thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
CÂU CHUYỆN TRUYỀN KỲ CỦA NOVGORODE
(bản dịch Diễm Châu)
 
DỊCH THEO BẢN PHÁP VĂN “HỒI PHỤC” DƯỚI SỰ
ĐIỀU KHIỂN CỦA MIRIAM CENDRARS *
 
BLAISE CENDRARS
(1887-1961)
 
Chỉ lúc đó tôi mới là một nhà thơ thực sự.
 
Khi người ta mười bảy tuổi – như Arthur Rimbaud[1] đã nói –
người ta chỉ có thơ và tình ái trong đầu... Ấy cũng là cùng một buổi chiều ngột ngạt,
những cây ti-dơn khiến ta say như rượu bia München. Và gió nghế ngái
nếm mùi bọt sủi của những cánh bướm bao quanh bóng đèn đường... Và các biệt thự của những nhà vị vọng người Thụy-sĩ
như những đàn cừu hồng lanh lẹ bước xuống máng nước.[2]
 
Và tôi, như một kẻ mơ đi, tôi từ lầu năm bước xuống men theo rãnh nước;
tôi, ngày hôm ấy, tôi bỏ trốn nhà cha tôi.[3]
 
Tôi muốn ngụp lặn trong cuộc sống của thơ
và vì thế tôi cần phải băng qua thơ của cuộc sống.
Tôi là người Hà-lan Biết bay, bên dưới tôi lấp lánh những thời kỳ và định mệnh
và những đám mây đen tối của thương đội theo tôi thật vất vả và tôi, tôi cuốn hút chúng về phương Đông
nơi đang chờ đợi chúng tôi Novgorode –vương quốc của kim tiền nặc mùi[4]
những tấm lông thú mà, từ Địa cực, từ những thương cục và những căn chòi bằng thông của họ,
những cung thủ với gương mặt người Mông-cổ đem tới cho chúng tôi, đòi đổi lấy vodka.
 
 
 
Những bình nguyên lóe sáng như lông chồn trắng trong ánh tà huy,
lấm chấm điểm những con quạ trên nền tuyết mới... Tôi nhìn ngắm những đám tuyết và tôi thấy như trong mơ
những hàng dài các thày tu đang bước tới
Đấng Thượng đế kiên trì của họ.
Trong một cuốn sách lớn với mùi sáp, tôi đã đọc câu chuyện của nó.
Tôi là thày tu đang nghiêng mình tụng niệm trên cuốn sách này
cuốn sách bằng những chiếc cánh đã úa vàng trơ trụi
lướt trên khoảng bao la của các thế kỷ và các vương quốc
để chứng tỏ với chúng ta hết thảy rằng lần lượt biến đi và trở lại
những gì từng hiện hữu với chúng ta... Nhưng cuộc sống không cùng vẫn bất biến!
Ngòi viết tôi nghiến rít và cơn sốt của tôi bốc lên trong lúc tôi ngây ngô theo đuổi
danh tiếng; và dưới lớp bìa thiếp vàng của cuốn sách, tôi thấy chính tôi,
là người tu sĩ trong bóng mờ của ngôi giáo đường chính thống.
Và những từ mà tôi buông rơi là những đồng tiền vàng[5]
tôi phải trả cho bọn lái buôn
trước khi có thể phóng chúng vào thế giới.
 
 
 
Hai bàn tay tôi vuốt ve làn ngực mềm của những người đẹp dịu dàng nhất,
và bằng những bàn tay này tôi vặn cổ cả ngàn tên lái buôn chán ngấy và kiêu căng
– cả tôi nữa, tôi cũng là một tên lái buôn có thế lực, tế nhị phớt qua
những gì phải chi trả bằng tiền của của tôi... Nhưng, trong thực tế, tôi cũng đã chẳng thể chạm hờ
một lớp da thịt thơm tho vừa dịu mềm vừa ấm
như tuyết... hay khe trũng, cũng thật nóng, dịu mềm và mịn mướt
mà con thú bén nhạy trong người tôi hướng tới.
 
Ở miền Bắc là nơi bầu trời lật úp như một cái thùng tròn
thế giới toàn bằng sữa, và cố nhiên
gỉải Ngân hà sẽ không bao giờ khô cạn, và là nơi trăng, cục bơ tươi, trôi nổi –
miền Bắc này, có thực là tôi đã tới hay chăng. A những đêm trắng của Saint-Pétersbourg[6] này
như một quầng sáng của những cánh đồng trắng trong ký ức tôi.
 
 
 
Nửa đêm người ta kéo cầu lên – ấy những cánh cửa bằng đá dẫn tới trời
hay ra khỏi địa ngục...
Nhưng ai vào hay ai ra, lúc ấy tôi không thể nào nhận biết
và ký ức tôi từ đấy tựa như đêm trắng
bởi người ta đã cướp mất Hélène của tôi[7]
và thành Troie đã tiêu tan thành tro bụi.
 
Vào thời kỳ này tôi là một chàng trai mười bảy
và Novgorode đã tiếp đón tôi với đám nhà bằng cây
nhờ đó những kẻ thù của tôi mới phá được thành trì
của mối tình của tôi, mối tình không thể lọt vào được
và chỉ còn để lại sau bọn chúng những tro là tro, là tro.[8]
 
 
 
Trong não sọ nào đã nảy ra cái ý tưởng ngu ngốc rằng vẻ đẹp là vĩnh cửu?
Liệu ta có thể đoạt được vĩnh cửu chăng? Ban chiều,
ngay khi những tiếng chuông bay bổng bên trên thành phố
như bọn yêu quái đeo trên cội cây trời,
tôi nhìn thấy những đám cháy tương lai và đi tới đằng sau chúng là những con chồn trắng
của nước Nga đỏ rực, là tro lạnh, trắng như sương giá
với những khúc củi đen cháy dở dang... Và tôi đã thấy chính mình là tro
sau đám cháy của những tình cảm và của hy vọng. Đám cháy muôn thủa
khêu nên do cánh cửa có cánh của ngân hàng Rostov
nơi tôi làm việc trong một gian phòng băng giá và nơi tôi luôn luôn hổ thẹn
khi ném một đồng xu đồng vào cái bát gỗ của người nghèo và có dáng vẻ một nhà triệu phú
bước xuống khách sạn Anh quốc[9] ở Saint-Pétersbourg
nơi ban nhạc tzigane với những cây đàn balalaika
quét sạch lý trí ta bằng những nhát chổi, và đột nhiên xuất hiện Rogojine[10]
ném từng bó giấy bạc vào vòng tay người yêu của mình.
 
 
 
Ngày mai khi Jeanne[11] của tôi và tôi đáp chuyến tàu tốc hành Xuyên-Tây bá lợi á
và khi qua khỏi rặng Oural những đồ dự trữ của chúng tôi sẽ cạn,
Rogovine,[12] người ân nhân của tôi, sẽ khiến chúng tôi ngạc nhiên, khi tự mình chăm sóc con tàu,
đút vào lò những viên gạch nhỏ tiền Nga nơi cổ họng đỏ rực của đầu máy,
để lôi kéo chúng tôi đi mãi mãi xa hơn, xa hơn, và khiến chúng tôi bỏ trốn
những gì chờ đợi chúng ta hết thảy – cả người giầu lẫn người nghèo –
ở cuối con đường trần thế...
 
A những bộ da lông thú của Nga này – đã có bao nhiêu lọt qua đôi tay người Thụy-sĩ của tôi,
có lẽ mọi người Thụy-sĩ đều có thể ghen với tôi...  Nhưng cả nhà thơ nữa
cũng là một người thụy-sĩ – kẻ đứng gác[13] trước những cánh cửa nặng nề giữa thiên đường
và địa ngục – để cho điều tốt không thể biến thành điều xấu... và để cho điều xấu
vĩnh viễn bị ngăn chận lại. Khắp chung quanh – là bóng tối,
như trong tâm hồn của một nông dân Nga. Bên ngoài
bầu trời ẩm ướt và lạnh lẽo lấp lánh với hết thảy những đầu đinh
như thể có ai đó đang vượt thoát những điều nhơ nhớp của cuộc đời
và chỉ còn thoáng thấy được gót giầy lấp lánh của người trong đêm tối.
 
 
 
Trên mặt đường gỗ tôi bước, men theo những kho hàng, những căn nhà lụp xụp và những quán rượu
như trên một con đường Appia[14] lát bằng những cỗ áo quan.
Vào cái đêm không trăng này tôi suýt té, chắc là vào nấm mồ để ngỏ của người.
Phải, đúng là nấm mồ của người, mở toác, Chúa ôi, bởi những tia lửa đớn đau như thế
đã không thể nào vọt ra từ đôi mắt người phàm của tôi trong tăm tối.
 
Như tôi, người lao động trong cửa tiệm của người Do-thái thời danh Leuba,[15]
những dấu thương tích của người nhỉ máu, tựa những viên hồng ngọc, dưới ánh mắt của khách hàng,
và đông đảo là những kẻ mà người khoác lên vành tai và ngón tay những viên đá quý, Chúa ôi,
và người trang điểm bộ ngực để trần của biết bao nàng Mạc-đa-liên của đêm tối,
người kẻ đã từng xua đuổi bọn lái buôn ra khỏi đền thờ
bằng một nhát roi quất mạnh.
 
Không, tôi không muốn trọn đời mình những mua cùng bán,
tôi muốn sống như kẻ phiêu lưu, như người lang bạt, phí tổn phải chịu về phần bọn lái buôn,
tôi muốn rằng thực tại xuất hiện với tôi như một giấc mơ và sống trong một thế giới của những linh thị.
 
Năm đó, người ta đã nổ súng vào những khóm cây dọc đường cũng như vào những người đình công của Gapone.[16]
 
 
 
Ngày mai khi chúng tôi, nhỏ Jeannne và tôi, bỏ trốn trong chuyến tàu tốc hành Xuyên-Tây bá lợi á,
về Port-Arthur, về Kharbine,[17]
về những lớp sóng chì của dòng Amour,[18]
nơi, như những khúc cây tròn, những cái thây vàng vẫn trồi lên mặt nước,
chúng tôi, rốt cuộc, sẽ tìm thấy con đường dẫn tới chúng tôi và tới tình yêu
mà không biết rằng khối tình này ngập tràn những tình cảm đã chết.
 
Bởi không có miền đất nào xa lạ hơn cũng chẳng có nơi chốn nào cuốn hút hơn
là hồn người... Tôi sợ mình bật ra tiếng nức nở.
 
Bên trên đầu tôi rủ xuống ngọn đèn của toa tàu, dính phân của đám ruồi khuấy nhiễu,
như lớp mũi rãi lớn của một hành khách thảm hại.
 
 
 
Trong hằng giờ tôi nhìn qua khung cửa kính ban đêm mịt mờ một thứ mồ hôi nóng bỏng.
Một cây trắc-bá đơn độc, phong kín trong lớp bụi cay đắng,
nhìn những khung cửa sổ khép kín ở ngôi nhà của cha tôi
như thày tu đã theo tôi từ bao dặm dọc con đường,
mãi mãi ở bên tôi, để mãi mãi đọc cho tôi một mẩu của câu chuyện truyền kỳ
về Đô thị Mới ngời sáng,
câu chuyện truyền kỳ mà có lẽ một ngày kia tôi sẽ kể cho các người.
 
Trên bầu trời lạnh lẽo của miền Bắc mặt trời lăn lăn, yên hàn,
vầng mặt trời khổng lồ của người Slave: cái bánh xe với những nan hoa bằng gỗ
mãi mãi sẽ vẫn là cái bánh xe thứ năm
của cỗ xe các dân tộc.
 
Giấc mơ của tôi quay chậm lại như một nhịp điệu mơ mơ màng màng:
 
những dải bình nguyên dài dặc vô tận trên nước Nga bại trận[19]
và đột nhiên một con ngựa tơ tiến lại gần, lại gần mỗi lúc một thêm mãi – giống mới[20]
qua màn tuyết mịn.
 
FRÉDÉRIC SAUSER tức
BLAISE CENDRARS sau này.
 
 
Ghi chú của người dịch:
* La légende de Novgorode, 64 trang, nhà xuất bản Fontana Morgana, 1997. Gồm bài dẫn nhập và các ghi chú của Miriam Cendrars; bản sao bản dịch tiếng Nga của R.R.; bản Pháp văn “hồi phục”; và một bài viết cùng với nhiều hình minh họa của họa sĩ Pierre Alechinsky. Các chú thích vắn tắt ở sau đây phần lớn đều dựa theo Miriam Cendrars. Xin mời bạn đọc xem thêm bài dẫn nhập của bà Miriam Cendrars về "CÂU CHUYỆN TRUYỀN KỲ CỦA NOVGORODE của Frédéric Sauser, tức Blaise Cendrars sau này", đăng song song trên Tiền Vệ.
 
_________________________
Chú thích (trong bài):

[1]Bài «Roman» của Arthur Rimbaud, in trong Reliquaire, 1891.

[2]Cảnh Neuchâtel; ở đây, 'máng nước' nơi các ngôi nhà xếp tầng xuống là một cảnh hồ.

[3]Năm 1904, khi Blaise Cendrars mười sáu tuổi.

[4]Có ý nói tới những bộ lông da thú thuộc dối nhưng lại bán giá đắt. Novgorode hay Novgorod, ở phía nam Saint-Pétersbourg, vào thế kỷ XVIII là một trong những trung tâm rực rỡ nhất của nền văn minh Nga và là một nơi quan trọng cho các thương hội liên lạc với phương Đông và vùng biển Baltique. Thành phố này có nhiều đền đài tôn giáo thời Trung cổ, được trang hoàng bằng những bức bích họa.

[5]Ý này được Blaise Cendrars dùng lại trong Moganni Nameh, 1910.

[6]Cố đô Nga, một trung tâm kỹ nghệ lớn, đã nhiều lần đổi tên.

[7]«Hélène thành Troie» nhưng cũng là nàng Hélène của tác giả. (Xem bài của Miriam Cendrars, "CÂU CHUYỆN TRUYỀN KỲ CỦA NOVGORODE của Frédéric Sauser, tức Blaise Cendrars sau này", đăng song song trên Tiền Vệ, và cuốn Blaise Cendrars của Miriam Cendrars, Balland, 2-1984, Seuil in lại, 2-1985).

[8]Theo Miriam Cendrars, 'Hélène,... những ngôi nhà bằng cây, ... tro, tro, tro' ám chỉ cái chết bi thảm của Hélène vì lửa... Nhưng vì đâu cảnh này lại đặt ở Novgorode khi chính Miriam Cendrars đã cho biết là Hélène K. «có phần chắc..» là ở ... Saint-Pétersbourg? Miriam Cendrars cũng thắc mắc như thế!

[9]Khách sạn xa hoa nổi tiếng ở Saint-Pétersbourg thời trước.

[10]Nhân vật của Dostoievski trong L'Idiot. Xin đừng lẫn với Rogovine ở đoạn sau.

[11]Xin xem 'Jehanne' trong Văn xuôi của con tầu Xuyên-Tây bá lợi á, bản dịch Nguyễn Đăng Thường, tủ sách Thơ, Trình bầy.

[12]Nhân vật này xuất hiện lần đầu ở đây, sẽ chiếm một vị trí quan trọng trong Vol à voile, 1930-1931 và Bourlinguer, 1948.

[13]Chơi chữ giữa Suisse (quốc tịch) và suisse (người gác cửa...).

[14]'đường Appia': đường từ La-mã tới Brandisi do Appius Claudius khởi sự (312 trước Tây lịch); ven đường có nhiều mồ mả, hiện còn một số...

[15]Nhà kim hoàn H. Leuba nơi Frédéric Sauser (Blaise Cendrars) làm việc.

[16]Một giáo trưởng Chính thống giáo, dẫn đạo một trăm ngàn ngườI biểu tình và những người đình công của các nhà máy Poutilov ở Saint-Pétersbourg, đưa thư thỉnh nguyện tới Sa hoàng Nicholas II, ngày “chủ nhật đỏ” 22 tháng Giêng 1905. Khi đoàn người tới trước lâu đài mùa Đông (hoàng cung), một phân đội Kỵ binh đã nổ súng, làm khoảng hai trăm người thiệt mạng và hai ngàn người bị thương. Đó là khởi đầu cuộc cách mạng.

[17]Port-Arthur: cảng Lữ-thuận; Kharbine hay Harbine: Cáp-nhĩ-tân.

[18]Sông lớn (4354 cây số), phân cách miền Tây bá lợi á với vùng đông-bắc Trung-hoa và đổ ra biển Okhotsk.

[19]Trong chiến tranh với Nhật-bản.

[20]Ở đây là biểu hiệu của sự hồi sinh; hình ảnh «ngựa phi» này, theo Miriam Cendrars là «rất Nga» và «cũng nhắc ta nhớ tới đoạn chót cuốn Les âmes mortes của Nicolaï Gogol», nhà văn Nga gốc người Ukraine.


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018