ra: - Anh là X., lẫy lừng ở Huế!

Nhà thơ ta, tuy áo bỏ ngoài quần và đầu rối nhưng cũng đã phong trần mài lưỡi, danh trấn giang hồ vào một thủa, đi đến đâu là phù dung ngã rạp xuống hai bên đường chứ không cần đến cúi mình xuống hái [ông này, tôi chịu khó đứng gần mong học lỏm được vài bí quyết, nếu không thì cũng hưởng được chút tàn hương]. Tây độc gặp Đông tà, cái ông ra ngoài bảnh bao vào trong phong nhã bèn vái vái: - Sao bằng anh được, ở Sàigòn!

Nhà thơ tủm tỉm: - Anh nói thế nào chứ!

 

— Những tác giả thơ anh muốn nói?

+ Đối với ông bà cha chú, các cụ, tôi đều có niềm thương kính vô biên.

Nếu không có họ, làm sao có chúng ta và thơ Việt ngày hôm nay. Như vậy đã đành, nhưng tuỳ theo cảm tính riêng, tôi vẫn thích cái dọc của chú Cao hơn là cái dài của bác Nguyễn trong khi thở, ưa cái hấp của cô Hương hơn cái hô của bà Điểm chẳng hạn.

Các đàn anh đàn chị cũng vậy, họ đã đi qua và để lại, tôi cũng xin quỳ xuống vái.

Những người mà tôi không quan tâm đến hiện nay là những người làm thơ cho 300 năm về trước, hay là cho 30 năm về trước cũng vậy. Ngay trong những người trẻ, làm thơ cho tuần vừa rồi cũng phải trịnh trọng xóc lại mũ áo và xóc váy. Tôi không quan tâm đến những gì trang nghiêm, cho dù có xóc váy đến tận... cằm.

Thơ thì là: cái đinh gì?

Thọc tay vô túi, thơ tì tì ra

là một cái hít, cái hà

là một túi rỗng và ngã ba đen sì.

Thơ chẳng là cái đinh gì hết trừ với những người cầm búa [tôi xin lỗi, câu này tôi ưa lặp đi lặp lại, tay cầm được búa, thì cái gì cũng tưởng là cái đinh].

Tôi không quan tâm đến những người cầm búa.

 

— Trở lại chuyện Tạp chí Thơ, anh nói mình chỉ là tay lơ xe... Vậy khi ngồi trước vô-lăng, anh sẽ làm thế nào?

+ Trước đây làm lơ cho Khế Iêm, giờ làm lơ cho Nguyễn Thị Ngọc Nhung, làm gì mà dám lái, chỗ này cua gắt coi chừng đụng! Ê, ê, dừng lại, có khách lên!

Tài lơ [là] không phải là tài lái [cá].

 

— Con đường của lơ xe, chắc là vui lắm?

+ Tôi vui đâu chầu đó, tất nhiên là cũng có chọn lựa, không phải là tiệc nào cũng nâng ly và cũng không phải là không có tính cách độc lập. Hết vui thì tôi đứng dậy, có khi xe đang chạy, buồn thì tôi dám nhảy khỏi.

 

— Phụ trương Thơ của báo Văn Nghệ [Việt Nam] ra đời sau khi Tạp chí Thơ đã bước vào sinh nhật 10 năm. Dù sao thì Tạp chí Thơ cũng đã làm được nhiều chuyện “tiền vệ” của nó. Với tư cách tân phó chưởng môn, anh thử nghiêm trang mà nhận định những chuyện tiền vệ mà nó đã làm?

+ Tôi thử nghiêm trang nhiều rồi mà không thành công. Tạp chí Thơ ra đời sau số Đặc biệt về Thi ca của Hợp Lưu do Chân Phương, Khế Iêm, Phạm Việt Cường và tôi cùng biên tập. Một sáng cuối tuần sau đó, còn đang ngủ thì có Khế Iêm điện thoại. Tôi quờ quạng, nghe giọng tưởng là Phan Tấn Hải:

“Anh đi Pháp về rồi hả?”

Khế Iêm bảo:

“Tôi đâu có đi Pháp, mình nên làm một tạp chí Thơ”.

Khế Iêm không có đi Pháp thật, và Tạp chí Thơ có mặt từ dạo ấy, trong suốt thời gian này là tạp chí chuyên thơ duy nhất, kiểu hàng thịt chó thì có rất nhiều ở Hà Nội nhưng thịt mèo thì chỉ có quán Tiểu Hổ ở Ngã Tư Vọng. Nói theo kiểu thiệp mời ăn cưới, (chỉ riêng) sự hiện diện của nó (đã) là một sự khích lệ (cho văn nghệ). Cũng như tiệc cưới, lúc đầu phải giới thiệu ông cả bà lão, là việc Tạp chí Thơ đã làm trong tinh thần kính trọng và yêu mến, sau đó đến màn tụi nhỏ nhảy đầm.

Cho ngày vui của hai họ được trọn vẹn, chúng tôi đã cố gắng hết sức để làm vui lòng cả trong lẫn ngoài tuy vậy vẫn không tránh khỏi sơ suất nhưng thử tưởng tượng cảnh quá đẹp này trong buổi lễ, bé Bùi Chát đuổi bắt bé Đỗ Lê Anh Đào đang tung tăng, trong khi cụ Lê Đạt ngồi quạt phe phẩy bên cạnh Thanh Tâm Tuyền đang nhai trầu. Nhưng ở đây, ban nhạc chơi bài “Born to be wild” chứ không chơi bài “Oui devant Dieu, Ave Maria”.

Đó có phải là tiền phong, tiền vệ gì không? Tôi không biết. Nhưng tôi là dân chơi nhạc Rock, yeah!

 

— Thơ không là cái đinh gỉ gì. Nhưng rút cuộc nó cũng phải là một cái gì đó chứ, một nắm chữ - có khi lộn xộn cả hình ảnh nữa -, chẳng lẽ nó không là gì thật sao?

+ Tôi yêu thơ. Đó là sợi dây hong nắng của áo quần vừa mới giặt trước gió đong đưa [trong một ngày trưa rực rỡ]. Nhưng rực rỡ mấy hay có là quần đùi vá thì nó cũng chỉ là vậy, làm gì mà ngồi đó thẫn thờ, phơi đồ xong rồi còn đi chợ!

Thì ngồi chơi chút xíu để nhìn, chuyện chơi cũng chẳng phải chuyện vừa.

 

— Còn nếu giả giọng ú ớ nghiêm trọng của một tay phê bình trường lớp thì nói thế nào?

+ Tôi chưa thấy một phê bình học giả nào nhại được một anh hề nghệ sĩ nên tôi không có cả gan mà làm ngược lại. Người nào việc nấy, và nghệ sĩ có là hề cũng chỉ nên quanh quẩn mà nhại… nghệ sĩ khác thôi, hay là tự nhại mình.

Trong mấy mươi thập kỷ, nhất là ở ta, chữ là quyền lực và đã có nhầm lẫn tai hại giữa văn nghệ và lớp thầy chùa chữ nghĩa, tai hại cho văn nghệ thì ít thôi, tai hại cho dân mới là nhiều. Làm thơ mà vuốt râu, công đường xử án, cất chợ xây cầu thì quả là kinh hãi. Đối với tôi, làm thơ là hát rong trước quán, mãi võ làm trò trên bãi, nói cho ngon lành thì nhà thơ là giác đấu, đổ máu và đổ ruột ra cho quần chúng một tiếng cười.

Chúng ta đang ở những ngày cuối của thời đại chữ in, xin chào Gutenberg, cho gởi lời thăm ba má, ông chép kinh bằng tay và cụ tạc đá. Tôi đang cố gắng thực hiện xê-ri “Thánh nữ phòng vệ sinh công cộng” tại quận Cam, một lô hình đàn bà vào nhà cầu mang theo một niềm tin. Những hình đầu là một may mắn, những hình sau tôi sắp sẵn “Chị có niềm tin không?”, “Có mang theo vào nhà cầu?”, “Cho tôi vào theo?”.

Tôi nghĩ là thơ chẳng những đã có trước chữ in mà đã có trước cả chữ viết. Thơ chắc vẫn sẽ còn sau khi chữ đã mất.

 

— Vậy anh nghĩ sao về đám điểm-báo-phê-bình? Có khi nào họ ”định hướng” được độc giả & tác giả như họ nói hay không?

+ Hồi trẻ có lần tôi dự một tiếp tân. Phục vụ mang từng khay bánh mì kẹp đi ngang mời. Những miếng này bé bằng 2 đốt ngón tay, có cái là cá thu hun khói, có cái là tôm cua đủ loại. Tôi bốc thử một loại ăn thấy ngon miệng, mỗi lần có khay ở trong tầm tôi chỉ lựa thứ này mà bốc. Chỉ tiếc là mỗi khay 50 cái bánh mì kẹp, loại trên đây chỉ có được 3 nên đã lấy thì tôi lấy liền cả 3 kẻo hết. Một vị lớn tuổi đang hỏi han tôi xã giao mới ngừng lại nói: “À, cháu thích ăn caviar”.

Trước đó tôi chưa hề được nếm caviar, cũng không biết hình dạng nó ra sao, chỉ nghe nói là rất đắt. Nếu biết trước cái tôi thấy bùi miệng chính là cái ấy thì tôi đã không đụng tới, trứng cá không có gì hấp dẫn, mà đắt tiền thì tôi lại càng khinh khỉnh. Nhờ không biết nên hương vị này tôi mới được hưởng và yêu thích nhưng nếu không có ông trưởng lão chỉ bảo thì tôi không biết nó là gì. Cỡ nhỏ màu đen thì 1, 2 ngàn một ký, cỡ lớn màu đỏ thì đến dăm ba, mà biển Caspian phía Ba Tư thì cái mùi nó khác phía bờ Nga.

Ngụ ngôn của chuyện này là phê bình rất cần thiết, để mà nghe và hiểu chứ không phải là để hành động và sáng tạo. Khay mà ghé gần, tôi ăn trước đã. Khoan, khoan, đừng nói.

 

— Câu cuối, thơ [và những thứ tương tự thế] mãi tồn tại, dù chữ viết & lời nói không còn. Anh thấy đời sống - vị thế - của nhà thơ trong đời sống hiện nay như thế nào? Nhiều người nói, nhà thơ cũng giống như nhà thương, luôn có bệnh tật, tại nạn và sự cố nghề nghiệp, anh có đồng ý không?

+ Tôi thì lại thấy nhà thơ giống như là nhà… thổ, theo nghĩa buôn hương cho đời, thường là đứng ở cột đèn và vào ban đêm. Vì thơ là mạch đi thẳng vào… đời, cho nên huê lợi không được xum xuê như là gái bao, gái nhảy hay cả gái gọi. Làm thơ không cần đến một cây viết, đọc thơ không cần đến một trang giấy, thưởng thức thơ không cần đến biết đọc biết viết, về kỹ thuật, tập nhảy đầm còn khó hơn nhiều. Nhưng có lẽ chính vì thế nên nhiều nhà thơ lại cho chuyên môn của mình là cao giá nhất so với các ngành nghệ thuật. Tôi nghĩ thơ là dạng bình dân để phục vụ quần chúng, thì không kêu ca phàn nàn gì hết và chỉ có hơi ghen chút xíu với các ca sĩ.

 

La Hán Phòng, 24/9/2004.

 

 

-----------------------
Ghi chú của Tiền Vệ:
Tiền Vệ đăng bài phỏng vấn trên đây vào ngày 8.11.2004. Đến ngày 11.11.2004, toà soạn nhận được một email từ nhà thơ Đỗ Kh., trong đó ông yêu cầu Tiền Vệ đăng thêm phần "đính chính" sau đây:
        Xin cám ơn Lý Đợi đã thực hiện và Tiền Vệ đã đăng. Tuy tinh thần cuộc nói chuyện chính xác 100% nhưng nhiều chỗ rất vui (trong các dấu ngoặc “[ ]” hoặc có khi ngoặc “( )”, hoặc có khi không có ngoặc vài ba hàng, và đều không ghi chú thích …) lại là của người hỏi (LĐ) nên người trả lời (ĐK) chỉ dám nhận 97% hay liều lắm là 98%. Vì không được đọc bài trước khi gửi cho Tiền Vệ nên phiền các bạn đăng hộ đôi giòng cẩn thận này. Tất nhiên, theo 1 truyền thống (mới) đã vạch sẵn, những gì “mê sảng” đều là của người trả lời! (ĐK)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018