thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
THƠ (Paroles) [2]
(bản dịch Nguyễn Đăng Thường & Diễm Châu)
 
 
 
 
 
Đôi dòng về tác giả và tác phẩm:
JACQUES PRÉVERT sinh ngày 4.2.1900 tại Neuilly-sur-Seine (Seine) Pháp; cha là một người Breton và mẹ là người Auvergnate. Ông mất ngày 11.4.1977 tại Omonville-la-Petite (Manche). Thủa nhỏ theo học trường làng ở Paris. Bắt đầu làm các nghề vặt để sống từ năm 15 tuổi.
       Năm 1925, gặp gỡ các nhà thơ siêu thực. Đến năm 1930, khởi sự cho đăng những bài đầu tiên. Prévert còn viết truyện phim cho một số tác phẩm đã trở thành bất hủ của điện ảnh Pháp như Quai des brumes, le Jour se lève, les Visiteurs du soir, les Enfants du paradis... Ông cũng đã có dịp cư trú một năm ở Hoa-kỳ (1938).
       Thơ Prévert được in thành tập lần đầu tiên vào năm 1944. Ấy là một ấn bản bí mật in ronéo 200 bản do một số học sinh trung học ở Reims thực hiện. Kế đó, cùng với một số bài thơ khác, những bài trong ấn bản nói trên được René Bertelé thu thập và in thành tập (12.1945). Tập thơ này chỉ trở thành ấn bản «dứt khoát» của cuốn Paroles vào năm 1947 sau khi đã được coi lại và bổ túc. Và từ ấy đến nay, nhà xuất bản «le Point du Jour» của René Bertelé đã được nhà Gallimard mua lại, và Paroles đã được in ra tới trên 3 triệu cuốn, chưa kể vô số những bản dịch ở khắp nơi trên thế giới. Thơ Prévert đã trở thành «đại chúng».
       Nhận định về thơ Prévert, nhà thơ Mỹ Lawrence Ferlinghetti có viết: «Nhiều bài thơ trong tập Paroles phát xuất từ Thế chiến II và cuộc chiếm đóng (của Đức quốc xã) ở Pháp. Prévert đặc biệt nói với những người Pháp trẻ tuổi ngay sau Chiến tranh, nhất là với những người lớn lên trong thời chiếm đóng và cảm thấy hoàn toàn xa lạ với Giáo hội và Nhà nước.» Ferlinghetti còn cho rằng, theo Prévert, «Con người được dành cho niềm vui (sống) nhưng có một thứ âm mưu thường trực chống lại niềm vui đó. Prévert luôn luôn tố cáo cái âm mưu kia.» Trong chiến tranh Việt Nam, Prévert đã đứng về phía nhân dân Việt Nam chống lại những âm mưu của thực dân và đế quốc.
       Thơ Prévert giản dị, cái giản dị của tiếng nói thường ngày được đem vào thơ, cái giản dị của những cảm nghĩ sâu sắc còn lại sau khi những lời nói bay đi. Thơ Prévert tình cảm, vì Tình yêu là một động lực mãnh liệt trong thơ ông và hơn nữa, tình cảm ở đây đã đồng nghĩa với lòng yêu thương tha thiết đối với đồng loại, chống chiến tranh, chống thỏa hiệp, chống bất công, bóc lột và áp bức...
       Thơ Prévert còn là của trẻ thơ, chim chóc và cỏ hoa.
       Các bài trong tập Thơ Jacques Prévert này đều được rút từ tập Paroles. (Đa số các bài không được dịch có nhiều chỗ «chơi chữ» quá đặc biệt hoặc có tính cách quá địa phương.)
       Các tập thơ khác thường được nhắc tới của Jacques Prévert: Spectacle (1951), La Pluie et le Beau Temps (1955), Histoires et Autres Histoires (1963), Fatras (1966), Choses et autres (1972)...
 
NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG & DIỄM CHÂU, 1993, 1999
 
 
 
 
THƠ [2]
(Paroles)
 
Bản dịch tập thơ «Đồng Xanh» này
để tưởng nhớ thời thanh xuân của thế hệ chúng tôi
và để tặng các bạn trẻ mới bước vào Thơ.
NĐT. & DC.
 
 

TRẬT TỰ MỚI

 
Mặt trời nằm sóng sượt trên mặt đất
Lít rượu vang đỏ tung tóe
Một ngôi nhà sụp đổ
Trên mặt đường như một người say
Và bên dưới mái hiên còn trơ đó
Một thiếu nữ nằm dài
Một người đàn ông quỳ gối kế bên
Đang kết liễu đời nàng
Trong vết thương nơi lưỡi thép còn lay
Trái tim không ngừng chảy máu
Và người đàn ông thét lên một tiếng quân la
Như tiếng kêu phi lý của con công
Và tiếng kêu của hắn mất hút trong đêm tối
Ngoài cuộc đời ngoài thời gian
Và con người có khuôn mặt của bụi
Con người đã hư hỏng và bị hủy hoại
Trỗi dậy và hô «Heil Hitler!»
Bằng một giọng tuyệt vọng
Trước mặt hắn giữa những đổ nát
Của một cửa tiệm bị thiêu rụi
Chân dung của một ông già tái mét
Hiền từ nhìn hắn
Trên tay áo của ông ta những ngôi sao lấp lánh
Trên chiếc nón cối * của ông ta cũng lấp lánh những ngôi sao khác nữa
Như lấp lánh những ngôi sao vào dịp lễ Giáng sinh
Trên những cây thông cho con trẻ
Và con người của đội cảm tử
Đứng trước tấm hình màu tuyệt vời nọ
Bỗng thấy mình trở lại cảnh thân thuộc gia đình
Ở giữa lòng trật tự mới
Và hắn tra lưỡi dao găm vào vỏ
Và hắn bước thẳng tới trước mặt
Con người tự động của Âu châu mới
Kẻ điên loạn vì sầu xứ
Vĩnh biệt vĩnh biệt Lily Marlène
Và tiếng bước chân hắn tiếng hát ca của hắn xa dần trong đêm tối
Và bức chân dung của ông già tái mét
Giữa đống đổ nát
Còn lại một mình và mỉm cười
Lặng lẽ trong bóng mờ
Già nua và tự tín.
 
--------------------------------
* Đây là nón «képi» của Pétain, kẻ thỏa hiệp với Phát-xít. (người dịch)
 
 

CHIM, RẤT TÌNH CỜ

 
Tôi biết yêu chim rất trễ
tôi hơi tiếc một chút
nhưng bây giờ mọi sự đã được dàn xếp ổn thỏa
chúng tôi thông cảm nhau
chúng không bận tâm vì tôi
tôi không bận tâm gì chúng
tôi nhìn ngắm chúng
tôi để mặc chúng
chim chóc hết thảy đều cố làm hết sức mình
chúng nêu gương
không phải cái gương như cái gương ông Glacis
người đã xử sự một cách can đảm đặc sắc trong thời chiến hay cái gương của thằng nhỏ Paul ngày trước thật nghèo thật đẹp trai và hết sức thực thà ngay thẳng sau này trở thành ông Paul thật giàu có và thật già thật danh giá và thật ghê tởm và thật keo kiệt và thật bác ái và thật đạo đức
hay cái gương u già kia người đã có một cuộc đời và một cái chết gương mẫu không bao giờ lý sự đôi co không có cái chuyện nanh với vuốt không có cái chuyện cãi cọ với ông chủ hoặc với bà chủ về cái vấn đề tiền nong bẩn thỉu kia
không
chim chóc nêu gương
cái gương thật đích đáng
gương của chim chóc
gương của chim chóc
gương những lông những cánh đường bay của chim chóc
gương chiếc tổ những chuyến đi xa và những tiếng hót của chim chóc
gương vẻ đẹp của chim chóc
gương tấm lòng của chim chóc
ánh sáng của chim chóc.
 
 

CÁC NGƯỜI SẼ THẤY NHỮNG GÌ CÁC NGƯỜI SẼ THẤY

 
Một cô gái khỏa thân bơi lội ngoài biển
Một người đàn ông rậm râu bước trên mặt nước
Đâu là cái kỳ quan của những kỳ quan
Cái phép mầu đã loan báo ở trên?
 
 

BAO LA VÀ ĐỎ

 
Bao la và đỏ
Bên trên tòa Đại Dinh
Mặt trời mùa đông xuất hiện
Rồi biến mất
Như mặt trời trái tim ta rồi cũng sẽ khuất
Và tất cả máu ta cũng sẽ bỏ đi
Đi tìm em
Em yêu dấu
Người đẹp của ta
Và tìm được em
Ở tại nơi em đang ở.
 
 

BÀI CA

 
Hôm nay là ngày thứ mấy
Hôm nay là mọi ngày
Bạn tình ơi
Hôm nay là trọn cuộc đời
Người yêu hỡi
Chúng ta yêu nhau và chúng ta sống
Chúng ta sống và chúng ta yêu nhau
Và chúng ta chẳng biết cuộc đời là gì
Và chúng ta chẳng biết ngày tháng là gì
Và chúng ta chẳng biết là gì tình yêu.
 
 

LUẬN VĂN

 
Thời thanh xuân Nã-phá-luân ốm nhom
và mang lon sĩ quan pháo binh
rồi ngài lên ngôi hoàng đế
chiếm được nhiều xứ sở và cái bụng phì ra
đến lúc chết vẫn còn
bụng bự
nhưng ngài lại nhỏ đi.
 
 

NHẬT THỰC

 
Lu-y XIV còn được gọi là Vua Mặt trời
thường tọa thị trên một cái ghế thủng đít
lúc cuối thời
một đêm trời thật tối
ông Vua Mặt trời bước xuống giường
leo lên ghế
rồi lặn luôn.
 
 

BÀI CA CỦA NGƯỜI CAI NGỤC

 
Này anh cai ngục đẹp trai anh đi đâu thế
Với chiếc chìa khóa vấy máu ấy
Tôi đi giải thoát người tôi yêu
Nếu còn kịp
Người mà tôi đã nhốt kín
Thật trìu mến thật ác độc
Ở nơi bí ẩn nhất của lòng tôi ham muốn
Ở chốn thâm sâu nhất của lòng tôi khổ đau
Trong những dối trá của tương lai
Trong những ngu đần của thề thốt
Tôi muốn giải thoát nàng
Tôi muốn nàng được tự do
Kể cả tự do quên tôi
Kể cả tự do bỏ đi
Kể cả tự do trở lại
Và tự do yêu tôi nữa
Hay yêu một người khác
Nếu nàng ưng một người khác
Và nếu tôi còn lại cô đơn
Và nàng bỏ đi
Tôi chỉ giữ lại
Tôi sẽ giữ mãi
Trong đôi tay trống rỗng
Cho tới ngày mãn phần
Vẻ dịu êm của bộ ngực nàng đã được tình yêu khuôn nắn.
 
 

NGỰA HỒNG

 
Trên vòng ngựa gỗ của dối trá
Ngựa hồng nụ cười em
Xoay vòng vòng
Và tôi cứ đứng trân ra đó
Với ngọn roi buồn rầu của thực tại
Và tôi chẳng có gì để phiền trách
Bởi nụ cười em cũng thật
Như mấy điều thẳng thắn của tôi.
 
 

NHỮNG CUỘC ĐÁNH CÁ NGU ĐẦN

 
Có một gã nọ tên là Blaise Pascal
vân vân... và vân vân...
 
 

NGÀY ĐẦU

 
Các khăn trải giường trắng trong tủ
Các khăn trải giường đỏ trên giường
Một đứa trẻ trong bụng mẹ
Mẹ nó trong đớn đau
Người cha trong hành lang
Hành lang trong căn nhà
Căn nhà trong thành phố
Thành phố trong đêm tối
Cái chết trong một tiếng thét
Và đứa trẻ trong cuộc đời.
 
 

TÍN ĐIỆP

 
Cánh cửa một người đã mở
Cánh cửa một người đã khép lại
Cái ghế một người đã ngồi
Con mèo một người đã vuốt ve
Trái cây một người đã cắn
Lá thư một người đã đọc
Cái ghế một người đã xô ngã
Cánh cửa một người đã tung ra
Con đường một người còn chạy vội vã
Cụm rừng một người băng qua
Dòng sông một người lao xuống
Bệnh viện một người lìa đời.
 
 

HỘI PHIÊN

 
Hạnh phúc như con cá hương lội ngược dòng
Hạnh phúc trái tim thế giới
Trên vòi máu vọt lên
Hạnh phúc cây quản cầm
Tru tréo trong bụi cát
Lời chanh chua
Một điệp khúc bình dân
Không vần điệu không nghĩa lý
Hạnh phúc những cặp tình nhân
Ngồi trên xe trượt núi
Hạnh phúc cô gái tóc hung
Cưỡi trên lưng con ngựa trắng
Hạnh phúc chàng trai tóc nâu
Đang mỉm cười chờ cô
Hạnh phúc cái ông có vẻ đưa đám
Đang đứng trong chiếc xuồng
Hạnh phúc cái bà mập ú
Tay cầm con diều giấy
Hạnh phúc cái lão già ngu ngốc
Đang đập chén đập dĩa
Hạnh phúc trên cỗ xe song mã
Một đứa bé tí tẹo
Vô phước là mấy anh lính mới
Trước gian hàng bắn súng
Nhắm thẳng vào trái tim thế giới
Nhắm thẳng vào chính trái tim mình
Nhắm thẳng vào trái tim thế giới
Mà phá lên cười.
 
 

Ở HÀNG HOA

 
Có một người đàn ông bước vào một hàng hoa
và lựa hoa
cô hàng hoa bao bó hoa lại
người đàn ông thò tay vào túi
để lấy tiền
tiền trả tiền hoa
nhưng đồng thời người ấy
đột nhiên
đặt tay lên trái tim
và té xuống
 
Cùng lúc người kia té
đồng tiền lăn xuống đất
rồi bó hoa cũng rớt
cùng lúc với người đàn ông
cùng lúc với đồng tiền
và cô hàng hoa đứng đó
với đồng tiền lăn lăn
với bó hoa bị hư hại
dĩ nhiên là tất cả chuyện đó thật buồn
và cô phải làm một điều gì đó
cô hàng hoa
nhưng cô ta không biết phải làm sao
cô ta không biết
bắt đầu từ đâu trước
 
Có bao chuyện phải làm
với người đàn ông nọ đang hấp hối
những đóa hoa bị hư hại
và đồng tiền kia
đồng tiền đang lăn
không ngừng lăn lăn.
 
 

ANH HÙNG CA

 
Cỗ xe có thùng lật phía sau của hoàng đế kéo lê thê
trên đường
Điều khiển xe là một phế binh đi bằng một tay
Bàn tay đeo găng trắng
Còn tay kia anh nắm dây cương
Anh đã bỏ mất đôi chân trong lịch sử
Một thủa nào lâu lắc
Và lúc này đôi chân ấy rong chơi ở cõi xa xăm
Trong lịch sử
Mỗi chân đi một phía
Và khi gặp lại nhau
Chúng tặng nhau những cú đá
Đánh giặc là đánh giặc
Chớ bộ giỡn à.
 
 

ÔNG VUA

 
Trong miền rừng núi Cachemire
Có ông vua ở Salamandragore
Ban ngày ông truyền giết vô khối là người
Và khi chiều tới ông thiếp ngủ
Nhưng trong những cơn ác mộng của ông người chết lẩn khuất
Và xâu xé ông
Có một đêm ông choàng dậy
Thét một tiếng to
Và tay đao phủ tỉnh giấc
Tươi cười chạy tới bên chân giường
Nếu như không còn người sống
Ông vua kia nói
Thời cũng chẳng có người chết
Và tay đao phủ đáp Tuân chỉ
Hãy cho tất cả những kẻ còn lại qua cầu ấy
Và ta khỏi nói tới chuyện đó nữa
Tuân chỉ tay đao phủ nói
Hắn chỉ biết nói có thế
Và tất cả những kẻ còn lại đều qua cầu ấy như ông vua đã phán
Đàn bà trẻ nít người nhà ông vua và người nhà những kẻ khác
Con bê con sói con ong vò vẽ và con chiên hiền lành
Cụ già nhân hậu thanh liêm và con lạc đà điều độ
Các cô đào hát ông vua của các loài thú
Những người trồng chuối những kẻ bày ra chữ nghĩa hay ho
Và những anh gà cồ và những chị gà mái những trái trứng cùng với vỏ cứng
Rồi chẳng còn ai để chôn cất ai
Như thế là tốt
Ông vua ở Salamandragore bảo
Nhưng ngươi ở yên đó đao phủ
Ở yên đó cạnh trẫm
Và hãy hạ sát trẫm
Nếu có khi nào trẫm ngủ lại.
 
 

VÀ CUỘC VUI TIẾP TỤC

 
Đứng trước quầy rượu
Lúc đồng hồ điểm mười
Một anh thợ hàn-làm đồ kẽm cao lớn
Áo quần tươm tất như vào ngày Chủ nhật mặc dù hôm ấy là thứ Hai
Anh ta cất tiếng hát cho riêng mình
Hát rằng hôm nay là thứ Năm
Ta khỏi phải cắp sách đến trường
Chiến tranh đã chấm hết
Công việc cũng thế
Cuộc đời thì rất đẹp
Các cô thì quá xinh
Và anh ta lảo đảo trước quầy
Nhưng nhờ có sợi dây dọi chỉ lối
Anh ta dừng lại ngay trước lão chủ
Này «ba tên cán cầy» sẽ tới thanh toán tiền nong cho nhà ngươi
Rồi anh ta vụt biến trong nắng
Chẳng thèm trả tiền rượu
Vụt biến trong nắng và vẫn tiếp tục hát ca.
 
 

BÀI CA CỦA VINCENT

Tặng Paul Eluard
 
Tại Arles nơi dòng Rhône chảy
Trong ánh sáng tàn khốc của giữa trưa
Một người bằng lân tinh và máu
Thốt một tiếng kêu hãi hùng ám ảnh
Như một người đàn bà khi sinh nở
Và mảnh vải thấm đỏ
Và người kia gào thét bỏ chạy
Bị mặt trời rượt nà
Một mặt trời vàng khé
Tới một nhà điếm ngay cạnh sông Rhône
Người kia tới như một ông vua thời Giáng sinh
Với lễ vật thật phi lý của mình
Ông có một cái nhìn xanh và dịu
Một cái nhìn đích thực tỉnh táo và điên
Của những kẻ dành cho cuộc đời tất cả
Của những kẻ không ghen
Và ông cho cô bé đáng thương nhìn thấy
Vành tai ông nằm trong mảnh vải
Và cô gái khóc mà không hiểu gì hết
Nghĩ tới những điềm gở thật buồn
Và cô nhìn mà không dám cầm lấy
Cái vỏ sò ghê rợn và mềm
Nơi những tiếng kêu ai oán của ái tình đã mất
Và những tiếng nói tàn nhẫn của nghệ thuật
Hòa với những tiếng thì thầm của biển
Rồi héo hắt trên sàn gạch vuông
Trong căn buồng nơi tấm mền đỏ
Một màu đỏ bỗng nhiên rực sáng
Trộn lẫn cái màu đỏ thật đỏ này
Với màu máu còn đỏ hơn nhiều nữa
Của Vincent gần chết
Và hiền như chính hình ảnh
Của khốn cùng và tình ái
Cô bé lõa lồ hoàn toàn cô độc và không tuổi
Nhìn chàng Vincent đáng thương
Bị chính cơn giông tố của chàng giáng xuống
Quỵ ngã trên vuông gạch
Nằm trong chính bức tranh đẹp nhất của chàng
Và giông tố nguôi ngoai lạnh nhạt bỏ đi
Lăn tới phía trước những thùng máu lớn
Cơn giông tố chói lòa của thiên tài Vincent
Và Vincent còn lại đó thiêm thiếp mơ màng thở hắt
Và mặt trời bên trên khu nhà thổ
Như một trái cam* điên dại trong một sa mạc không tên
Mặt trời trên Arles
Quay cuồng gào thét.
 
-----------------------------------
* Eluard từng có câu: «Trái đất xanh như một trái cam». (người dịch)
 
 

CHỦ NHẬT

 
Giữa những hàng cây trên đại lộ Les Gobelins
Một pho tượng cẩm thạch cầm tay dắt tôi đi
Hôm nay Chủ nhật các rạp xi-nê đông nghẹt
Lũ chim đậu trên cành trố mắt nhìn thiên hạ
Và pho tượng ôm tôi hôn nhưng chẳng có ai thấy
Trừ một đứa nhỏ mù lòa đưa tay chỉ trỏ.
 
 

KHU VƯỜN

 
Hàng ngàn và hàng ngàn năm
Có lẽ cũng không đủ
Để nói tới
Cái giây phút bé nhỏ của thiên thu
Khi em ôm hôn tôi
Khi tôi ôm hôn em
Một buổi mai trong ánh sáng mùa đông
Nơi công viên Montsouris ở Paris
Ở Paris
Trên trái đất
Trái đất là một vì sao.
 
 

THU

 
Một con ngựa ngã quỵ giữa lối đi
Lá vàng rơi phủ lên mình nó
Tình ta bỗng run lạnh
Và mặt trời cũng run theo.
 
 

PARIS AT NIGHT

 
Từng chiếc ba cây diêm phựt cháy trong đêm
Cây thứ nhất để nhìn trọn khuôn mặt em
Cây thứ hai để nhìn đôi mắt em
Cây cuối cùng để nhìn môi em
Và bóng tối dầy đặc để anh nhớ lại tất cả
Khi ôm em trong tay.
 
 

BÓ HOA

 
Bé ơi em đứng chờ ai đấy
Với bó hoa vừa hái
Cô ơi cô đứng chờ ai đấy
Với bó hoa sắp phai
Bà ơi bà đứng chờ ai đấy
Với bó hoa đang héo
Cụ ơi cụ đứng chờ ai đấy
Với bó hoa đã tàn
 
Ta chờ kẻ chiến thắng.
 
 

BARBARA*

 
Barbara em hãy nhớ
Hôm ấy trời mưa hoài trên Brest
Và em bước đi tươi cười
Rạng rỡ hân hoan ướt đẫm
Dưới mưa
Barbara em hãy nhớ
Trời mưa mãi trên Brest
Và tôi đã gặp em ở đường Xiêm
Em mỉm cười
Và tôi tôi cũng mỉm cười
Barbara em hãy nhớ
Em người tôi chưa từng quen biết
Em người chẳng hề quen biết tôi
Em hãy nhớ
Dẫu sao em cũng hãy nhớ ngày hôm ấy
Đừng quên
Một người đàn ông trú dưới mái hiên
Và chàng kêu tên em
Barbara
Và em đã chạy tới phía chàng dưới mưa
Ướt đẫm hân hoan rạng rỡ
Và em đã lao vào tay chàng
Em hãy nhớ điều ấy Barbara
Và đừng giận tôi nếu tôi gọi em bằng em
Tôi gọi bằng anh em tất cả những người tôi yêu mến
Ngay như tôi chỉ gặp họ có một lần
Tôi gọi bằng anh em tất cả những người yêu nhau
Ngay như tôi chẳng hề quen biết họ
Em hãy nhớ Barbara
Đừng quên
Cơn mưa hiền hòa hạnh phúc ấy
Trên gương mặt em hạnh phúc
Trên thành phố hạnh phúc ấy
Cơn mưa trên biển
Trên công binh xưởng
Trên con tàu Ouessant ấy
Ôi Barbara
Chiến tranh thực là đần độn chó má
Bây giờ em đã ra sao
Dưới trận mưa sắt
Lửa thép máu ấy
Và người từng ôm ghì lấy em trong tay
Đắm đuối
Chàng đã chết biệt tăm hay vẫn còn sống
Ôi Barbara
Trời mưa hoài trên Brest
Như đã mưa ngày trước
Nhưng không còn như trước nữa tất cả đã chìm đắm tiêu tan
Mưa bây giờ là của tang tóc mưa khủng khiếp thê lương
Cũng không phải cùng một cơn giông bão
Những sắt thép và máu
Mà chỉ là những đám mây
Banh thây như chó chết
Những con chó đang tan biến
Theo dòng mưa trên Brest
Và sẽ thối rã ở xa
Xa thật xa Brest
Và chẳng còn gì nữa.
 
----------------------------
* Xin xem thêm bản dịch của Lý Chánh Trung trên tạp chí Đất Nước và bản dịch của Thanh Tâm Tuyền trên tạp chí Sáng Tạo. (người dịch)
 
 

KIỂM KÊ

 
Một hòn đá
hai căn nhà
ba phế tích
bốn người phu đào huyệt
những bông hoa
 
một con chồn mèo *
 
một chục con hàu một trái chanh một ổ bánh mì
một tia nắng
một lượn sóng ngầm
sáu nhạc công
một cánh cửa ra vào với tấm thảm chùi chân
một ông đeo bắc đẩu bội tinh
 
một con chồn mèo khác
 
một người nặn tượng nặn những Nã-phá-luân
một thứ hoa mà người ta gọi là hoa rầu rĩ
một cặp tình nhân nằm trên chiếc giường lớn
một viên thu thuế một chiếc ghế dựa ba con gà tây
một ông giáo sĩ một cái mụn nhọt
một con ong vò vẽ
một trái cật nổi lềnh bềnh
một tàu ngựa đua
một thằng con hư hai ông huynh dòng Đa-minh ba con châu chấu một cái ghế phụ
hai cô gái làng chơi một ông cậu dễ si tình
một Bà Mẹ Đau Khổ ba ông cụ cưng chiều hai con dê cái của lão Seguin
một cái đế giày Lu-y XV
một cái ghế dựa Lu-y XVI
một cái tủ chè Hăng-ri Đệ Nhị hai cái tủ chè Hăng-ri Đệ Tam ba cái tủ chè Hăng-ri Đệ Tứ
một cái ngăn kéo lỡ cỡ
một cuồn nhợ hai cái kim băng một ông sồn sồn
một pho tượng Chiến thắng Samothrace một kế toán viên hai phụ kế toán viên một khách thượng lưu hai ông bác sĩ giải phẫu ba vị ăn chay trường
một trự xơi thịt người
một chuyến đi tìm thuộc địa một con ngựa còn nguyên chưa thiến nửa lít máu tốt một con ruồi tsé-tsé
một con tôm hùm kiểu Mỹ một vườn hoa kiểu Pháp
hai củ khoai kiểu Ăng-lê
một cặp mắt-kiếng-cầm-tay một chú tiểu đồng một đứa trẻ mồ côi một lá phổi bằng thép
một ngày vinh quang
một tuần lễ tương trợ
một tháng Đức bà Maria
một năm khủng khiếp
một phút im lặng
một giây lơ đãng
và...
 
năm hoặc sáu con chồn mèo
 
một chú nhỏ tới trường học khóc
một chú nhỏ rời trường học cười
một cái kiến
hai viên đá lửa
mười bảy con voi một viên dự thẩm đi nghỉ mát ngồi trên ghế xếp
một phong cảnh với rất nhiều cỏ non xanh
một chị bò cái
một anh bò tót
hai ả tình nương đẹp tuyệt trần ba dàn đại phong cầm một dĩa thịt bê ma-răng-gô
một mặt trời Austerlitz
một bình nước Seltz
một ly rượu chát trắng với chanh
một Thằng bé Tí hon một cuộc đại xá một mỏm đất trồng thập tự đá một cái thang dây
hai dì phước La-tinh** ba chiều không gian mười hai tông đồ một ngàn lẻ một đêm ba mươi hai thế nằm ngồi sáu lục địa năm phương trời mười năm phục vụ tốt và trung kiên bảy mối tội đầu hai ngón của bàn tay mười giọt trước mỗi bữa ăn ba mươi ngày tù với mười lăm hôm nằm xà-lim năm phút hạ màn nghỉ hát
và...
 
nhiều con chồn mèo.
 
----------------------------
* raton laveur: một giống thú nhỏ Mỹ châu có thói quen «rửa» những gì chúng ăn bằng cách nhúng đồ ăn vào nước trước khi đưa lên mồm. Thanh Nghị dịch là giống «chồn mèo». Thi sĩ Lawrence Ferlinghetti, dịch giả Mỹ, có nhận xét: «Sự có mặt của khá nhiều con chồn mèo (raccoon) có lẽ không phải là vô cớ như có vẻ như thế trong (bản) Anh văn »... Một cách nói để lưu ý người đọc tới dụng ý của Jacques Prévert.
** theo nghi thức Giáo hội La-mã, phân biệt với Giáo hội Hy-lạp. (người dịch)
 
 

ĐƯỜNG BUCI BÂY GIỜ...

 
Đâu mất rồi
cái thế giới nho nhỏ điên điên của mỗi sáng Chúa nhật
Vậy là ai đã hạ bức màn bụi và sắt thật hãi hùng xuống con đường này thế nhỉ
con đường này ngày xưa thật sung sướng và hãnh diện là đường
như một người con gái sung sướng và hãnh diện được khỏa thân.
Tội nghiệp con đường
thế là lúc này mi đã bị bỏ rơi trong khu phố
Và chính khu phố cũng bị bỏ rơi trong thành phố đã thưa người.
Tội nghiệp con đường
cái hành lang thảm buồn dẫn từ một điểm ngừng này tới một điểm ngừng khác
những con chó gầy còm cô độc của mi người phế binh to béo của mi
người lúc này cũng đã gầy đi hết sức
và vẫn đi trên chiếc xe máy nhỏ
băng qua đường thật vô định chẳng biết là đi đâu
dừng lại bất cứ đâu cũng chẳng biết là đâu nữa
anh đã chấp nhận phận mình
từ ngày cuộc chiến tranh trước chấm dứt
phận mình với chiếc xe lăn
phận mình với đôi chân đứt lìa
và anh cũng đã có những thói quen nho nhỏ
hồi ấy thiên hạ chào anh và anh quen biết hết mọi người
và hết mọi người đều quen biết anh.
Và anh đã thường cho xe lăn
anh đã thường dừng lại để uống một ly anh đã quên anh đã bông đùa
và rồi anh đi ăn trưa
và thế là một lần nữa tất cả lại đã bắt đầu lại
và lúc này anh cho xe lăn chầm chậm trên con đường của mình
và anh không còn nhận ra nó nữa
và nó cũng chẳng còn nhận ra anh
và khốn cùng đứng sắp hàng chờ trước những cánh cửa của bất hạnh
trước những cánh cửa của chán chường
và con đường lúc này thật trống trải và buồn bã
bị bỏ rơi như cái lon sữa cũ
và nó nín thinh.
Tội nghiệp con đường lúc này không còn thiết cũng chẳng còn biết nói gì nữa
tội nghiệp con đường lúc này lỡ cỡ và thiếu ăn
người ta đã lấy lại miếng bánh ở cửa miệng mi
người ta đã giật mất những buồng trứng của mi
người ta đã giành mất của mi những lợi quyền
người ta đã nhét trả lại họng mi những khúc ca
người ta đã đoạt mất nét vui tươi của mi
và hạt kim cương tiếng cười của mi đã đánh gẫy hàm răng
trên bức màn sắt của đần độn chó má và hận thù
và những đứa trẻ của khu phố không còn bước ra khỏi tiệm bánh mì tươi cười ăn những mẩu bánh cắt thêm cho đủ ký
ở Trung tâm bán thực phẩm những trái cam ruột đỏ
những mặt trời nho nhỏ của Valence
không còn lăn trên những dĩa cân
trong những giỏ lưới của các bà nội trợ
bỏ rơi trên hè phố
lớp áo giấy bọc ngoài xinh xinh
với hình những chàng đấu bò và những cô nàng vấn xì-gà xinh đẹp
in đủ mọi màu
và rồi những cái tên của những thành phố xa lạ
để khiến khách lạ xa phải mộng mơ.
Và mi trái chanh vàng
mi như ông chúa ngự giữa đám sò huyết màu lá cây xanh
mi đã từng là ngôi sao của khốn cùng
ánh sáng của bữa ăn buổi xế trưa.
Bây giờ mi ở đâu
trái chanh vàng đã tới từ các xứ khác
và ngươi mụ già lang thang bán bút chì
kẻ đã tìm thấy trong chén rượu vang đỏ trong những giấc mơ của ngươi dưới gậm cầu
những mẩu chuyện phiếm ly kỳ những câu chuyện về một thế giới khác
những điều phi thường không tên
lúc này ngươi ở đâu
bút chì của ngươi ở đâu...
Và các người những phụ nữ bán chui
đâu rồi những sợi dây những củ hành của các người
đâu rồi miếng giấy lơ quần áo
đâu rồi những cây kim cuộn chỉ và những chiếc kim băng.
Và các người những cô hàng rau bán rong *
lúc này các người vẫn còn đó cố nhiên
nhưng con tim không còn ở đó nữa
con tim của khu phố này
con tim của những huyết mạch này
con tim của đường phố này
và các người đã bán những thứ cỏ dại
và các người đã đổi thay nhiều.
Tiếng rao của các người cũng không còn cùng một nhạc điệu
trong giọng nói của các người có điều gì đó đã tan vỡ...
Và em người thiếu nữ đẹp xinh
ngày nào từng dạo bước
và từng sống
quanh quẩn gần con đường Buci
em kẻ đã lớn lên trong khung cảnh này
em kẻ đã dạo chơi mọi buổi sớm mai
với con chó của em
với ổ bánh mì của em
và rồi em đã bỏ đi
bây giờ em đã trở lại
cả em nữa em cũng không còn nhận ra con đường của em.
Con đường ngày trước em đã bước đi mỗi sáng Chúa nhật
với con chó của em
rồi ổ bánh mì của em
lúc ấy em mới vừa thức dậy
đôi mắt mở to
và lấp lánh
và em xuất hiện lõa lồ dưới lớp áo mỏng
và em mỉm cười
sung sướng vì thiên hạ nhìn em
và được nhìn ngắm
đoán biết thèm muốn
được tất cả con đường của em đưa mắt vuốt ve
con đường Buci của em
con đường lúc ấy cau mày
con đường lúc ấy nhún vai
con đường lúc ấy làm ra vẻ kẻ đang giận dữ
và đưa tay chỉ trỏ em
và mắng nhiếc em đủ điều
Thật là chuyện ô nhục
con gái ngần ấy tuổi đầu
có ai từng thấy chuyện như vậy chưa...
và đã nói tới chuyện mách cha em
con đường Buci của em
con đường lúc ấy đã giả bộ phẫn nộ
con đường lúc ấy đã giận dữ
nhưng thật ra
đã lấy làm sung sướng và hãnh diện
về vẻ đẹp lộng lẫy của em
về nét thanh xuân khiêu gợi của em
về cảnh nghèo khó tuyệt vời của em
về tự do tuyệt vời của em.
 
------------------------------
* Nguyên tác: «Et vous filles de quatre saisons» (Và các người những thiếu nữ của tứ thời). (người dịch)
 
 

THẦN VINH QUANG

 
Đầu chụp miện gai
Gót đầy móc sắt
Trần truồng dưới lớp áo khoác lông chồn
Người đàn bà có râu bước vào khách thính
Ta là sự cao cả của tâm hồn
Ta dậy cách luyện giọng diễn tả
Dậy cách thuyết giảng đạo pháp cách cà nhắc cách tiên đoán cách nguyền rủa cách bách hại cách làm toán pháp trừ cách làm toán pháp nhân cách ban phép lành cách đóng đinh thập giá cách lên mặt dạy đời phong hóa đạo đức cách cổ võ động viên cách biện biệt cách cắt bỏ hủy hoại cách tự hủy diệt và cách noi gương lành gương phúc của Đức chúa Giê-su Chúa chúng tôi với đầy đủ chương trình cuộc vui buổi tối cùng ảnh chụp hết thảy các nhân vật lớn đã sắm một vai trong tuồng lại tặng thêm bí quyết của loài tườu * xuất bản dưới quyền điều khiển tối cao của một nhà đười-ươi-nhân-thú-học danh tiếng quốc gia
Và còn cẩm nang của người quân nhân hữu cấp lý tưởng
Bộ Kama Sutra đã được san lược loại bỏ các phần trái đạo lý
Và bản liệt kê đầy đủ chính thức
Của mọi lô vô thừa nhận
Lại còn một cuốn sách bổn dạy cách bền lòng nhẫn nhục
Mười hai chai nước suối
Có đồ khui đặc biệt xinh xắn
Để khui.
 
---------------------------
* «la clef des singes», có lẽ cố tình nói trại «clef des songes» (bí quyết giải mộng). Đoạn này trong nguyên tác còn nhiều từ tận «-tion», có lẽ để nhái lại giọng điệu của một loại sách thời trước. (người dịch)
 
 

CHỚ NÊN

 
Chớ nên để các nhà trí thức đùa giỡn với
diêm quẹt
Là vì thưa quý vị một khi ta để nó tự mình
Cái thế giới tinh thần dạ thưa quý vị
Nó là chẳng vẻ vang chút nào
Và ngay khi được tự mình
Nó tự quyền ra công lập tức
Kiến tạo cho chính bản thân
Và một cách gọi là thật cao cả để vinh danh dân lao
động xây cất
Một tượng đài tự tôn
Nào dạ thưa quý vị chúng ta hãy cùng nhau lặp lại
Khi ta để nó tự mình
Cái thế giới đầu óc *
Nói dóc
Quỉ khốc thần sầu.
 
--------------------------------
* Chơi chữ của Prévert: «Le monde mental / Ment / Monumentalement».(người dịch)
 
 

CHUYỆN TRÒ

 
Ví đựng tiền:
Ta hữu ích không thể chối cãi được chuyện đã rành rành
Giá đựng dù:
Đồng ý tuy nhiên phải nhìn nhận
Rằng nếu như ta chưa có thời cũng cần phải sáng chế ra ta
Kẻ vác cờ:
Còn ta ta miễn bình luận
Ta khiêm tốn và kín miệng
Vả lại ta cũng chẳng được quyền nói năng
Vật mang lấy hên:
Ta ta mang hạnh phúc tới bởi đó là nghề của ta
Ba thứ kia (lắc đầu):
Rõ là đầu với óc!
 
 

OSIRIS HAY LÀ TRỐN SANG AI-CẬP

 
Vào lúc chiến tranh giữa mùa hè
Mùa hè đã tới mà vẫn còn chiến tranh
Và thành phố bị cô lập đìu hiu
Vẫn mỉm cười mỉm cười
Vẫn gượng cười
Bằng ánh mắt dịu êm của mùa hè
Mỉm cười hiền hòa với những người yêu nhau
Vào lúc chiến tranh và giữa mùa hè
Một người đàn ông với một người đàn bà
Bước trong một bảo tàng viện
Ấy là những bước chân duy nhất trong viện bảo tàng hoang vắng này
Viện bảo tàng ấy là điện Louvre
Thành phố ấy là Paris
Và tất cả sự tươi mát của thế giới
Đang thiêm thiếp nằm đó
Một người gác-dan choàng dậy khi nghe tiếng những bước chân
Nhấn một cái nút rồi lại trở lại với giấc mơ
Trong lúc ấy nơi hốc đá xuất hiện
Cái kỳ quan của Ai-cập sừng sững trong ánh sáng
Pho tượng Osiris cực kỳ sống động trong thân gỗ đã chết khô
Sống động đến có thể làm chết thêm một lần nữa
Tất cả những ngẫu tượng đã chết trong các giáo đường ở Paris
Và đôi tình nhân ôm nhau hôn
Osiris làm lễ thành hôn cho họ
Rồi lui về vùng bóng
Trong đêm tối sống động của mình.
 
 

BÀI DIỄN VĂN VỀ HOÀ BÌNH

 
Về cuối một bài diễn văn cực kỳ quan trọng
nhà đại chính khách vấp phải
một câu nói văn hoa rỗng tuếch
rớt vô trong
và cùng đường há hốc miệng
hổn hển
nhe răng lợi
và cái răng sâu lý luận hòa bình của ông
phơi bày sợi thần kinh động lực chiến tranh:
vấn đề tiền bạc thật tế nhị.
 
 

KIỂM SOÁT VIÊN

 
Thôi nào thôi nào
Lẹ lên chứ
Thôi nào thôi nào
Kìa lẹ lên chứ
Hành khách quá nhiều
Quá nhiều
Lẹ lên lẹ lên chứ
Còn bao người đang xếp hàng chờ
Đâu cũng có người
Nhiều quá
Trên sân ga
Hay trong các hành lang bụng mẹ
Thôi nào thôi nào lẹ lên chứ
Lẩy cò cho lẹ
Mọi người đều có quyền sống
Bởi thế hãy bắn giết nhau chút đỉnh
Thôi nào thôi nào
Kìa
Nghiêm chỉnh chút coi
Nhường chỗ đi
Các người dư biết là mình không thể ở lại đó
Quá lâu
Phải dành chỗ cho hết mọi người
Đi một vòng ngắn thôi đã bảo rồi
Đi một vòng ngắn quanh thế giới
Đi một vòng ngắn trong cõi đời
Đi một vòng ngăn ngắn rồi thôi
Nào thôi nào
Lẹ lẹ lên chứ
Lịch sự chút đi
Đừng chen lấn.
 
 

CHÀO CHIM

 
Ta chào mi
con cà cưỡng một màu đen hạt huyền[1]
mà ta quen biết đã từ xưa
con chim của những nàng tiên
con chim của lửa con chim của những đường phố
con chim của phu khuân vác của trẻ thơ của những người điên
Ta chào mi
con chim ngộ nghĩnh
con chim cười cợt
và ta bừng cháy
để nghênh tiếp mi
và ta lụi tàn
trên bậc thềm tòa thị sảnh
tại công trường Saint-Sulpice
ở Paris
nơi mi đã lướt qua thật mau
khi ta còn nhỏ
tiếng mi cười vang trong gió lá
Ta chào mi
con chim ngộ nghĩnh
con chim thật hạnh phúc và thật đẹp xinh
con chim tự do
con chim bình đẳng
con chim huynh đệ
con chim của hạnh phúc tự nhiên
Ta chào mi và ta nhớ lại
những giờ phút tươi đẹp nhất
Ta chào mi con chim của dịu dàng âu yếm
con chim của những vuốt ve mơn trớn đầu tiên
và ta sẽ chẳng bao giờ quên được tiếng mi cười
khi mi đậu chon von trên đỉnh tháp
con chim tuyệt vời của hài hước
nháy nhó
và dang cánh chỉ trỏ
lũ chim quang quác giọng đạo đức
lũ sếu lêu nghêu tội nghiệp rất người
và cũng rất vô nhân
bầy quạ xanh rờn của Saint-Sulpice[2]
lũ chim thê lương của địa ngục
lũ chim thê lương của thiên đường
nhảy nhót quanh tòa nhà
mà chẳng thấy núp nơi những dàn giáo
người con gái đang hé mở lớp áo ngoài che ngực
trước mặt chàng trai choáng ngợp vì tình ái
Ta chào mi
con chim của những kẻ lười biếng
con chim của những đứa trẻ si tình
Ta chào mi
con chim cường tráng
con chim của thị thành
Ta chào mi
con chim của những điều không thể có
con chim của vòng đai[3]
con chim của Hòn-Cuội-Lớn[4]
con chim của Những Cánh-Đồng-Nhỏ
con chim của khu chợ Les Halles của Những-Kẻ-Vô-Tội
Ta chào mi
con chim của Những-Áo-Choàng-Trắng
con chim của Ông-Vua-Xứ-Sicile
con chim của những căn buồng dưới mặt đất
con chim của những người vét cống rãnh
con chim của những kẻ bán than và những người lượm giẻ rách
con chim của thợ làm nón kết trên đường Những-Khóm-Hồng
Ta chào mi
con chim của những sự thật ban đầu
con chim của những lời ước hẹn
con chim của những điều bí ẩn được giữ kỹ
Ta chào mi
con chim của vỉa hè
con chim của những người vô sản
con chim của ngày Một tháng Năm
Ta chào mi
con chim dân sự
con chim của ngành xây cất
con chim của những lò cao luyện gang và của những con người thật sống động
Ta chào mi
con chim của những chị giúp việc trong nhà
con chim của những hình nhân bằng tuyết
con chim của mặt trời mùa đông
con chim của Trẻ em được Cứu trợ
con chim của những hàng hoa ở ven sông và của những người hớt lông chó
Ta chào mi
con chim của dân bô-hê-miên
con chim của những chàng vô tích sự
con chim của tàu điện trên không
Ta chào mi
con chim của những trò chơi chữ
con chim của những trò táy máy tay chân
con chim của những trò hạ tiện bình dân[5]
Ta chào mi
con chim của lạc thú bị cấm đoán
con chim của những kẻ bất hạnh con chim của những người đói rách
con chim của những cô gái chửa hoang và của những khu vườn công cộng
con chim của những cuộc tình giây lát và của những cô gái chơi
Ta chào mi
con chim của lính về phép
con chim của những kẻ bất tuân lệnh nhập ngũ
con chim của khe rãnh con chim của những căn nhà ổ chuột
Ta chào mi
con chim của các bệnh viện
con chim của Xưởng chế hỏa tiêu
con chim của nhà Hộ sinh
con chim của những kẻ sống lang thang đầu đường xó chợ
con chim của khốn cùng
con chim của ánh đèn bị cắt
Ta chào mi
con Phụng hoàng mạnh mẽ
và ta tôn xưng mi
Tổng thống nước cộng hòa thực sự của loài chim
và ta tặng trước mi
mẩu tàn thuốc đời ta
để mi có thể tái sinh
sau khi ta chết
từ đám tro của một kẻ đã từng là bạn mi.
 
--------------------------
1. Tạm dịch: «geai d'eau d'un noir de jais». Trong tiếng Pháp, ba chữ «geai» (một giống chim), «jais» (hạt huyền) và «jet» (d'eau: tia nước) đều có chung một nguyên âm. Bởi thế, nếu không nhìn mặt chữ và nghe đọc câu trên, người ta có thể hiểu: «tia nước một màu đen hạt huyền» hoặc «tia nước một màu đen cà cưỡng (!)»...
2. Một nơi đào tạo các cố đạo.
3. Hay vùng ngoại vi (la périphérie).
4. Tên các khu vực được phiên dịch: Gros-Caillou (Hòn-Cuội-Lớn), Petits-Champs (Những-Cánh-Đồng-Nhỏ), Innocents (Những-Kẻ-Vô-Tội), Blancs-Manteaux (Những-Áo-Choàng-Trắng), Roi-de-Sicile (Ông-Vua-Xứ-Sicile).
5. Kiểu nói «jeux de mains, jeux de vilains» («Những trò 'táy máy' tay chân, những trò hạ tiện bình dân» – hiểu theo nghĩa ngày nay) đã có từ thời Trung Cổ, theo một nghĩa hơi khác! (người dịch)
 
 

UỔNG LẮM

 
Tới trước cổng nhà máy
người thợ bỗng dừng lại
nắng mới đã níu áo anh ta
và trong lúc anh ta ngoái cổ
nhìn mặt trời
tròn vo đỏ ối
mỉm cười trên nền trời xám
anh ta bèn nheo mắt nháy nhó
thân mật
Này đồng chí Mặt trời
một ngày như hôm nay
mà để cho chủ nhân
thì bọn mình ngu quá
phải không ạ?
 
 

VẬT LỘN VỚI THIÊN THẦN

 
                                               Tặng J.-B. Brunius
 
Mi đừng tham dự
mọi sự đã được mưu tính trước cả rồi
cuộc tỉ thí chỉ là trò giả mạo
và khi hắn xuất hiện trên võ đài
vây bọc bằng những ánh đèn chớp nhoáng
chúng sẽ gào lên bài Tạ ơn Thượng đế
và ngay cả trước khi mi từ chỗ ngồi trỗi dậy
chúng đã dội chuông inh ỏi cho mi
chúng đã ném vào mặt mi miếng bọt biển thánh thiêng
và mi chưa kịp phi vô bộ lông trên người hắn
chúng đã chồm lên người mi
và hắn đã hạ mi một đòn dưới thắt lưng
và mi đã nằm đo ván
hai tay đần độn dang ra như thập giá
trong lớp mạt cưa
và không bao giờ mi còn làm tình được nữa.
 
 

CÔNG TRƯỜNG CARROUSEL

 
Công trường Carrousel
vào cuối một ngày đẹp trời mùa hạ
máu một con ngựa
bị tai nạn và không còn cột thắng
tuôn xối xả
trên đường
Và con ngựa đứng đó
bất động
trên ba chân
Và chân kia bị thương
bị thương bị tiện đứt
đeo lủng lẳng
Ngay bên cạnh
cũng đứng
bất động
còn có người đánh xe
và cỗ xe cỗ xe cũng bất động
vô dụng như một cái đồng hồ gẫy
Và con ngựa lặng thinh
con ngựa không than
con ngựa không hí
nó đứng đó
nó chờ đợi
và nó thật đẹp thật buồn thật giản dị
và thật hợp lý
khiến không sao cầm được nước mắt.
 
Ôi
những khu vườn không còn
những bể nước đã quên
những đồng cỏ xanh đầy nắng ấm
ôi đớn đau
nét huy hoàng và sự huyền bí của nghịch cảnh
máu và những tia sáng còn le lói
vẻ đẹp bị tàn hại rẻ chê
tình Huynh đệ.
 
 

CUỘC ĐI DẠO CỦA PICASSO

 
Trên một cái dĩa tròn vành vạnh bằng sứ thật
một trái táo đứng làm kiểu mẫu
Đối diện với nó
là một họa sĩ vẽ cảnh thực
đang hoài công cố vẽ
trái táo nguyên như thế
nhưng
nó không để mặc cho ông vẽ
trái táo
nó có ý kiến riêng của nó
và nhiều trò trong cái túi đựng táo
trái táo
và kìa nó xoay
trong cái dĩa thật
thật kín đáo trên mình nó
thật nhẹ nhàng không động đậy
và như một ông công tước de Guise trá hình thành một ngọn đèn khí[1]
vì người ta muốn họa chân dung ông trái với ý ông
trái táo trá hình thành một trái cây xinh đẹp cải trang
và đúng lúc đó
thì người họa sĩ vẽ cảnh thực
bắt đầu nhận ra
mọi dáng vẻ bên ngoài của trái táo đều nghịch lại ông
như một kẻ bần cùng khốn khổ
như một kẻ túng quẫn đáng thương đột nhiên thấy mình tùy thuộc bất cứ một thứ hội từ thiện bác ái đáng ngại nào thật từ thiện bác ái và đáng ngại
người họa sĩ khốn khổ vẽ cảnh thực
đột nhiên thấy mình lúc đó là miếng mồi ngon đáng buồn
của một đám vô số những liên tưởng
Và trái táo khi xoay đã gợi ra cây táo
vườn Địa đàng và E-và rồi A-đam
một cái bình tưới nước một cái dàn cây leo Parmentier một cái cầu thang
táo Canada Hespérides Normandie táo Reinette và táo Api
con rắn của Jeu de Paume lời thề của Jus de Pomme[2]
và tội tổ tông
và ngọn nguồn của nghệ thuật
và Thụy Sĩ với Guillaume Tell
và cả đến Isaac Newton
đã nhiều lần lãnh giải tại cuộc Triển lãm Hấp dẫn lực của vạn vật
và người họa sĩ lẫn lộn quên mất vật kiểu mẫu
thiếp đi
Đúng lúc ấy thì Picasso
đi qua đó như ông vẫn đi qua khắp mọi nơi
mỗi ngày như ở nhà
chợt thấy trái táo và cái dĩa và người họa sĩ đang thiêm thiếp
Kỳ cục ai lại đi vẽ một trái táo
Picasso nói
và Picasso xơi trái táo
và trái táo nói với ông Cám ơn
và Picasso đập bể cái dĩa
rồi tươi cười bỏ đi
và người họa sị bị giựt đứt khỏi mộng mị
như một cái răng
còn lại có một mình trước bức tranh dang dở
cùng với giữa đống dĩa bể
những hột táo khủng khiếp của thực tại.
 
--------------------------------
1. «et comme un duc de Guise qui se déguise en bec de gaz».
Chơi chữ: duc de Guise / bec de gaz; duc de Guise.. se déguise...
De Guise không phải là một cái tên tưởng tượng: dòng họ này có tới năm ông .. de Guise, người công tước kẻ hồng y, đã để lại vết tích trong lịch sử Pháp ở thế kỷ 16, đa số đều chết vì bị ám sát! Người được ám chỉ trong bài là ông công tước de Guise đã bị Henri III cho ám sát vào năm 1588.
2. «le serpent du Jeu de Paume le serment du Jus de Pomme».
Chơi chữ bằng cách đảo các cụm chữ «le serpent..» / «le serment..» Người Pháp thường nói «le serment du Jeu de Paume» («lời thề ở Phòng chơi Jeu de Paume»). Jeu de paume là một lối chơi đánh cầu bằng tay đã có từ nhiều thế kỷ trước ở Pháp, rất được quần chúng hâm mộ. Năm 1789 các nghị viên không thuộc giới quý tộc hoặc giới tăng lữ, không mượn được phòng họp chính thức đã kéo tới một nơi chơi jeu de paume ở Versailles, thề «không rời nhau» cho đến khi nào một Hiến pháp được thành lập. «Le serpent» (con rắn) thường «đi với» trái táo như chuyện trong Thánh kinh...
Chơi chữ: Jeu de Paume / Jus de Pomme (nước táo ép). (người dịch)
 
 

CÂY ĐÈN MA* CỦA PICASSO

 
Mọi con mắt của một người đàn bà trên cùng một bức tranh
Nét mặt của người yêu bị định mệnh truy nã dưới đóa hoa bất động của một lớp giấy dán tường ghê rợn
Sợi cỏ trắng của sát nhân trong một khu rừng những ghế dựa
Một người hành khất bằng bìa bị banh thây trên một mặt bàn cẩm thạch
Tro một điếu xì-gà trên một sân ga
Chân dung của một chân dung
Huyền nhiệm một đứa trẻ
Vẻ lộng lẫy không thể chối cãi của một trạn chén dĩa
Nét đẹp tức thời của một mảnh giẻ rách trong gió
Sự kinh hoàng tới rồ dại đối với cạm bẫy trong một ánh mắt chim
Tiếng hí thật phi lý của một con ngựa đã bị xé xác
Nhạc không thể có của những thân la với thắng nhạc
Con bò mộng bị hạ sát được khoác lên đầu những chiếc nón như những tràng hoa
Chiếc giò luôn luôn thay đổi của một người con gái tóc hung đang thiêm thiếp và vành tai rất lớn của những mối băn khoăn nhỏ nhặt nhất của nàng
Chuyển động hằng cửu được chận giữ lại bằng tay
Pho tượng đá ngất trời của một hạt muối biển
Niềm vui mỗi ngày cái chết không có gì chắc chắn và lưỡi thép của ái tình xoáy sâu nơi thương tích một nụ cười
Vì sao xa xăm nhất của con chó mọn hèn nhất
Vị dịu ngọt của bánh mì trở thành muối mặn trên một tấm kính cửa hàng
Con đường may mắn trên bàn tay mất rồi lại thấy[1] gẫy rồi lại liền lại được điểm tô bằng những mụn xanh của tất yếu
Sự xuất hiện làm chếnh choáng của một trái nho Málaga trên một ổ bánh cơm ngọt[2]
Một người đàn ông trong cái quán cóc đập chết nỗi sầu xứ bằng những hớp rượu chát đỏ
Và ánh sáng chói lòa của một mớ đèn sáp
Một khung cửa sổ hướng về biển mở ra như một con hàu
Một cái móng ngựa một cái chân không của cây dù
Nét yêu kiều duyên dáng vô song của một con chim cu lẻ loi trong một ngôi nhà giá buốt lắm
Quả lắc đã ngừng của một chiếc đồng hồ treo và những phút giây rảnh rỗi của nó
Mặt trời mộng du giữa đêm khuya lay tỉnh Người Đẹp mơ màng choàng dậy và đột nhiên bị chói lòa khoác vội lên vai tấm khung[3] lò sưởi và cuốn theo tấm áo khoác này vào màn khói đen đeo mặt nạ màu trắng muốt và vận hàng giấy dán
Và biết bao điều khác nữa
Một cây đàn ghi-ta bằng gỗ còn tươi ru tuổi thơ của nghệ thuật
Một tấm vé xe lửa cùng với đống hành trang
Bàn tay làm lạc hướng một khuôn mặt đang soi mói nhìn tận mặt một cảnh trí[4]
Con sóc mơn man của một thiếu nữ còn tân và lõa thể
Rạng rỡ tươi cười hạnh phúc và lẳng lơ
Bất ngờ xuất hiện từ một cái giá để chai hay một cái giá để nhạc như một nơi máng những thứ cây cảnh xanh tươi sinh động đầy tính dục
Nàng cũng bất ngờ xuất hiện từ thân hình rã mục
Của một cây dừa rất nghiêm túc gợi nhớ một thủa nào xưa xa đến thật nản đẹp như món đồ cổ
Và những lồng chụp dưa gang buổi mai bị tiếng rao một tờ vãn báo làm vỡ tan
Đôi càng cua ghê rợn ló ra từ bên dưới một cái thúng
Đóa hoa cuối cùng của một gốc cây với hai giọt nước của kẻ bị kêu án
Và cô dâu quá đẹp đơn độc và bị bỏ rơi trên chiếc đi-văng đỏ thẫm của ghen tuông vì nỗi kinh hoàng tái mét của những người chồng đầu
Và rồi trong một khu vườn mùa đông trên lưng một chiếc ngai một con mèo cái đương cơn kích động
và lớp râu mép lông đuôi của nó ngay dưới những cánh mũi của một ông vua
Mầu vôi sống của ánh mắt trên khuôn mặt đá của một bà già ngồi bên một cái rổ bằng mây
Và co quắp trên lớp sơn đỏ chống rỉ sét còn mới của hàng lan can một ngọn hải đăng trắng toát là hai bàn tay xanh ngắt vì lạnh của một vai Hề lang thang[5] đang nhìn biển và bầy ngựa lớn của biển còn thiêm thiếp trong ánh tà huy rồi giật mình choàng dậy mũi sùi bọt mắt tỏa lân quang hốt hoảng vì tia đèn rọi và những ánh đèn pha xoay vòng vòng khủng khiếp
Và con sơn ca chiên ròn trong miệng một người hành khất
Một thiếu phụ khùng điên tật nguyền nơi một vườn hoa công cộng đang mỉm một nụ cười rách tươm máy móc ru trên tay một đứa bé hôn mê trong lúc đưa bàn chân không nhớp nhúa vạch trong bụi đất hình thù dáng dấp đã thất lạc của người cha và chìa đứa con sơ sinh quấn trong giẻ rách cho người qua lại coi Này nhìn thằng cu xinh này nhìn cái hĩm đẹp ông bà cô bác ơi cái kỳ quan của mọi kỳ quan đứa con hoang của tui đây một bên là nam một bên là nữ sáng sáng thằng cu khóc nhưng chiều chiều tui nựng cái đĩ nhỏ tôi tưng tiu dỗ dành chúng vặn tinh thần chúng lên như vặn giây cót đồng hồ
Và cả người gác công viên cũng thẫn thờ mê hoặc vì buổi hoàng hôn
Đời sống một con nhện lơ lửng trên sợi tơ
Sự mất ngủ của một con búp bê mà con lắc đã gẫy và đôi mắt ve chai lúc nào cũng mở thao láo
Cái chết của một con ngựa trắng tuổi thơ một con sẻ
Cánh cổng một ngôi trường trên đường Cầu-Lodi
Và Các-ông-thày-dòng-Âu-chiêm-tinh bị xuyên cọc trên hàng rào sắt một ngôi nhà trong một con đường nhỏ mà họ mang tên[6]
Tất cả các ngư phủ ở Antibes vây quanh một con cá độc nhất[1]
Bạo lực của một trái trứng nỗi khốn cùng của một anh lính
Sự có mặt ám ảnh hoài của một chiếc chìa khóa dấu dưới tấm nệm chùi chân
Và đường nhắm súng và đường chết chóc trên bàn tay độc đoán mập mạp của một thứ giả người phì nộn mê sảng ngụy trang thật kỹ lưỡng sau những ngọn cờ mẫu mực và những cây thánh giá chữ thập ngoặc rủ là và treo mắc ngoạn mục trên hàng bao lơn tang tóc lớn của nhà bảo tàng những khủng khiếp và vinh dự của chiến tranh ngụy trang cái pho tượng sống lố bịch chân ngắn mình dài nhưng bất kể cái nụ cười hiền hậu của một Tướng quân[7] cao cả đại lượng vẫn không sao che đậy nổi những dấu hiệu tồi tệ vô phương cứu vãn của lo sợ chán chường của oán thù và ngu đần chó má khắc sâu trên cái mặt nạ thịt da tái mét màu ác thú như những nét vẽ bậy bạ tục tĩu của chứng cuồng vinh mà những tên quen nghề tra tấn ác độc thảm hại của trật tự mới khắc ghi trong những cầu tiểu của đêm đen
Và sau lưng hắn nơi vùi hài cốt của một chiếc va-li ngoại giao hé mở là cái thây ma thật giản dị của một nông dân nghèo khổ bị những con người toàn hảo của bạc tiền hãm hại ngay trên cánh đồng của mình bằng những thoi vàng
Và kế bên trên một cái bàn là một trái lựu đạn mở tung với trọn một thành phố ở bên trong
Và tất cả nỗi đớn đau của thành phố bị san bằng và không còn lấy một giọt máu ấy
Và toàn đội bảo an nhảy nhót vui mừng khắp chung quanh một cái cáng
Nơi còn mơ mộng một người gi-tan đã chết
Và tất cả sự phẫn nộ của một dân tộc đa tình cần cù vô tư và dễ thương chợt nổ bùng ra đột ngột như tiếng rú đỏ ối của một con gà trống bị cắt tiếng trước mắt mọi người
Cái hình ảnh bao gồm mọi màu sắc của những kẻ có đồng lương thấp kém vụt hiện ra đẫm máu từ tạng phủ máu me của một căn nhà lao động thợ thuyền giang thẳng tới trước mặt tia sáng thảm thương của khốn cùng ngọn đèn đẫm máu của Guernica[1] và chợt khám phá ra giữa cái thanh thiên bạch nhật của ánh sáng sống sượng và đích thực của mình những sắc màu giả tạo hãi hùng của một thế giới đã phai mờ mòn mỏi tới xơ tưa cạn rỗng tới tận xương tủy
Của một thế giới chết đứng
Của một thế giới vô phương cứu chữa
Và đã bị quên lãng
Đã chìm đắm đã hóa thành tro than với muôn vàn ánh lửa của dòng thác dân gian trôi chảy
Nơi dòng máu dân gian trôi chảy không mỏi mệt
Không khô cạn
Trong các động mạch và tĩnh mạch của trái đất và trong các động mạch và tĩnh mạch của những đứa con đích thực của trái đất
Và khuôn mặt của bất cứ đứa con nào của trái đất với nét vẽ đơn sơ trên một tờ giấy trắng
Khuôn mặt của André Breton khuôn mặt của Paul Éluard
Khuôn mặt của một người đánh xe bò thoáng thấy ngoài đường phố
Tia nháy mắt của một người bán hoa cỏ lặt vặt[8]
Nụ cười mở rộng của một nhà điêu khắc những trái lật[9]
Và tạc bằng thạch cao một con cừu bằng thạch cao lông xoắn be he về chân lý trong tay một gã chăn cừu bằng thạch cao đứng bên một cái bàn ủi
Kế bên một hộp xì-gà trống không
Kế bên một cây viết chì bỏ quên
Kế bên cuốn Biến hình của Ovide[10]
Kế bên một sợi dây giầy
Kế bên một chiếc ghế bành cụt chân vì năm tháng mỏi mòn
Kế bên một cái nắm cửa
Kế bên một bức tranh tĩnh vật nơi những giấc mơ thời thơ ấu của một chị giúp việc trong nhà ngất ngư trên mặt đá lạnh của một bồn rửa chén dĩa như những con cá đuối hơi dẫy chết trên những hòn cuội nóng bỏng
Và căn nhà bị lay chuyển cùng khắp vì những tiếng kêu cá chết thảm thương của chị giúp việc trong nhà bỗng dưng tuyệt vọng bị đắm tàu được những lượn sóng ngầm của sàn gỗ nâng lên và tấp vô bờ sông Seine thật thảm hại nơi những khu vườn Vert-Galant[1]
Và ở đó cùng đường chị ngồi trên chiếc ghế dài
Và chị tính sổ
Và chị không cảm thấy mình hoàn toàn tan rã vì những kỷ niệm và cháy túi
Chị chỉ còn lại một gian nhà một buồng ngủ
Và khi chị tính lấy nó ra chơi trò sấp ngửa với hy vọng hão huyền giành được thêm chút ngày giờ
Thì một cơn giông tố lớn bùng ra trong chiếc gương soi ba mặt
Với tất cả những ngọn lửa của niềm vui sống
Tất cả những lằng chớp của hơi ấm thú vật
Tất cả những tia sáng còn le lói của phút yêu đời
Và ban cho căn nhà rối rắm phát súng ân huệ
Phóng hỏa đốt những bức màn trong buồng ngủ
Và lăn đống chăn mền xuống chân giường thành trái cầu lửa
Mỉm cười phát hiện trước toàn thế giới
Cái trò chơi nát óc của ái tình với tất cả những mảnh chắp nối
Tất cả những mẩu tuyển lựa của nó do Picasso tuyển lựa
Một gã tình nhân cô nhân tình của gã và đôi chân nàng quàng lấy cổ gã
Và tia mắt đặt trên mông hai tay hầu như ở cùng khắp
Chân đưa lên trời và đôi vú lật úp
Hai thân xác quấn quít đổi trao mơn trớn
Ái tình bị chặt đầu được giải thoát hân hoan
Cái đầu bị bỏ rơi lăn trên thảm
Những ý niệm bị lơ là quên lãng lạc lõng
Được niềm vui và lạc thú biến thành vô hại
Những ý niệm giận dữ bị ái tình đầy màu sắc diễu cợt
Những ý niệm lẩn tránh và sững sờ như lũ chuột thảm thương của chết chóc cảm thấy cơn chìm đắm Ái tình đảo lộn tất cả đang tới
Những ý niệm được trả về vị trí của mình ở trước cửa căn buồng kế bên ổ bánh mì kế bên đôi giầy
Những ý niệm bị nung chín vụt biến vụt tan sạch hết mùi lý tưởng
Những ý niệm hóa đá trước sự lãnh đạm tuyệt vời của một thế giới đắm say
Của một thế giới tìm lại được
Của một thế giới không còn phải tranh cãi không cần phải giải thích
Của một thế giới không biết phép xã giao nhưng tràn ngập niềm vui sống
Của một thế giới điều độ và say
Của một thế giới ảm đạm và vui vẻ
Dịu hiền và ác độc
Thực và siêu thực
Khủng khiếp và buồn cười
Thuộc về đêm và ngày
Thường và khác thường
Tuyệt đẹp.
                                                                             1944
 
---------------------------------
* Đèn ma (lanterne magique): dụng cụ quang học dùng để chiếu lên màn ảnh hình ảnh khuếch đại của những hình thù vẽ trên kính; nhờ cách vận dụng ánh sáng, những hình ảnh không hồn trở thành sống động... Dụng cụ này được cải thiện đã khai sinh ra «đèn rọi ảnh» (lanternes à projections). Hình ảnh này có lẽ để lưu ý tới cách vận dụng «ánh sáng» trong tác phẩm của Picasso.
 
1. Một bức tranh của Picasso.
2. Málaga: một hải cảng ở Tây-ban-nha, nổi tiếng về nho và rượu nho, sinh quán của Pablo Picasso; «bánh cơm ngọt»: tạm dịch «gâteau de riz», một thứ bánh ngọt nấu bằng gạo, sữa, đường, có thể thêm nho khô, khi chín được đổ vào khuôn. Bánh này các bà nội trợ Pháp ưa đổ vào một thứ khuôn có lỗ hổng ở giữa, làm thành một thứ «vòng hoa» nhỏ.
3. Chữ «manteau» ở đây vừa có nghĩa phần che ở phía trên (lò sưởi) vừa có nghĩa tấm áo khoác...
4. Chơi chữ: «La main qui dépayse un visage qui dévisage un paysage».
5. «...d'un Arlequin errant...» Arlequin: một vai hề bắt chước Arlequin, nhân vật của hài kịch Ý – đã «lang thang» từ thế kỷ XVII trên khắp các sân khấu Âu châu –  thường mang một bộ y phục ghép bằng những mảnh vải nhỏ hình tam giác (các mảnh này lại ghép thành những mảnh hình thoi), một mặt nạ đen và một cây kiếm gỗ ở thắt lưng, cây kiếm này về sau ít thấy.
6. «Et les Grands-Augustins...»: gợi lại Quai des Grands-Augustins ở Paris, nơi Picasso từng có một xưởng vẽ. Thay vì «mang tên họ», tác giả nói ngược lại.
7. «Caudillo»: danh xưng quen thuộc của nhà độc tài Franco.
8. «...un marchand de mouron»
mouron: «cây phiền lộ» (từ điển Thanh Nghị, Sudasie in lại); «cây phiền tộ» (Từ điển Pháp Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà-nội, 1992). Từ điển sau còn ghi «mouron d'eau: cây rau thủy» và «mouron des oiseaux: cây tràng sao».
9. «...un sculpteur de marrons»
marrons: «trái lật / quả dẻ tây» (Thanh-Nghị). Trái ăn được, thường thấy «nướng» và bán ngoài đường mùa đông.
10. Đây là một cuốn sách được Picasso minh họa. (người dịch)
 
-----------
Đã đăng:

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018