thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
THÁNH THI [II]
(bản dịch Diễm Châu)
Đôi lời về tác giả và tác phẩm:
ERNESTO CARDENAL thường được coi như «người đổi mới thơ Mỹ la-tinh mãnh liệt nhất kể từ Neruda». Ông sinh tại Granada, Nicaragua ngày 25.1.1925. Từng theo học văn chương và triết lý ở Mễ-tây-cơ và Hoa-kỳ (Đại học Columbia), Cardenal bước vào đời sống tu hành từ năm 1957, trở thành môn đệ của nhà thơ Thomas Merton ở tu viện Trappe, Kentucky. Ông được phong linh mục ở Managua năm 1965 sau khi đã học thần học ở Cuernavaca, Mễ-tây-cơ và ở Medellin, Colombia.
        Ngay từ những năm 1950, Cardenal đã tham gia mặt trận chống độc tài ở nước ông, sử dụng một lối viết mà ông gọi là exteriorismo để ghi lại những suy nghĩ của mình về đời sống, tình yêu, lịch sử... Trở thành bộ trưởng bộ Văn hóa trong chính quyền Sandinista ở Nicaragua, ông đã bị cả tả lẫn hữu công kích, khai trừ...
        Thánh thi (Salmos) được viết tại La Ceja, Colombia và xuất hiện lần đầu vào năm 1964 (Universidad de Antioquia, Colombia), cất lên như một tiếng kêu thống thiết chống lại mọi thứ áp bức mà con người man dã có thể áp đặt trên mọi người; rút cảm hứng từ Kinh thánh Cựu ước, dựa vào kinh nghiệm đau thương, cụ thể của Israel hôm qua, của Nicaragua và thế giới hôm nay, để nói lên với tất cả những kẻ bị đọa đày trên trái đất những khó khăn và niềm hy vọng của cuộc đấu tranh cho «một xã hội của tình yêu».
        Các thi phẩm khác thường được nhắc tới của Cardenal: 0 giờ (1954-56), Kinh cầu cho Marilyn Monroe và những bài thơ khác (1965), Ngợi ca thổ dân châu Mỹ (1969), Sống trong tình yêu (1971)... Tác phẩm của ông đã được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới. Cardenal còn là một điêu khắc gia có tài.
        Bản dịch được hoàn thành vào tháng V-VI.1990, in trong “tủ sách thơ” Trình bầy lần đầu năm 1992, tái bản năm 1999. Ngoại trừ phần ghi chú về một số tác phẩm của Ernesto Cardenal và lời bạt này, bản in năm 1992 đã được duy trì nguyên vẹn.
(1992, 1999)
[Ghi thêm, tháng Chạp năm 2004]
        Như tất cả các sách trong “tủ sách thơ” (khổ lớn) và sau này tủ sách “tư liệu thơ” (khổ nhỏ) của nhà Trình bầy ở Lộ-trấn do tôi phụ trách biên tập, Thánh thi của Ernesto Cardenal (được in hai lần, vào các năm 1992, và 1999) nhưng chưa một lần được công bố ở Việt-nam, cả ở “miền” bắc lẫn ở “phía” nam, mặc dù bản dịch nguyên thủy đã được đề tặng Linh mục Chân Tín và Anh Nguyễn Ngọc Lan!
        Khi bản in lần đầu xuất hiện ở Paris, tôi được một nhà thơ trẻ Việt-nam khá nổi tiếng trong giới văn nghệ hải ngoại cho biết: “anh em (cánh tả) không được hài lòng với cuốn sách này..” (ngụ ý về nội dung). Thoạt đầu tôi không được vui nhưng dần dần, về sau, tôi mới thấm cái hạnh phúc của một khám phá mới: thì ra tôi không thấy mình có một “nghĩa vụ” nào đối với cả cánh tả lẫn cánh hữu... Tôi thầm cảm ơn người bạn trẻ vì chợt hiểu vì đâu Ernesto Cardenal, để tỏ lòng mộ mến đức Giáo chủ tại vị, đã có thể quỳ xuống bên đường chờ được hôn tay Ngài (và bị “hất hủi”), nhưng đằng khác, lại khăng khăng không tuân lệnh Ngài về những chuyện “phần đời”... Vinh quang, tham vọng hay cả đến “tình trạng ân nghĩa cùng bề trên”,.. cũng không thể thay thế được cái nhu cầu yêu thương đối với người đồng loại. Sống bóc lột, man trá và áp bức đến tột cùng đám dân đen hèn mọn, khốn khổ, là bọn ăn thịt người, không phân biệt tả hữu. “Sống trong tình yêu”, ấy nghĩa vụ và lý tưởng của những người như Cardenal, “một nhà thơ”!
        Với mấy ý nghĩ “bên lề” nói trên, tôi hân hạnh gửi tới bạn đọc Tiền Vệ lần này tập Thánh thi của Ernesto Cardenal, như một món quà mọn nhân dịp những ngày lễ cuối năm.
Diễm Châu
________________________________
 
 
Ernesto Cardenal (1925~)
THÁNH THI [II]
(Salmos)
 
Bản dịch này để tặng
Lm. Chân Tín và Anh Nguyễn Ngọc Lan
DC.
 

CÁC CỔ PHẦN CỦA CHÚNG TỰA NHƯ CỎ NGOÀI ĐỒNG

Thánh thi 36
 
Ngươi đừng nóng nảy
nếu ngươi thấy chúng làm ra bạc triệu
các cổ phần thương mại của chúng
                 tựa như cỏ ngoài đồng
 
Ngươi đừng ghen với những kẻ triệu phú hoặc những ngôi sao màn ảnh
những kẻ có mặt trên 8 cột báo
những kẻ sống trong những khách sạn lộng lẫy
và ăn uống trong những cao lầu xa hoa
 
Vì chẳng bao lâu nữa tên chúng sẽ không còn trên báo chí
và ngay những người uyên thâm cũng không biết tới tên chúng
           vì chẳng bao lâu nữa chúng sẽ bị phát đi
                  như cỏ ngoài đồng
 
Ngươi đừng nóng ruột với những sáng chế của chúng
           hay sự tiến bộ kỹ thuật của chúng
 
Nhà lãnh đạo mà ngươi thấy đó
chẳng bao lâu nữa ngươi sẽ không còn thấy hắn
Ngươi tìm hắn trong lâu đài của hắn
           nhưng ngươi sẽ không gặp hắn nữa
 
Những người hiền hòa sẽ là những nhà lãnh đạo mới
           (Những người «có lòng hiếu hòa»)
 
Chúng mở rộng các trại tập trung
chúng sáng chế những trò tra tấn mới
Ban đêm chúng không ngủ để thảo kế hoạch
để kế hoạch hóa cách đè bẹp chúng ta hơn nữa
                        cách khai thác chúng ta hơn nữa
 
Nhưng Chúa cười ngạo chúng
vì Người thấy sắp tới ngày uy quyền chúng sụp đổ
Các vũ khí chúng chế tạo sẽ quay ra chống lại chúng
các hệ thống chính trị của chúng sẽ bị xóa đi trên trái đất
các đảng phái chính trị của chúng sẽ không còn nữa
những kế hoạch của các chuyên viên của chúng sẽ trở thành vô dụng
 
Các cường quốc
                        tựa như hoa đồng nội
Các đế quốc chủ nghĩa
                        tựa như khói
 
Chúng dò thám chúng ta suốt ngày
Chúng đã sắp sẵn các bản án
 
Nhưng Chúa sẽ không giao phó chúng ta cho Công an của chúng
Người sẽ không cho phép
chúng lên án chúng ta trong Phán quyết
 
Tôi đã thấy chân dung tên độc tài ở khắp chốn
           — hắn vươn dài ra như cây kia còn tươi tốt —
tôi trở lại
                       hắn không còn đó nữa
Tôi tìm kiếm nhưng tôi không thấy hắn
Tôi tìm kiếm nhưng không còn một tấm chân dung nào
và không ai còn thốt ra được tên hắn.
 
 

BỞI CHÚNG TÔI KHÔNG ĐẶT TIN TƯỞNG NƠI VŨ KHÍ

Thánh thi 43
 
Chính tai chúng tôi đã nghe thấy
tổ tiên chúng tôi đã thuật lại cho chúng tôi câu chuyện
những gì Người đã làm với họ
                                   ở thời xa xưa
Người đã ban cho Israel những chiến thắng
              bởi chúng tôi không đặt niềm tin tưởng
              nơi vũ khí
              và các chiến xa không dành cho chúng tôi chiến thắng
     
Nhưng bây giờ Người đã bỏ rơi chúng tôi
Người đã củng cố các hệ thống cai trị của chúng
Người đã yểm trợ chế độ và Đảng chúng
Chúng tôi là những kẻ thất xứ
chúng tôi là những kẻ tỵ nạn không có giấy tờ
những kẻ bị giam cầm trong các trại tập trung
             những kẻ bị lên án lao động khổ sai
những kẻ bị lên án tử hình trong phòng hơi ngạt
             những kẻ bị thiêu đốt trong những lò thiêu
                             và tro tàn vung vãi
 
Chúng tôi là dân Người ở Auschwitz
             ở Buchenwald
                                  ở Bilsen
                                               ở Dachau
 
Với da chúng tôi chúng làm những chụp đèn
với mỡ chúng tôi chúng làm xà-bông
 
Như chiên non tới lò sát sinh
Người đã khiến chúng dẫn chúng tôi tới những phòng hơi ngạt
Người đã khiến chúng tôi bị đầy ải
            Người đã cho đi dân Người với giá rẻ
                      mà không có kẻ mua
Chúng tôi đã đi như bầy súc vật
                      dồn đống trên những toa tầu
tới những căn trại đèn rọi chiếu sáng
và thép gai vây bọc
dồn đống trên những xe vận tải tới các phòng hơi ngạt
nơi chúng tôi bước vô trần truồng
            nơi bọn chúng đóng sập cửa
            và tắt đèn
            VÀ NGƯỜI ĐÃ BAO PHỦ CHÚNG TÔI BẰNG BÓNG TỐI SỰ CHẾT
 
Của chúng tôi chỉ còn lại những đống áo quần
những đống đồ chơi xoàng xĩnh
                                          và những đống giầy dép
 
Nếu như chúng tôi đã quên tên Chúa của chúng tôi
Nếu như chúng tôi đã đánh đổi lấy những kẻ lãnh đạo khác
thì Người, Người chẳng biết hay sao?
 
Người, Người không cần Mật vụ
vì Người biết rõ những bí ẩn của con tim?
 
Hết mọi ngày chúng buộc chúng tôi phải nghe xướng danh
để nghe tên
những kẻ chúng dẫn tới lò
 
Suốt ngày chúng giao chúng tôi cho tử thần
như chiên con dành cho lò sát sinh
Người đã đặt chúng tôi trần truồng trước họng súng phóng lửa
Dân Người, chúng đã gạch bỏ khỏi bản đồ
                     không còn trong sách Địa lý
 
Chúng tôi lang thang không thông hành từ xứ này qua xứ khác
không giấy tờ căn cước
 
Và Người, Người lúc này là một Thượng đế lẩn lút
Tại sao Người giấu mặt
quên lãng cảnh ruồng bắt và áp bức chúng tôi?
 
Người hãy thức dậy
            hãy cứu giúp chúng tôi!
 
Vì chính uy danh Người!
 
 

HÃY NGHE TÔI NÓI HỠI TOÀN THỂ CÁC DÂN TỘC

Thánh thi 48
 
Hãy nghe tôi nói hỡi toàn thể các dân tộc
         Hãy lắng nghe, hết thảy các người, những kẻ
                                                ngụ cư trên trái đất
người thứ dân cũng như kẻ quyền quí
người vô sản cũng như kẻ triệu phú
                 mọi giai tầng xã hội
 
Tôi sẽ nói bằng ngạn ngữ
         và những lời khôn ngoan
                 đệm theo bằng tiếng hạc cầm
 
         «Tại sao tôi, tôi lại phải sợ những cuộc bắt bớ
         của những kẻ đặt tin tưởng nơi một ngân hàng
         và an toàn trong một khế ước bảo hiểm?»
 
Ta không thể mua sinh mạng với một ngân phiếu
các cổ phần của nó rất cao
không thể trả bằng tiền
 
Sống mãi và không bao giờ thấy mộ phần:
không ai có thể mua được cái Khế ước Bảo hiểm ấy!
 
Bọn chúng nghĩ mình sẽ sống mãi
và mãi mãi chúng sẽ nắm quyền
và chúng lấy tên mình đặt cho đất đai của chúng
đặt cho tất cả những tài sản chúng cướp giật
chúng bỏ tên các thành phố
lấy tên mình thế vô
Tượng đài chúng nằm trên mọi quảng trường
Và giờ đây ai còn nhắc tới chúng?
Các tượng đồng của chúng bị lật nhào
những tấm biển đồng bị vứt bỏ
Giờ đây Lâu đài của chúng là một cái Lăng
Vậy thời ngươi đừng nóng vội
nếu ngươi thấy có kẻ làm giầu
nếu như hắn có bạc triệu
và nếu như vinh quang nhà hắn lớn thêm
và nếu như ấy là một Kẻ Mạnh lúc này
Bởi trong cái chết sẽ không còn một chính phủ
cũng chẳng còn một Đảng nào
Cho dù, trong suốt cuộc đời hắn
báo chương chính thức tuyên dương:
«Mọi người sẽ ngợi ca Ngài vì Ngài đã đạt toàn phúc»
Hắn sẽ phải về nơi ở của tổ tiên
để không bao giờ còn thấy ánh sáng
Thế nhưng con người được ban cho chức năng cao nhất
không để tai nghe kẻ nắm quyền hành
tên cai trị to béo, ngực đầy huy chương
hắn cười và ngỡ rằng mình không bao giờ chết
mà không biết rằng mình cũng như loài thú vật
sẽ phải chết vào ngày Đại lễ.
 
 

GIÊRUXALEM LÀ MỘT ĐỐNG ĐỔ NÁT

Thánh thi 78
 
Hỡi Thượng đế
Giêrusalem là một đống đổ nát
Máu dân Người đã tràn lan ngoài đường
chảy khắp các đường mương
                           trôi đi trong cống rãnh
 
Tuyên truyền đã lường gạt chúng tôi
và các khẩu hiệu oán thù vây quanh chúng tôi
 
Cho tới khi nào, lạy Chúa, Người còn giận dữ chúng tôi?
Cho tới khi nào, Người còn bừng bừng cơn thịnh nộ
như ngọn lửa nguyên tử
không thể dập tắt bằng nước?
Tại sao kẻ vô thần có thể nói
                                   «Thượng đế của chúng đâu?»
 
Hãy lọt tới tai Người
tiếng rên xiết của các tù nhân
và lời nguyện cầu của những kẻ bị kết án khổ sai
và của những người bị kêu án tử hình
và lời nguyện cầu trong trại tập trung
 
Và chúng tôi
               dân Người
Chúng tôi sẽ ngợi ca Người mãi mãi
và chúng tôi sẽ hát ca Người
                                    đời đời
                                             kiếp kiếp.
 
 

HỠI THƯỢNG ĐẾ CỦA BÁO CỪU

Thánh thi 93
 
Hỡi Thượng đế của báo cừu
hỡi Thượng đế của báo cừu
                                           Người hãy lộ diện!
           Cho tới khi nào, lạy Chúa?
Cho tới khi nào Đảng chúng còn đắc thắng?
Ngôn từ của chúng rặt tuyên truyền
                      và chúng chỉ nói bằng khẩu hiệu
Xin hãy bênh vực, lạy Chúa, những người bị khai thác
                      và những giai cấp bị áp bức
Bọn vô thần nói không có Chúa
«Ấy là những sức mạnh mù quáng của Thiên nhiên»
                      chúng bảo thế
Hoặc: «Ấy là cái Vô thức»
 
Kẻ tạo ra các buồng của lỗ tai
                      lại chẳng nghe thấy sao?
Kẻ sáng chế phòng nhiếp ảnh của con mắt
                      lại chẳng nhìn thấy sao?
 
Mọi ý nghĩ của chúng tôi đều có trong văn khố của Người
Mọi ngôn từ của chúng tôi đều được ghi khắc
Lạy Chúa, phúc cho người được Chúa chỉ dạy
được Chúa ban cho sự khôn ngoan
Kẻ ấy sẽ không cần tới thuốc an thần
                                                 để được thanh thản
 
Chúa không bỏ rơi dân Người
Chúa không bỏ mặc những kẻ bị khai thác vô phương cứu giúp
Sẽ có một ngày công lý trở lại
nơi pháp đình
và các thẩm phán sẽ công minh
Ai là những kẻ đứng về phía chúng tôi
nếu Chúa không bênh vực chúng tôi
thời chúng tôi hẳn đã bị bọn chúng thanh toán
Trong những cuộc bắt bớ rộng lớn
những lời chỉ bảo của Người bồi bổ tâm hồn tôi
Có thể nào bọn độc tài lại là đồng minh của Người?
 
Chúa là kẻ bênh vực tôi
Người sẽ phóng trả bọn chúng những ngọn đòn của chính chúng
bằng chính hệ thống chính trị của chúng Người sẽ tận diệt chúng
Chúa sẽ tận diệt bọn chúng.
 
 

NHƯ TRÊN BÀN XOAY CỦA NGƯỜI THỢ GỐM

Thánh thi 103
 
Hãy cảm tạ Chúa hỡi linh hồn ta
Lạy Chúa là Chúa của tôi Người thật là vĩ đại
               Người khoác năng lượng nguyên tử
               như một tấm áo choàng
 
Từ một đám mây bụi vũ trụ đang xoay vần
như trên bàn xoay của người thợ gốm
Người đã khởi sự rút ra những đường xoắn ốc của các thiên hà
và luồng khí dưới những ngón tay Người đặc lại và sáng lên
và Người đã nắn các vì sao
       như những bào tử hoặc hạt mầm Người đã rắc các hành tinh
và rải những ngôi sao chổi như rải những đóa hoa
Trọn địa cầu là một biển những lớp sóng đỏ au
sắt và đá đỏ hòa tan
               dâng lên hạ xuống với thủy triều
và nước lúc ấy toàn là hơi
và những đám mây dầy đặc rộng lớn phủ trùm bóng tối
               lên mặt đất
và trời bắt đầu mưa bắt đầu mưa
               qua bao thế kỷ
      một trận mưa dài qua bao thế kỷ
               trên những lục địa đá
và sau những thời kỳ dài lâu vô hạn xuất hiện những biển
và núi non khởi sự trồi lên
                     (đất đang sinh nở)
khởi sự lớn lên như những con thú lớn
và chịu nước soi mòn
(và còn lại ở đó như những đổ nát của các thời kỳ này
                     như một tàn tích chồng chất)
và phân tử đầu tiên
nhờ hiệu quả của nước và ánh sáng có khả năng sinh sản
và vi khuẩn thứ nhất tách ra
và trong thời Tiền địa tằng tối cổ
cây rong biển đầu tiên nhỏ bé và trong vắt
được nuôi dưỡng bằng năng lượng mặt trời
và những loài có chiên mao trong suốt
tựa những chuông nhỏ bằng pha lê
hay những đóa hoa trong như keo
lay động và sinh sản
(và từ đó nảy sinh tạo vật ngày nay)
Và kế đó là những loài hải miên đầu tiên
những con sứa như bằng chất dẻo
những giống thủy mẫu có miệng và dạ dầy
và những loài nhuyến thể đầu tiên
và những loài có lớp da ngoài đầu tiên:
hải tinh và nhím biển
Khởi đầu thời Địa tằng tối cổ
một lớp bọt biển bao trùm khắp đáy biển
tạo nên những đá ngầm suốt hai địa cực
giữa thời Địa tằng tối cổ mọi thứ đều chết
và những san hô đầu tiên nở hoa
lấp kín đáy biển bằng những nhà chọc trời đỏ
Trên những dòng nước của thời kỳ Silurien
những chiếc còng đầu tiên: những con bọ cạp biển
và vào cuối thời kỳ này là con cá phàm ăn đâu tiên
tựa một con cá mập nhỏ (nó đã có hàm dưới)
Rong biển trở thành những cây lớn trong thời kỳ Devon
chúng đã biết hô hấp
chúng vung vãi những bào tử
và bắt đầu mọc thành rừng
và những cành đầu tiên và những chiếc lá đầu tiên nảy sinh
Những động vật thấp kém đầu tiên xuất hiện trên đất cứng
những bọ cạp và nhền nhện
xa lánh sự tranh đua đang hoành hành ngoài biển
những chiếc vây lớn dần
những động vật có thể sống cả ở trên cạn lẫn dưới nước đầu tiên xuất hiện
những chiếc vây trở thành chân
Những cây mập và mềm sinh trưởng
trong vùng đầm lầy của Nguyên đại Cựu sinh
Lúc đó chưa có hoa
Các côn trùng xuất hiện
Những con khủng long và chim chóc ra đời
và những bông hoa đầu tiên
được những cánh ong đầu tiên ghé thăm
Đến Nguyên đại Trung sinh
rụt rè xuất hiện những động vật có vú
nho nhỏ và máu ấm
những động vật có vú sinh nở nuôi con
và cho con bú
và trong thời Eocen là loài hồ viên
         ẩn dưới cành cây
và giống nghĩ hầu
có những con mắt trông được hình nổi như loài người
và bắt đầu Đệ tứ kỷ Chúa đã tạo ra con người
Chúa ban cho con gấu ở Bắc cực bộ áo màu băng
cho con cáo ở Bắc cực tấm áo màu tuyết
con chồn rái, Người đã khiến mùa hè thì nâu mùa đông thì trắng
và con bọ ngựa, Người đã cho lớp ngụy trang
và Người đã ngụy trang loài bướm
với những màu sắc của hoa
Người đã dạy giống hải ly
cách đắp đê bằng những khúc cây
        và xây nhà trên mặt nước
con ve sầu sinh ra
biết bay biết ca hát và thức ăn của nó thế nào
và con ong vò vẽ biết tìm thân cây
để đặt trứng
và con nhện biết dệt tấm lưới của mình
 
Giống cò ngay từ lúc mới sinh đã biết
đâu là phương Bắc và phương Nam
Chúa đã ban cho con báo sự mau lẹ
cho con nhái sống trên cây những ống hút
và cho con bướm đêm khứu giác
        để ngửi thấy mùi con cái trong đêm
              từ cách xa 2 dặm
và cho giống tôm cua những bộ phận chiếu sáng
và với loài cá ở dưới vực sâu
Người đã ban cho những con mắt nhìn thấy hình nổi
và với loài cá chạch những pin điện
Người đã đặt ra những cơ chế
thụ tinh của loài hoa
Người ban cho những hạt mầm đôi cánh để bay trong gió
những lớp màng như thể chúng là những cánh bướm
những loài khác có sơ tua để trôi trong gió
hoặc rơi xuống như những lọn tơ
                                    hay như những cánh quạt
                                         hay như những chiếc dù
hoặc bơi trên làn nước
như những con thuyền đi tìm những nuốm nhị
và phấn hoa luôn rành rẽ con đường chính xác
không ngại ngần vượt qua bầu nhị
tìm tới gặp phôi châu
 
              Lạy Chúa con mắt của muôn loài ngóng đợi nơi Người
              và Người ban cho mọi thứ của ăn đúng lúc
 
Người mở bàn tay
ban muôn điều lành cho mọi loài
Với loài kiếm túc mọn hèn Người ban cho khuê tảo
Những bông hải quỳ đòi Người cho ăn
(những giống hoa hung dữ và háu đói)
                                        và Người cấp dưỡng chúng
Loài trùng biển trong suốt
               đòi Người cho ăn với những chiếc vòi đói khát
Người ban rong bể và cua cho chim cộc
và lũ con nó
và với trái phao Người ban các loài sò ốc mềm mại
Lũ chim sẻ của Người không kho lẫm cũng chẳng có máy kéo
nhưng Người ban cho chúng thóc lúa từ những xe vận tải rơi rớt
trên đường
                   khi những xe này chạy về các kho lẫm
và con chim sâu được Người ban cho mật hoa
Chính Người đã ban hạt lúa mềm cho con chim ăn lúa
và cá cho chim bói cá và bạn nó
và ngày nào chim hải âu cũng gặp được cá
và đêm nào con cú mèo cũng gặp được
ếch nhái và chuột
Chính Người đã dọn bữa cho con cu gáy gồm có sâu
và những côn trùng lông lá
                             Người ban dế cho con quạ
và Người ban côn trùng
cho con dế gáy trong hang hốc
Chính Người đã ban cho chim gõ mõ những trái đỏ nho nhỏ
và dư thừa trái không sao ăn hết
Con sóc có vạch ngon giấc suốt mùa đông
và khi tỉnh dậy đã có sẵn những hạt
Người mở những cánh hoa xuân đầu tiên
khi những con bướm đầu tiên
bay ra khỏi vỏ nhộng
Người mở những cánh hoa buổi sáng
cho lũ bướm ngày
và Người khép những cánh hoa ấy ban chiều, khi chúng đi ngủ
Người mở những đóa hoa đêm
cho những cánh bướm đêm
suốt ngày nằm
ngủ yên trong những xó tối
và bắt đầu bay lượn khi chiều xuống
Người đánh thức lũ ong đất từ giấc ngủ mùa đông
đúng vào ngày Người mở những đóa hoa của rặng liễu
 
Tôi sẽ ngợi ca Chúa bao lâu tôi còn sống
Tôi sẽ viết cho Người những bài thánh thi
               Ước chi ca khúc của tôi làm vui tai Người
Hãy cảm tạ Chúa, hỡi linh hồn ta
               Alleluia!
 
 

KHI ISRAEL BƯỚC RA KHỎI NHỮNG TRÚ KHU BIỆT LẬP

Thánh thi 113
 
Khi Israel bước ra khỏi các trại tập trung của Ai-cập
những trú khu biệt lập chúng sử dụng để giam cầm chúng tôi
             núi non nhảy lên như những con cừu
             và những ngọn đồi như những bầy chiên non...
 
Không phải vì chúng tôi lạy Chúa không phải vì chúng tôi
xin Người hãy làm điều đó vì vinh danh Người!
 
Tại sao kẻ vô thần có thể nói
             «Thượng đế của chúng đâu?»
 
Thần tượng của bọn chúng là những lãnh tụ chính trị
và những ngôi sao màn ảnh
— những hình thù bôi phết trên bích chương
                       nghệ thuật con buôn —
Chúng có miệng mà không nói
                       chúng có mắt mà không thấy
chúng có tai mà chẳng nghe
                       chúng có mũi mà không ngửi
Ấy là những hư tưởng của đầu óc bọn chúng
những điều thuần trừu tượng
Tựa như chúng là những kẻ tạo ra chúng
                      và những kẻ đặt tin tưởng nơi chúng.
 
 

TÔI KÊU TRONG ĐÊM TỐI TRONG PHÒNG TRA TẤN

Thánh thi 129
 
Từ dưới vực sâu tôi kêu lên cùng Chúa!
Tôi kêu trong đêm tối nơi ngục tù
và trong trại tập trung
Trong phòng tra tấn
vào giờ tăm tối
xin hãy nghe tiếng tôi
            tiếng tôi kêu cứu
 
Lạy Chúa, nếu Người nhớ đến tội lỗi
thời ai thoát khỏi?
Nhưng Người, Người tha thứ mọi tội lỗi
Người không nung nấu căm hờn như bọn chúng
                                         trong Sở Tình báo!
 
Tôi, tôi tin ở Chúa
chứ không tin ở bọn lãnh đạo
chứ không tin ở những khẩu hiệu
Tôi tin ở Chúa
chứ không tin ở các đài phát thanh của chúng!
 
Linh hồn tôi trông chờ Chúa
hơn quân canh trông đợi hừng đông
hơn người ta đếm từng giờ ban đêm
trong ngục tối
 
Trong lúc chúng tôi, chúng tôi là tù nhân
               bọn chúng tưng bừng mở hội!
 
Nhưng Chúa là giải thoát
là tự do của Israel.
 
 

LẠY CHÚA LÒNG TÔI KHÔNG KIÊU CĂNG

Thánh thi 130
 
Lạy Chúa, lòng tôi không kiêu căng
 
Tôi, tôi không muốn là triệu phú
chẳng muốn làm lãnh tụ
          cũng chẳng muốn làm Thủ tướng
 
Tôi không mong mỏi những chức vụ công quyền
và tôi không chạy theo những huy chương
 
Tôi, tôi không có sản nghiệp cũng chẳng có sổ chi phiếu
          và không một Bảo hiểm Sinh mạng
          nhưng tôi đầy bảo đảm
Như đứa trẻ ngủ yên trong tay mẹ...
 
Israel đặt tin tưởng nơi Chúa
         (chứ không phải nơi lãnh đạo)
 
 

BÊN NHỮNG DÒNG SÔNG CỦA BABYLON

Thánh thi 136
 
Bên những dòng sông của Babylon
chúng tôi ngồi và chúng tôi khóc
nhớ tới Sion
Khi nhìn những nhà chọc trời của Babylon
và ánh sáng phản chiếu trên dòng sông
ánh sáng những hộp đêm và quán rượu của Babylon
và khi nghe âm nhạc của chúng
                  chúng tôi khóc
 
Trên cành liễu bên bờ
chúng tôi treo những cây huyền cầm
trên những cành liễu rủ
                  và chúng tôi khóc
 
Và những kẻ bắt bớ chúng tôi đem đi
yêu cầu chúng tôi hát cho bọn họ
một bài hát của quê hương
«những bài dân ca của Sion»
Làm sao hát trên đất khách
những bài thánh ca của Sion?
 
Lưỡi ta hãy héo khô
miệng ta hãy nảy ung thư
nếu ta không nhớ tới ngươi
                  Giêrusalem!
nếu ta không yêu quí Giêrusalem
hơn cái vui của bọn chúng
hơn mọi hội lễ của bọn chúng!
 
Hỡi Babel vũ trang những trái bom!
                                                      Kẻ tàn phá!
 
Phúc cho người nắm lấy con cái ngươi
                — những tạo vật của các phòng thí nghiệm —
và xô chúng tan tành trên đá tảng!
 
 

HÃY NGỢI KHEN CHÚA HỠI CÁC TINH VÂN

Thánh thi 148
 
Hãy ngợi khen Chúa
hỡi các tinh vân như những vết bụi nhỏ li ti
           trên những tấm kính ảnh
Hãy ngợi khen Chúa
           hỡi Sirius và bạn đồng hành
           và Arturus và Alderaban và Antarès
Hãy ngợi khen Chúa hỡi các vẫn thạch
            và các quỹ đạo bầu dục của những ngôi sao chổi
           và các vệ tinh nhân tạo
Hãy ngợi khen Chúa
           hỡi tầng khí quyển và tầng tĩnh khí
           hỡi các quang tuyến và sóng từ điện
Hãy ngợi khen Chúa
           hỡi các nguyên tử và phân tử
           hỡi các dương tử và điện tử
           hỡi các nguyên sinh động vật và phóng xạ trùng
Hãy ngợi khen Chúa
           hỡi các loài kình ngư và tàu ngầm nguyên tử
Hãy ngợi khen Chúa
                           hỡi chim chóc và máy bay
Hãy ngợi khen Chúa hỡi các tinh thể hình lục lăng của tuyết
và những khối lăng trụ màu bích ngọc của sulfate đồng
                        — trong ống kính hiển vi điện tử —
những đóa hoa có huỳnh quang dưới đáy biển
những giống khuê tảo như một chuỗi kim cương
                        và Diadema và Antillarum
            Anurida Maritima và Ligia exotica
Hãy ngợi khen Chúa
hỡi Hạ chí tuyến và Vòng Bắc cực
hỡi những cơn bão của Bắc Đại tây dương và dòng Humboldt
những khu rừng âm u của vùng Amazone
                       những hải đảo của vùng Biển Nam
những hỏa diệm sơn và đầm nước mặn
                       và trăng trên biển Caraib xuyên qua
                       bóng dừa                
Hãy ngợi khen Chúa
            hỡi các nước cộng hòa dân chủ
                       và Liên hiệp quốc
Hãy ngợi khen Chúa
           hỡi cảnh sát và sinh viên và các thiếu nữ xinh đẹp
Vinh quang Người vượt qua trái đất và các tầng trời
                       vượt qua các kính viễn vọng và kính hiển vi
Chính Người đã làm lớn dậy dân Người
                       Israel đồng minh của Người
 
                                 Alleluia.
 
 

VŨ TRỤ LÀ MẬT ĐIỆN CỦA NGƯỜI

Thánh thi 150
 
Hãy ngợi khen Chúa trong vũ trụ
              mật điện của Người
với bán kính 100.000 triệu năm ánh sáng
Hãy ngợi khen Người qua các vì sao
                      và không gian giữa các vì sao
Hãy ngợi khen Người qua các thiên hà
                      và không gian giữa các thiên hà
Hãy ngợi khen Người qua những nguyên tử
                      và khoảng không giữa các nguyên tử
Hãy ngợi khen Người với vĩ cầm và ống tiêu
                      và với kèn sắc-xô
Hãy ngợi khen Người với kèn sáo và tù-và
                      với kèn quân và kèn thụt
Hãy ngợi khen Người với cổ đại vĩ cầm và đại vĩ cầm
       với đàn dương cầm và dương cầm cơ khí
Hãy ngợi khen Người với điệu blues và nhạc jazz
       và với những dàn đại hợp tấu
với những bài thánh ca da đen
                      và hòa tấu khúc số 5 của Beethoven
       với lục huyền cầm và đàn marimba*
Hãy ngợi khen Người với máy hát
                      và băng nhựa
Hãy ngợi khen Chúa tất cả những gì có hơi thở
              mọi tế bào sống động
                      Alleluia.
 
--------------------------
* mộc cầm của người châu Phi hoặc châu Mỹ. (người dịch)
 
____________________________________
 
Phụ lục:
ERNESTO CARDENAL (1925~)
MỘT SỐ TÁC PHẨM:
 
1932  viết bài thơ đầu tiên, một bài ca ngợi Rubén Darío.
1943-45  viết Carmen y otros poemas, thi phẩm đầu tiên, không in và, theo ý tác giả, sẽ không in trong lúc ông còn sống.
1946  đăng một số thơ tình trên báo Mễ; viết «Proclama del conquistador», bài thơ dài đầu tiên dựa trên lịch sử.
1949  viết «Raleigh».
1950  viết Con Walker en Nicaragua (Với Walker ở Nicaragua).
1951  dịch thơ Bắc Mỹ với José Coronel Urtecho.
1952  Con Walker en Nicaragua được giải Bách chu niên Managua. Viết những bài thơ vui ngắn nối kết các đề tài tình yêu và chính trị.
1954-56  viết La hora 0; gọi lối viết của mình là exteriorismo. Dịch Catullus và Martial.
1959  xuất bản La hora 0.
1960  xuất bản Gethsemani, Ky. (thơ) và một bản dịch thơ Pound: Varios «no», dùng làm tuyên ngôn exteriorista.
1961  xuất bản Epigramas: poemas và tập thơ dịch Thomas Merton.
1963  xuất bản tập thơ dịch chung với Coronel gồm một số thơ Bắc Mỹ hiện đại. Thomas Merton in thơ ông dịch Ernesto Cardenal trong Emblems of a Season of Fury.
1965  xuất bản Oración por Marilyn Monroe y otros poemas.
1966  xuất bản El estrecho dudoso.
1967  xuất bản Salmos (Thánh thi) viết tại La Ceja; 2 tuyển tập thơ; và những bài dịch thơ Pound (với Coronel) trong El corno emplumado.
1969  xuất bản Homenaje a los Indios Americanos.
1970  xuất bản Vida en el amor, với lời đề tựa của Merton đề năm 1966.
1971  xuất bản La hora cero y otros poemas và ba tuyển tập thơ; Psalms of Struggle and Liberation, bản dịch của Amile G. McAnany; Prayer for Marilyn Monroe and Other Poems, bản dịch Jonathan Cohen.
1972  xuất bản En Cuba, văn xuôi, thuật lại chuyến đi Cuba; và Canto Nacional, đề tặng Mặt trận Sandinista Giải phóng Dân tộc. Bản dịch To Live Is to Love (Vida en el amor) của Kurt Reinhardt.
1973  xuất bản Oráculo sobre Managua; Homage to the American Indians, bản dịch của Carlos và Monique Altschul.
1974  In Cuba, bản dịch của Donald D. Walsh và Love (Vida en el amor), bản dịch của Dinah Livingstone.
1975  xuất bản El Evangelio en Solentiname, một tập đối thoại ghi âm; Marilyn Monroe, and Other Poems, do Robert Pring-Mill dịch.
1976-1980  The Gospel in Solentiname, bản dịch Walsh (4 cuốn).
1976  xuất bản La Santidad de la Revolución, văn xuôi và thơ.
1977  Apocalypse and Other Poems, gồm một số bài thơ ngắn của E. Cardenal, bản dịch của Thomas Merton, Pring-Mill, Rexroth, và Walsh.
1980  Zero Hour and Other Documentary Poems, bản dịch Paul W. Borgeson, Cohen, Pring-Mill, và Walsh. Cardenal được tặng Giải thưởng Hòa bình của Hội các nhà xuất bản Đức vì phát hiện «tình yêu như một yếu tố thiết yếu để thay đổi xã hội».
1981  xuất bản Tocar el cielo, những bài thơ mới; và Psalms (Thánh thi), bản dịch của Thomas Blackburn và những người khác.
1984  With Walker in Nicaragua and Other Early Poems bản dịch Cohen.
1985  xuất bản Vuelos de victoria (thơ) nhân dịp sinh nhật thứ 60 của Cardenal; bản dịch Anh văn tập thơ này: Flights of Victory của Marc Zimmerman và những người khác.
1986  From Nicaragua with Love (thơ 1979-1986), bản dịch Cohen.
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018