thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Về sự ra đi của Susan Sontag

 

Lời phát biểu của nhà văn Salman Rushdie (1947~), chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Hoa-kỳ (PEN American Center), gửi đến văn giới quốc tế vào chiều ngày 28 tháng 12 năm 2004, ngay sau khi hay tin nhà văn Susan Sontag qua đời.

 

SUSAN SONTAG

(1933-2004)

 

Susan Sontag là một nghệ sĩ văn chương vĩ đại, một tư tưởng gia bất khuất và độc sáng, suốt đời dũng cảm vì sự thật, và một đồng minh không mệt mỏi của chúng ta trong nhiều cuộc đấu tranh. Bà đã lập nên một tiêu chuẩn nghiêm khắc cho trí thức mà tôi và nhiều người ngưỡng mộ bà vẫn không ngừng khao khát vươn tới. Tiêu chuẩn ấy khẳng định rằng tài năng văn chương gắn liền với nghĩa vụ phát ngôn về những vấn đề trọng đại đương thời và, trên hết, bảo vệ sự độc lập của trí tuệ và óc tưởng tượng sáng tạo trước bất cứ bạo lực chuyên chế nào.

Bà đã từng là chủ tịch của Trung Tâm Văn Bút Hoa-kỳ từ 1987 đến 1989 và, tiếp tục công việc của Norman Mailer, bà đã góp phần làm cho một câu lạc bộ văn chương được cải biến hoàn toàn để trở thành một tổ chức bất vụ lợi của các nhà văn chuyên nghiệp dấn thân cho sự tiến bộ của văn chương, cho công cuộc bảo vệ quyền tự do ngôn luận, và cho tình huynh đệ quốc tế của văn giới.

Bà là một người bạn thật sự của nhà văn trong cơn nguy khốn. Năm 1989, sau khi Khomeini ban hành giáo tử lệnh fatwa đối với tác giả, các nhà xuất bản, và các dịch giả của tiểu thuyết Quỷ Thi (The Satanic Verses), bà đã lãnh đạo Trung Tâm Văn Bút Hoa-kỳ trong cuộc chiến đấu cho tự do tư tưởng. Sự hỗ trợ kiên quyết của bà, trong một thời điểm có những người tỏ ra nao núng, đã giúp xoay chiều cơn thuỷ triều để đương đầu với cái mà bà gọi là "một hành động khủng bố chống lại sinh mệnh của trí tuệ." Tôi sẽ mãi mãi ghi nhớ ý chí kiên cường của bà với lòng tri ân và cảm phục.

Suốt mười lăm năm tiếp theo đó, Susan đã tiếp tục làm một thành viên và ủng hộ viên tích cực và can trường của Trung Tâm Văn Bút Hoa-kỳ, tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong nhiều vấn đề gai góc và đích thân đến nhiều quốc gia để bảo vệ cho những nhà văn bị ngược đãi, hành hạ. Bà đặc biệt kiên quyết kêu gọi khẩn cấp chống lại chủ nghĩa văn hoá cục bộ và thái độ lãnh đạm của người Mỹ trước văn chương và tư tưởng của những quốc gia khác. Là một nhà vô địch phi thường trong việc du nhập vào Hoa-kỳ những cây bút từ ngoại quốc và những tác phẩm dịch thuật văn chương, bà đã giúp giới thiệu đến độc giả Mỹ những tác giả có bút pháp và khuynh hướng dị biệt nhau như Danilo Kis, W. G. Sebald, và Orhan Pamuk.

Mối hàm ân hiển nhiên của Trung Tâm Văn Bút Hoa-kỳ đối với Susan Sontag được thể hiện qua sự kiện chúng tôi đang tổ chức một cuộc họp mặt quan trọng của những nhà văn quốc tế tại New York vào tháng Tư sắp tới để phản đối cái khuynh hướng văn hoá Mỹ mà bà đã bày tỏ sự bất ưng. Tôi tin chắc rằng lúc khai mạc hội nghị, với lòng tri ân sâu sắc, chúng tôi sẽ tưởng nhớ đến cái mẫu mực của lương tâm văn học mà bà đã là một hiện thân vô cùng sinh động.

Trong giây phút này, tất cả chúng ta đều đau buồn trước sự ra đi của một trong những nghệ sĩ ưu việt của Hoa-kỳ, và bản thân tôi khóc than vì đã mất một người bạn thân thương và yêu quý.

(bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn)

 

______________________________

 

Sơ lược tiểu sử văn chương của SUSAN SONTAG (1933-2004):
Tác giả của bốn cuốn tiểu thuyết: The Benefactor, Death Kit, The Volcano Lover , In America (cuốn này đoạt giải National Book Award năm 2000); một tập truyện ngắn: I, Etcetera; một số kịch bản phim nghiệm tác và nhiều kịch bản sân khấu, trong đó nổi tiếng nhất là các vở Alice in Bed Lady from the Sea; và bảy tập tiểu luận, lừng danh nhất là Where the Stress FallsRegarding the Pain of Others. Bà cũng biên tập và giới thiệu nhiều tác phẩm ngoại quốc đến với độc giả Anh ngữ, trong đó có những tuyển tập tác phẩm của Roland Barthes, Antonin Artaud và Danilo Kis. Sách của bà đã được dịch ra 32 ngoại ngữ.
       Bà đã đoạt rất nhiều giải thưởng, quan trọng nhất là các giải American Academy Ingram Merrill Foundation Award (1976), National Book Critics Circle Award (1977), và Giải Thưởng Viện Hàn Lâm Khoa Học và Văn Chương Đức Quốc (1979). Năm 1979, bà trở thành Viện sĩ Hàn Lâm Viện Hoa-kỳ. Năm 2001, bà được trao giải Jerusalem Prize cho toàn bộ tác phẩm; năm 2003, bà nhận giải Premio Príncipe de Asturias de Letras 2003 (của Fundación Principe de Asturias, Tây-ban-nha) và giải thưởng hoà bình "Friedenspreis" (của Deutschen Buchhandels, Đức).

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018